mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7342
mod_vvisit_counterHôm Qua8122
mod_vvisit_counterTuần Này54171
mod_vvisit_counterTuần Trước72097
mod_vvisit_counterTháng Này24693
mod_vvisit_counterTháng Trước248232
mod_vvisit_counterTất cả16905065

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Sống và Chia Sẻ Lời Chúa
SỐNG VÀ CHIA SẺ LC - CN5PS-A PDF Print E-mail

Hong Nguyen

SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Chúa Nhật 5 Phục Sinh năm A

Lời Chúa : Ga 14, 1-12: THẦY LÀ ĐƯỜNG - JESUS, THE WAY.

Đây là những lời tâm sự cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi bước vào tử nạn. Những lời tràn ngập tình yêu. Sau khi Chúa thông báo cho các ông việc một môn đệ sẽ nộp Thầy và Thầy sẽ ra đi. Các ông tỏ ra bối rối và buồn phiền. Chúa biết điều đó, vì thế Ngài bảo : "Anh em đừng xao xuyến và sợ hãi".

Trong đầu của các ông rối bù nhiều câu hỏi mà chưa nói ra được. Nếu chúng ta ở trong hoàn cảnh của các môn đệ, chúng ta nghĩ sao ? Chúng ta có buồn và thắc mắc không ? Sống với Thầy mấy năm nay, được Thầy dạy dỗ, được gần gũi với Thầy, thân mật và yêu thương. Rồi đột nhiên Thầy nói Thầy sẽ ra đi, làm sao không thắc mắc ? Vì thế Chúa cho các ông biết lý do Ngài ra đi để làm gì : " Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em". Chúa dùng cách nói cụ thể để giúp cho các ông hiểu công việc của Ngài : " Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở...Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em...Rồi Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy".

Thầy đi không phải vì lợi ích của Thầy mà là vì anh em, vì lợi ích của anh em. Thầy dọn chỗ cho anh em trong nhà Cha Thầy. Dọn chỗ đây là một cách nói cụ thể cho dễ hiểu, tức là chuẩn bị cho anh em. Nhà của Cha Thầy cũng chỉ là một cách nói cụ thể, vì trong thế giới thiêng liêng, không cần một chỗ nào. Đích điểm của cuộc sống nầy là về với Chúa Cha, vì Chúa Cha mới là nguồn hạnh phúc tuyệt vời của mọi người con của Ngài. Chúa Giêsu đến trong trần gian là để dẫn chúng ta trở về quê thật của chúng ta là Chúa Cha. " Thầy đi... Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó".

Ngài không đi và bỏ anh em, nhưng ngược lại Thầy sẽ trở lại. Vì thế anh em đừng xao xuyến. Thầy đi đâu anh em đã biết đường rồi. Anh em đã nghe Thầy dạy dỗ bấy lâu nay, anh em hãy làm theo những gì Thầy đã dạy. Đó là con đường để đến với Thầy. Nhưng Tôma thắc mắc : " Chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường ?" Tôma, con người cũng bộc phát không kém Phêrô, con người không tin ai cho đến khi Chúa cho ông nhận ra Chúa. Nhờ vấn nạn đó, Chúa mạc khải thêm nhiều điều quan trọng.

Điều quan trọng thứ nhất : " Thầy là đường, là sự thật và là sự sống". Trong trời đất nầy, không ai dám tự xưng mình như thế. Chỉ có Ngài, vì Ngài là Thiên Chúa. Đường nầy dẫn chúng ta đến với Chúa Cha là nguồn sự sống và hạnh phúc. Chúng ta không có con đường nào khác. Những con đường của loài người không thể dẫn chúng ta đến hạnh phúc và thường là bế tắc, và nếu có đem lại cho chúng ta những lợi ích nào thì cũng chỉ làm tạm bợ. Chỉ có Ngài là con đường duy nhất, chắc chắn nhất để dẫn chúng ta vào hạnh phúc bất diệt. Những lời Ngài dạy, gương sống của Ngài, là đường dẫn chúng ta đến với Chúa Cha mà không lạc lối : " Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy".

