THÂN TÂM MẠNH KHỎE - CACH CHỮA BỆNH MẤT QUÂN BÌNH Print

Cách chữa bệnh mất quân bình khí huyết

Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Cây ma hoàng trổ hoa, giúp trị ngoại cảm phong hàn, biểu thực, không mồ hôi, thận viêm, tim hồi hộp...

Con người là một sinh vật thở bằng phổi, cơ quan nào cũng cần tới dưỡng khí, loại thực phẩm cần thiết do nhà máy hô hấp sản xuất và cung cấp để đáp ứng nhu cầu mưu sinh.

Hệ thống tuần hoàn và hệ thống hô hấp là hai nhà máy chia sẻ trách nhiệm cung ứng dưỡng khí cho cơ thể cùng sử dụng thán khí.

Riêng hệ thống hô hấp còn trông coi việc trao đổi khí qua lại giữa máu và môi trường bên ngoài. Vấn đề luân chuyển khí giữa phổi và tế bào được xem là hoàn tất nhờ hệ thống tuần hoàn, sử dụng máu để vận chuyển chất dinh dưỡng ở dạng hóa lỏng tới các cơ quan có nhu cầu.

Như vậy phổi là một phủ chủ về khí, nhưng vì phổi mềm mại không thích hợp với những sự thay đổi từ bên ngoài như lạnh, nóng hay khô ráo kích động thành những cơn ho, đờm hay bị suyễn và khó thở. Vì vậy tà khí từ ngoài tấn công vào làm hại phế khí. Ngay lúc đó phế phải điều chỉnh để thăng hay giảm phế khí cho thích hợp. Khi phế khí thăng lên sẽ ngăn chặn những tà khí từ ngoài vào và tạo điều kiện hóa giải.

Thuốc thường dùng:

-Ma hoàng
-Tiền hồ
-Cát cánh

Còn khi làm giáng phế khí giảm ho, khó thở và tức ngực, thuốc thường dùng:

-Bán hạ
-Tử tô tử
-Hạnh nhân

Khi chọn thuốc chữa ho cần thiết là phải bất đầu với thuốc nào có tính chất cho phế khí thăng lên. Khí phải thăng lên trước và sau đó mới giáng khí sau.

Các y sư xưa nói “Phổi là thầy điều hòa khí, thận là gốc của khí.” Điều đó có nghĩa là nguồn gốc khí phát xuất từ phổi, nhưng lại chứa trong thận.

Thí dụ: Khi chúng ta ho hay khó thở, nguyên nhân do khí hậu lạnh ở bên ngoài xâm nhập, phản xạ làm khí thăng lên mà ho. Tức ngực có thể là phế khi thăng hay giảm gây ra chữa trị tùy trường hợp. Tuy nhiên khi chúng ta thở hụt hơi hay còn gọi là hít vào ngắn hơn thở ra, giọng nói yếu không phải là do lạnh từ bên ngoài vào, với điều kiện không bị sưng phổi, thường do phế khí suy gây ra bệnh. Thuốc dùng thường là bổ phế khí:

-Đản sâm
-Hoàng kỳ
-Ngũ vị tử

Còn có những trường hợp suyễn mãn tính, điều đó không phải do lạnh từ bên ngoài hay bị sưng phổi hay tim bất thường mà gây ra thở ngắn, và thở yếu. Điều này có thể liên quan tới thận nhiều hơn mà Đông Y gọi là thận bất nạp khí. Thuốc thường dùng:

-Sâm huê kỳ
-Thục địa
-Ngũ vị tử
-Bổ cốt chỉ
-Đỗ trọng

Để bổ thận và nạp khí vào thận là điều tiên quyết trị suyễn.

Cả ba trường hợp trên đòi hỏi thuốc chữa trị khác nhau. Điều cần thiết là người thầy thuốc phải biết định bệnh và phân biết rõ từng trường hợp mới mong có kết quả mong muốn.

Chữa bệnh mất quân bình máu

Sự hoạt động chính của máu là di chuyển trong toàn thân, nuôi dưỡng, bảo dưỡng và tươi nhuận nhiều thành phần trong cơ thể. Nhiệm vụ chính của máu đi, không những qua mạch máu, mà còn qua những kinh lạc. Y Khoa Đông Phương không có phân định rõ ràng giữa mạch máu và kinh lạc.