Điều quan trọng thứ hai : Thầy là sự thật". Nơi Ngài không có sự gian dối, không có lầm lạc. Thầy là Ngôi Lời, đầy ân sủng và sự thật. nhờ đó chúng ta có thể thờ phượng Chúa trong tinh thần và sự thật. Ngài mạc khải cho chúng ta Chúa Cha, Cha của Ngài, là nguồn sự thật duy nhất. Chúng ta được mời gọi sống trong sự thật. Yêu thương thực tình không dối trá. Chúa còn hứa ban cho chúng ta Thần Khí sự thật. Ngài sẽ dẫn chúng ta đến sự thật vẹn toàn, là Chúa Cha.

Điều quan trọng thứ ba : "Thầy là sự sống". Cuộc sống đời nầy chỉ là tạm thời, chóng qua và tàn lụn theo ngày tháng, sự sống của Chúa là sự sống vĩnh cửu. Qua cuộc đời tạm nầy, chúng ta sẽ được cùng sống với Chúa trong vinh quang. Chúa đã toàn thắng sự chết, sự chết không còn quyền gì trên Ngài nữa. Sống trong Ngài mới là sống thật. Ngài là Bánh ban sự sống. Ăn lấy Ngài chúng ta mới thực sự là sống. Vì ai ăn bánh nầy sẽ được sống muôn đời.

Chúa Giêsu đến trong trần gian là để mạc khải Chúa Cha và qua Ngài, chúng ta đến với Chúa Cha là nguồn tình yêu và là nguồn sự sống. Chúng ta không thế thấy Chúa Cha Ngài mới là hiện thân của Chúa Cha vô hình. Vì thế, Ngài nói với các môn đệ : " Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngày từ bây giờ anh em biết Người và đã thấy Người". Qua lời yêu cầu của Philipphê xin được thấy Chúa Cha, Chúa Giêsu nói rõ cho mọi người chúng ta biết : " Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người"

...Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Câu nầy được lặp lại hai lần. Chúng ta hiểu như thế nào ? Chúa xác quyết một cách rất mạnh mẽ và rõ ràng mối liên hệ giữa Ngài với Chúa Cha. Và mọi việc Ngài làm, mọi lời Ngài nói là hoàn toàn theo ý Chúa Cha. Vì thế hãy tin vào Thầy. Chỉ có Thầy mới hướng dẫn chúng ta dến với Chúa Cha vì Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.

Lm Trầm Phúc.

Kính chuyển:

Hồng

--------------------------------

 
SỐNG VÀ CHIA SẺ LC - THỨ NĂM CN4PS-A PDF Print E-mail

Hong Nguyen

Suy niệm Lời Chúa Thứ năm, tuần IV Phục Sinh - Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

"Nếu anh em thực hành,
thì thật phúc cho anh em!"

Thực hành và mối phúc (c. 16-17

Sau khi rửa chân cho các môn đệ (c. 3-5) và giải thích ý nghĩa (c. 12-15), Đức Giê-su nói:
Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.
Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em! (c. 16-17)

Nghe lời này của Đức Giê-su, chúng ta có thể hiểu ngay rằng để hưởng mối phúc của Ngài, chúng ta được mời gọi, trong mọi sự, sống tương quan chủ/tớ và tương quan người sai đi/người được sai đi. Tuy nhiên, nếu chúng ta nối kết lời nói này của Đức Giê-su với cử chỉ rửa chân Ngài vừa thực hiện và lời giải thích, chúng ta sẽ hiểu hoàn toàn khác hẳn. Thật vậy, ngay sau khi rửa chân cho các Tông Đồ, Người nói:
Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. (c. 12-14)

Như thế, đây mới là việc thực hành mang lại mối phúc mà Đức Giê-su muốn thông truyền cho chúng ta: trong các mối tương quan gia đình, xã hội và Giáo Hội, sự khác biệt "người trên kẻ dưới" là không thể tránh được, nhưng chúng ta được mời gọi "rửa chân cho nhau", và nhất là người trên "rửa chân" cho kẻ dưới, chủ nhân "rửa chân" cho tôi tớ, người sai đi "rửa chân" cho người được sai đi, như chính Thầy Đức Giê-su, vốn là Đức Chúa của chúng ta, đã "rửa chân" cho từng người chúng ta.

2. Mầu nhiệm Thập Giá (c. 18-19)

Tuy nhiên, trong mầu nhiệm Thập Giá, Đức Giê-su còn đi xa hơn cử chỉ rửa chân, nghĩa là Người sẽ để cho mình bị phản bội và bị nộp. Hay đúng hơn, cử chỉ rửa chân không chỉ dừng lại ở mức độ "nêu gương/bắt chước", nhưng còn diễn tả "tình yêu đến cùng" mà Người sẽ hoàn tất nơi mầu nhiệm Thập Giá.

Thật vậy, trình thuật Tin Mừng theo thánh Gioan về việc Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ được đánh dấu rõ nét từ đầu đến cuối bởi hành vi phản bội:
"Ma quỉ đã gieo vào lòng Giu-đa..." (c. 2 và 27), ở đây Giuđa được nhìn như là nạn nhân của Sự Dữ.
"Người biết ai sẽ nộp Người" (c. 11): Giuđa được nhìn như là tác nhân.
"Nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con" (c. 18; trích Tv 41, 10). Giuđa được nhìn trong Kế Hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
Một đàng, Giu-đa phạm trọng tội (Mc 14, 10; Mt 26, 14-15); và chính Đức Giê-su cũng có những lời than vãn (than vãn chứ không phải chúc dữ) về Giu-đa: "Bất hạnh cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!" (Mt 26, 24b). Đàng khác, chính Satan hành động nơi Giu-đa: "Xa-tan đã nhập vào Giu-đa, cũng gọi là Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai" (Lc 22, 3); "Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su"; và "Y vừa ăn xong miếng bánh, Xa-tan liền nhập vào y" Ga 13, 2 và 27).

Nếu là như thế, Giu-đa cũng là nạn nhân trong hành động phản bội Thầy của mình. Tương tự như trường hợp "tội nguyên tổ", chính Con Rắn là nguyên nhân chính: "Con Rắn, người phụ nữ nói với Thiên Chúa, đã lừa dối con, nên con ăn" (St 3, 13). Và đàng khác nữa, tất cả là để cho Kinh Thánh được hoàn tất, nghĩa là chương trình thông ban sự sống và cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện cách trọn vẹn: "Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người" (Mt 26, 24a); "Phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con" (Ga 13, 18; trích Tv 41, 10).
Do đó, bản chất đích thực của hành vi phản bội nơi Giu-đa phức tạp hơn chúng ta tưởng; thực vậy, cùng với Giu-đa, còn có ma quỉ và hơn nữa cả hai được tháp vào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta vẫn thường nghĩ rằng, vì sự phản bội của Giu-đa mà Đức Giê-su bị bắt, bị xét xử và bị hành hình. Không phải hoàn toàn như thế, bởi vì Người đã biết và dự báo từ trước cuộc Thương Khó, và ngay cả sự phản bội của Giu-đa, Ngài cũng biết rõ. Các bài Tin Mừng trong Tuần Thánh đặc biệt nhấn mạnh đến điều này. Vấn đề là Ngài cứ để cho tuần tự xảy ra tất cả những gì sẽ dẫn ngài đến cái chết. Tại sao vậy ?
Giu-se nói với các anh : "Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân tộc đông đảo"(St 50, 19-20). Điều này đúng trong lịch sử cứu độ và cũng đúng trong cuộc đời chúng ta.
Thánh Phaolô nói : « Tội càng nhiều, ơn sủng càng chứa chan », « Đức Giê-su chết cho chúng ta ngay khi chúng ta còn ở trong tội ».
Điều xấu là do con người làm cho nhau và làm cho Chúa, nhưng Người dùng chính điều dữ này để cho chúng ta nhận ra lòng thương xót vô biên của Chúa. Nhìn ngắm Giu-đa, chúng ta được mời gọi nhận ra sự nghiêm trọng nơi tội của ông và nhận ra tội của chúng ta ở mức độ nào đó, nhưng không phải để lên án Giu-đa và lên án mình, nhưng như thánh Gio-an nói, chính là để nhận ra lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội của chúng ta.