Người Trung Hoa ít khi lưu tâm tới vị trí của những tạng phủ – mà nói bao tử khí “đi lên” hay máu “di chuyển.” Người ta cũng ít khi khẳng định rõ ràng đường di chuyển của máu trong cơ thể và nơi đến. Đường di chuyển này ít quan trọng đối với chức năng của chúng.

Cái khuynh hướng chữa trị không phải là chống lại, hay dập tắt một cách quyết liệt như khi cháy, chúng ta dùng nước để dập tắt ngọn lửa mà Tây Y thường áp dụng. Theo y lý Y Khoa Đông Phương, khi quân bình lại âm dương, tùy theo, suy thì bổ, mà dư thì tả, giúp tạng phủ thụ bệnh trở lại bình thường, lúc đó tất cả những vi khuẩn, vi trùng không còn khoảng trống để nương thân mà phải tự tiêu diệt và người bệnh bình phục.

Quan niệm máu, huyết dịch chỉ là âm và khí là dương, coi cơ thể là một ông thầy thuốc hay nhất và hoàn hảo nhất để đẩy lùi mọi bệnh tật. Người thầy thuốc Đông Y chỉ có nhiệm vụ giúp đỡ những gì dư thừa thì lấy đi, hay thiếu hụt thì thêm vào để cơ thể tự điều chỉnh và đẩy lùi bệnh tật.

Nguồn gốc của máu

Nguồn gốc của máu do sự chuyển hóa của thức ăn. Sau khi bao tử nhận và tiêu hóa đồ ăn, tỳ (lá lách) phân tách và biến hóa thành chất bổ tinh khiết. Rồi tỳ khí chuyển hóa những chất này lên phổi. Trong khi chuyển hóa lên trên, cốc khí bắt đầu chuyển những chất cần thiết thành máu. Sự chuyển hóa hoàn hảo khi chất bổ tinh khiết tới phổi, nơi đây đồ ăn đã chuyển hóa phối hợp với thanh khí từ bên ngoài vào và cuối cùng tạo thành máu. Và máu được phân phối đi toàn cơ thể là nhờ vào tâm khí phối hợp với bể khí ở ngực.

Sự mất hài hòa của máu

Có hai tính chất làm mất sự hài hòa của máu: máu suy và máu bị đặc hay đông lại.

-Máu suy thường xảy ra toàn thân, đặc biệt là ngũ tạng, lục phủ và những phần trong cơ thể là do không đủ chất bổ dưỡng để nuôi máu. Khi máu suy có dấu hiệu như người xanh xao, chóng mặt, da khô, nám mặt, mất ngủ, đau nhức tứ chi, người mệt mỏi, làm việc dễ bị mệt. Khi ảnh hưởng tới lục phủ, ngũ tạng như tim chẳng hạn sẽ đưa tới hồi hộp, tim đập nhanh hơn. Ảnh hưởng tới gan sẽ gây ra mất ngủ, vì gan không đủ huyết để tàng trữ vào đêm khi chúng ta nghỉ ngơi.

-Máu bị đặc hay đông sẽ làm tắc nghẽn và không di chuyển bình thường. Khi tình trạng này xảy ra, người ta thường cảm thấy đau như dao đâm, không sao chịu nổi, đứng ngồi không yên. Sự đau nhiều hay ít tùy thuộc vào sự nghẹt.

Nếu tạng tim bị ảnh hưởng có thể đưa tới nhồi máu cơ tim, tim bị đột quỵ. Nếu bị nhẹ như đau ở phía sau lưng trên, nơi với tay chéo qua không tới, vị trí này thuộc đường đi của kinh gan, từ đốt xương sống thứ bảy đi ra. Nơi này hay bị vì chúng ta hay giận hờn, bực tức, lo nghĩ quá độ làm gan khí uất kết, không đưa được huyết di chuyển bình thường và làm nghẹt huyệt tại nơi này, bệnh nhân đôi khi cảm thấy đau như dùi đâm, đứng không ngay được, đau rất khó chịu.

Nếu chỉ bị nghẹt, sau khi châm cứu lần đầu ra là hoàn toàn trở lại bình thường. Còn trường hợp máu bị đông thì phải uống thuốc cho loãng máu. Khi máu đông cũng còn gây ra những bướu, những khối u đặc hay nước trong thận, tử cung, hoặc sưng tạng phủ như sưng gan.

HÙNG ĐÀO CHUYỂN

---------------------------------