Giu-đa phản bội, nhưng Đức Giê-su dùng chính hành động này để thể hiện tình yêu đến cùng của Ngài dành cho tất cả những người thuộc về Ngài, theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Như thế, Giu-đa đã không những không ngăn cản được tình yêu của Đức Giê-su, nhưng vô tình làm cho tình yêu ấy đi đến cùng. Tình yêu đến cùng dành cho mọi người, trong đó có Giu-đa. Chính vì thế, Đức Giê-su nói với Giu-đa: "Anh làm gì thì làm mau đi" (Ga 13, 27 và Mt 26, 50) và chính khi, Giu-đa ra đi thực hiện hành vi phản bội, Đức Giê-su nói: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người" (Ga 13, 31). Những gì xảy ra trong lịch sử cứu độ đạt tới cao điểm ở đây: Thiên Chúa Ba Ngôi dùng chính hành vi phản bội, cũng như dùng chính tội lỗi của chúng ta, dùng chính hành động của Sa-tan, để "hiển dung".
* * *
Đức Giê-su cúi mình xuống rửa chân cho từng người chúng ta; nhưng có người lại "giơ gót đạp Ngài". Cả hành vi này, Ngài cũng đón nhận trong bình an và bao dung, ngang qua cái chết trên Thập Giá (x. Mt 26, 50). Đó chỉ có có thể là sự khôn ngoan và sức mạnh thần linh, mời gọi chúng ta nhận ra Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa, là Đấng Hằng Hữu:
Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này,
trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra,
anh em tin là Thầy Hằng Hữu. (c. 19)

3. Hiệp thông trọn vẹn (c. 20)

Trong đời sống xã hội, cũng như trong đời sống đức tin và ơn gọi, sự phân cấp là không thể không có, Đức Giê-su không phá bỏ, nhưng thay đổi những tương quan này ở chiều sâu. Chẳng hạn, Ngài nói, chúng ta chỉ có một Cha và một Thầy, còn chúng ta đều là anh chị em của nhau. Thực vậy, nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Ki-tô Phục Sinh làm cho chúng ta trở nên Con của Cha, giống như Ngài là Con của Cha, trở nên "anh chị em" của ngài và "anh chị em" của nhau, vì tất cả chúng ta đều có cùng một Cha. Điều này có nghĩa là, cho dù chúng ta xưng hô như thế nào, tương quan ruột thịt như thế nào, chúng ta đều được mời gọi sống tình "huynh đệ" dưới mắt Chúa Cha và theo gương Đức Giê-su.

Như thế, tuy có sự khác biệt, chúng ta được mời gọi sống không phân biệt, vì tình yêu dâng hiến Đức Ki-tô dành cho từng người chúng ta; như thánh Phao-lô nói: trong Đức Ki-tô, không còn phân biệt Do thái hay Hy lạp, đàn ông hay phụ nữ, tự do hay nô lệ. Nghĩa là, chúng ta được mời gọi sống sự hiệp thông "huynh đệ" để làm chứng cho Tin Mừng của Đức Ki-tô, như chính Ngài muốn hiệp thông trọn vẹn với chúng ta:
, Thầy bảo thật anh em:
ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy,
và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. (c. 20)

Lời này của Đức Giê-su diễn tả sự hiệp thông trọn vẹn giữa môn đệ, Thầy và Cha. Sự hiệp thông này là kết quả của cử chỉ rửa chân nhiệm mầu, và cũng là kết quả của nhiệm tích Thánh Thể. Đó là chính là "MỐI PHÚC" mà Đức Ki-tô muốn ban tặng nhưng không cho chúng ta (có thể đọc bài Đức Giê-su rửa chân, Ga 13, 1-15).

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc
Kính chuyển:
Hồng

-------------------------------------

 
SỐNG VÀ CHIA SẺ LC- THỨ TƯ CN4PS-A PDF Print E-mail

Tinh Cao

Thứ Tư

SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: Cv 12, 24 - 13, 5a

"Hãy dành Saolô và Barnaba riêng cho Ta".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, lời Chúa được lan rộng và tiến triển. Nhưng Barnaba và Saolô, sau khi hoàn tất sứ mạng, đã rời Giêrusa-lem, đem theo Gioan cũng gọi là Marcô.

Bấy giờ trong Hội Thánh Antiôkia có những tiên tri và tiến sĩ, trong số đó có Barnaba, Simon cũng gọi là Nigê, Luxiô người thành Xyrênê, Manahê bạn của vua Hêrôđê lúc còn thơ ấu, và Saolô. Ðang khi các ông làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo các ông rằng: "Hãy để riêng Saolô và Barnaba cho Ta, để làm công việc mà Ta đã chỉ định". Vậy sau khi ăn chay cầu nguyện, họ đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai ông lên đường.

Ðược Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêucia, rồi từ đó vượt biển sang Cyprô. Khi đến Salamina, hai ông rao giảng lời Chúa trong các hội đường Do-thái.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 66, 2-3. 5. 6 và 8

Ðáp: Chư dân, hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài (c. 4).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Xin Thiên Chúa xót thương và chúc phúc lành cho chúng con, xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ. - Ðáp.

2) Các dân tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu. - Ðáp.

3) Chư dân, hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài. Xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài. - Ðáp.

Alleluia:

Alleluia, alleluia! - Chúa Kitô đã sống lại và chiếu soi chúng ta, là những kẻ Người đã cứu chuộc bằng máu của Người. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 12, 44-50

"Ta là sự sáng đã đến thế gian".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu lớn tiếng nói rằng: "Ai tin vào Ta thì không phải là tin vào Ta, nhưng là tin vào Ðấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta là thấy Ðấng đã sai Ta. Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm. Nếu ai nghe lời Ta mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta xét xử người ấy, vì Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian. Ai khinh dể Ta, và không chấp nhận lời Ta, thì đã có người xét xử: lời Ta đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. Bởi vì Ta đã không tự mình nói ra, nhưng Cha là Ðấng sai Ta, chính Người đã ra lệnh cho Ta phải nói gì và phải công bố gì. Và Ta biết rằng lệnh của Người là sự sống đời đời. Những điều Ta nói, thì Ta nói theo như Cha đã dạy".

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Lời Chúa

Chủ đề "Thày là sự sống" về khía cạnh Mục Tử Thần Linh cho Tuần IV Phục Sinh vẫn còn được thấy tỏ hiện trong bài Phúc Âm của Thứ Tư trong Tuần IV Phục Sinh hôm nay. Ở chỗ, Vị Mục Tử Thần Linh là Chúa Kitô đây, sở dĩ yêu thương chiên của mình đến độ hiến mạng sống của mình cho chiên được sự sống và là sự sống viên mãn chẳng những vì chiên thuộc về Cha là chính Đấng đã trao chiên cho Người mà còn vì Người là Đấng Thiên Sai thật sự, Đấng vì được Cha sai nên luôn chỉ làm theo ý của Cha, đúng như những gì Cha muốn và cách thức Cha muốn, như Người đã tự chứng về bản thân Người với dân Do Thái trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Ai tin vào Ta thì không phải là tin vào Ta, nhưng là tin vào Ðấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta là thấy Ðấng đã sai Ta. ... Bởi vì Ta đã không tự mình nói ra, nhưng Cha là Ðấng sai Ta, chính Người đã ra lệnh cho Ta phải nói gì và phải công bố gì. Và Ta biết rằng lệnh của Người là sự sống đời đời. Những điều Ta nói, thì Ta nói theo như Cha đã dạy".

Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta còn thấy một điều rất quan trọng nữa, đó là nguyên tắc phán xét tối hậu, ở chỗ, Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân hậu, chỉ biết yêu thương - "đến độ đã ban Con Một mình" (Gioan 3:16), chỉ biết bày tỏ tình yêu của mình ra "cho đến cùng" (Gioan 13:1), cho đến hết cỡ - "không dung tha cho Con Một của Ngài, một phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Rôma 8:32), như ánh sáng không thể nào không soi chiếu như bản chất tự nhiên của mình, còn những gì được ánh sáng soi chiếu có tiếp nhận ánh sáng hay chăng, hoặc có được thừa hưởng ánh sáng hay chăng là tùy ở những thứ ấy. Đó là lý do Chúa Giêsu Kitô đã khẳng định và tuyên bố với thành phần thính giả nghe Người rằng:

"Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm. Nếu ai nghe lời Ta mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta xét xử người ấy, vì Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian. Ai khinh dể Ta, và không chấp nhận lời Ta, thì đã có người xét xử: lời Ta đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết".

Do đó, để có thể dung hòa giữa 2 thái cực chủ trương một là có Lòng Thương Xót Chúa hai là có hỏa ngục chứ không thể nào có cả hai, hãy căn cứ vào nguyên tắc trong bài Phúc Âm hôm nay ngay trên đây. Nghĩa là có cả hai: Thiên Chúa không thể nào không yêu thương, không thương xót, vì đó là bản tính của Ngài, và kẻ nào không chấp nhận tình yêu thương vô cùng nhân hậu của Ngài thì tự họ bị hư đi, và chính tình yêu vô cùng nhân hậu bất diệt của Thiên Chúa sẽ trở thành hình phạt cho họ đời đời trong hỏa ngục, nơi họ chỉ còn khóc lóc và nghiến răng, khóc lóc vì đau khổ và nghiến răng vì hận mình (hơn là hối hận) nhưng đã quá muộn.

Kinh nghiệm làm người cũng đã cho thấy điều ấy. Ở chỗ, một khi con người chối bỏ lương tâm, thì chính lương tâm nơi họ sẽ trở thành quan án của họ và cắn rứt họ, đến độ họ không thể nào chịu được, có trường hợp phải tự ra đầu thú để bớt ray rứt lương tâm cho dù có bị tù đầy khổ sở xác thân và cuộc đời. Khi chết cũng vậy, chính lương tâm là tòa phán xét con người, và tự mình họ biết họ đi về đâu: Thiên Đàng hay hỏa ngục.

Bài Đọc I (Tông Vụ 12:24 - 13:5a):

Theo gương Mục Tử Thần Linh là "cửa chuồng chiên", đến chỉ làm theo ý muốn của Đấng đã sai mình, thành phần môn đệ trung thực của Người cũng luôn tuân theo tác động thần linh mà Thánh Thần của Đấng Phục Sinh và Thăng Thiên đã ban cho họ và sai đến với họ để Người có thể ở cùng họ cho đến tận thế (xem Mathêu 28:20), và qua họ tiếp tục vai trò Mục Tử Thần Linh của Người nơi dân ngoại, chẳng hạn qua nhị vị Saolô và Barnabê ở Antiôkia trong bài đọc một hôm nay:

"Bấy giờ trong Hội Thánh Antiôkia có những tiên tri và tiến sĩ, trong số đó có Barnaba, Simon cũng gọi là Nigê, Luxiô người thành Xyrênê, Manahê bạn của vua Hêrôđê lúc còn thơ ấu, và Saolô. Ðang khi các ông làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo các ông rằng: 'Hãy để riêng Saolô và Barnaba cho Ta, để làm công việc mà Ta đã chỉ định'. Vậy sau khi ăn chay cầu nguyện, họ đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai ông lên đường. Ðược Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêucia, rồi từ đó vượt biển sang Cyprô. Khi đến Salamina, hai ông rao giảng lời Chúa trong các hội đường Do-thái".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

PS.IV-4.mp3

--

 
SỐNG VÀ CHIA SẺ LC- THỨ BA CN4PS-A PDF Print E-mail

Hong Nguyen

Suy niệm Lời Chúa ngày 05.05.2020
Thứ Ba tuần IV Phục Sinh

SỐNG VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG: Ga 10, 22-30: TA VÀ CHA TA LÀ MỘT

TIN VÀO ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT CỦA TRẦN GIAN

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho biết, vì họ không thuộc về đoàn chiên của Ngài. Theo nghĩa phổ quát, mọi người đều là chiên của Chúa, vì mọi người đều được Chúa yêu thương dựng nên và hy sinh đổ máu cứu chuộc. Chúa Giêsu luôn thể hiện nguồn gốc của mình thuộc về Chúa Cha, bằng lời giảng dạy và việc làm. Đời sống của Ngài khiến những người đương thời nhìn nhận nơi Ngài không có điều gì gian dối, là "người vô tội" và là "Con Thiên Chúa". Việc của Ngài làm chứng minh nguồn gốc của Ngài.

Người Do Thái cần một câu trả lời dứt khoát xem Chúa Giêsu thực sự là ai, nhưng Ngài lại dẫn họ về căn nguyên của những gì Ngài làm. Đó là do sự ủy nhiệm tuyệt đối của Chúa Cha. Những gì Ngài nói và làm đều đã được lãnh nhận từ Cha. Không những thế, những kẻ thuộc về Ngài cũng được đưa vào mối quan hệ thân mật với Cha như Ngài vậy, vì Ngài và Cha là một. Do đó, ai thuộc về đoàn chiên của Ngài thì nghe tiếng Ngài và noi theo những hành động của Ngài, cho dù gặp phải những thiệt thòi, những khổ lụy và ngay cả những bách hại trên đường đời.

Tin nhận Chúa và chịu phép rửa tội. Vì giáo lý công giáo dạy: nhờ bí tích rửa tội, chúng ta được thanh tẩy mọi tội lỗi, được làm con Chúa, được gia nhập vào đoàn chiên Chúa là Giáo Hội. Và rồi phải nghe theo lời Chúa là mục tử tối cao, cũng như tuân giữ mọi điều răn và luật lệ Chúa truyền dạy với tình yêu mến.

Ðây là một thực tại cao cả nơi cuộc sống của những người tin vào Chúa, và Chúa Giêsu muốn mạc khải cho những người Do Thái đến hỏi Chúa: "Ông để chúng tôi phân vân đến bao giờ nữa, nếu ông là Ðức Kitô thì hãy nói trắng ra cho chúng tôi biết" (Ga 10, 24). Thánh Gioan đã đặt những lời mạc khải trên của Chúa Giêsu về thực tại đời sống Ðức Tin của người Kitô hữu vào dịp lễ cung hiến Ðền Thờ Giêrusalem, và như ta đã biết, cổng đền thờ là nơi các thầy thông luật Do Thái đến để giải thích lề luật cho dân chúng, do đó Chúa Giêsu đến đây để giảng dạy cho dân chúng.

"Ta và Cha Ta, chúng ta là một". Ðây là mạc khải quan trọng nhất nhắc ta nhớ lại những suy tư mở đầu Tin Mừng thánh Gioan: "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngôi Lời sống với Thiên Chúa ngay từ đầu. Vạn vật do bởi Ngài mà có và nếu không có Ngài thì sẽ không có gì cả". Tác giả Phúc Âm thánh Gioan đã có những suy tư cao siêu như vậy khi nhìn về mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô trong viễn tượng Chúa Phục Sinh.

Hơn mọi sự, ta thấy Chúa Giêsu là một vị thầy hơn mọi vị thầy thông luật của Israel thời đó, vì Con Thiên Chúa làm người đã hiện diện nơi đó không những để giảng dạy lề luật, mà còn là Ðấng thay thế cho các bậc thầy vĩnh viễn. Như lời Chúa đã phán: "Chúng con không có vị thầy nào khác vì Thầy là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống" (Ga 14, 6).

Ta thấy nhiều người Do Thái đã không thành tâm yêu mến Chúa, nên cho dù Chúa Giêsu ở giữa họ, có giảng dạy và làm nhiều phép lạ, họ vẫn không tin nhận, vì họ không thuộc đoàn chiên đích thực của Chúa.

Người Do Thái không biết Đức Giêsu là bởi vì họ đã không nhận ra Ngài. Họ bị thói kiêu ngạo che lấp tâm trí, nên đứng trước bao nhiêu phép lạ, lời giảng dạy và nhiều mạc khải khác, họ vẫn bị mờ tối lương tâm nên không "biết" Đức Giêsu. Vì thế, khi được hỏi, Đức Giêsu đã khẳng khái trả lời cho họ biết nguyên nhân tại sao, đó là: "Vì họ không thuộc về đàn chiên của Ngài", bởi vì: "Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi". Khi đã "biết" và nghe theo tiếng Chủ chiên là chính Đức Giêsu, thì sẽ được sự sống đời đời, không bao giờ diệt vong. Nhất là được đảm bảo khỏi sói dữ, quỷ thần ám hại, vì được ở trong vòng tay của Vị Mục Tử Nhân Lành.

Và đời Kitô hữu chúng ta khi theo Chúa đâu phải để tránh bão, nhưng để vượt qua cơn bão. Theo Chúa đâu phải để khỏi bị cám dỗ, nhưng để thắng cơn cám dỗ. Cuộc sống của người Kitô hữu không tránh khỏi những khó khăn mà những người không Kitô hữu phải đối mặt mỗi ngày. Hơn nữa, người Kitô hữu còn gặp nhiều khó khăn hơn. Có những cơn bão ập đến bất ngờ chỉ vì họ là Kitô hữu.

Chúng ta thuộc về đoàn chiên của Chúa Giêsu khi dõi bước theo Ngài, khi dám hành động theo những đòi hỏi của Ngài, và khi sống theo gương Ngài trong yêu thương, phục vụ và hiến thân mình cho người khác.

Là Kitô hữu nghĩa là được chọn để thuộc về Đức Kitô, thuộc về Thiên Chúa. Trong khuôn viên nhà thờ quen thuộc, chúng ta dễ dàng để tuyên xưng như thế, nhưng có những lúc rất ngại để nói mình là Kitô hữu, vì những việc chúng ta làm nghịch lại với nguồn gốc và ơn gọi của mình. Chính vì thế, ta phải xin thêm ơn để chúng ta tin và đáp lại đời sống đức tin của mình vào Đức Giêsu Kitô - Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian.

Lm. Huệ Minh
Kính chuyển:
Hồng

-------------------------------

 
SỐNG VÀ CHIA SẺ LC - THỨ HAI CN4PS-A PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

04/05/20 THỨ HAI TUẦN 4 PS
SỐNG VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG: Ga 10,11-18
TRẬT TỰ TÌNH YÊU

"Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên." (Ga 10,14-15)

Suy niệm/SỐNG: Chúa Giê-su phục sinh thiết lập một trật tự mới cho nhân loại. Trật tự cũ đặt trên nền tảng của Lề Luật Cựu Ước không còn hiệu lực nữa; trái lại, giờ đây, trật tự của Tân Ước được thiết lập: không còn nô lệ hay tự do, cắt bì hay không cắt bì, nhưng "tất cả chỉ là một trong Đức Ki-tô" (x. Gl 3,28;5,5-6).

Trật tự mới chính là trật tự của tình yêu, một tình yêu vô cùng lớn của Thiên Chúa, lớn đến nỗi đã thí mạng sống của chính Con Một Ngài để cứu chuộc hết thảy nhân loại (x. Ga 3,16; Rm 8,32). Trật tự tình yêu đó đưa chúng ta vào mối tương quan mới với Ngài, đặt nền tảng trên tình thương: tình thương của người cha nhân hậu luôn chờ đợi, tha thứ, và bao dung; tình thương của người mục tử nhân lành, không chỉ biết chiên mà còn hy sinh cả mạng sống vì chiên.

Mời Bạn chia sẻ: Tông đồ Phê-rô đã thề thốt trung thành với Thầy nhưng sau đó đã chối Thầy ba lần trước những chất vấn của người lạ. Trật tự tình yêu nơi ông bị đảo lộn: Ông tưởng rằng mình đang yêu Chúa nhưng thực ra đang đặt ý riêng của mình bên trên tình yêu Chúa.

Là môn đệ Chúa, bạn đã sống theo trật tự tình yêu của Ngài chưa? Bạn có sẵn sàng hy sinh lợi ích của bản thân để phục vụ tha nhân như Đức Ki-tô, Mục Tử nhân lành "thí mạng sống mình vì đoàn chiên" chưa?

Sống Lời Chúa: Sống theo trật tự tình yêu của Chúa: – đối tượng ưu tiên: vì tha nhân đặc biệt những người bé mọn; – mục tiêu tối hậu: hạnh phúc vĩnh cửu và sự sống đời đời.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin hãy đến, và ở lại trong lòng con luôn mãi. Amen.
gpcantho

------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 216