mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5574
mod_vvisit_counterHôm Qua10365
mod_vvisit_counterTuần Này5574
mod_vvisit_counterTuần Trước57101
mod_vvisit_counterTháng Này62675
mod_vvisit_counterTháng Trước249539
mod_vvisit_counterTất cả15143133

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm tình Chúa yêu tôi
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI -THỨ BẢY CN1MV-A PDF Print E-mail

Tinh Cao

Thứ Bảy CN1MV-A

LẮNG NGHE Lời Chúa

Bài Ðọc I: Is 30, 19-21. 23-26

"Người động lòng thương ngươi, lắng nghe lời ngươi kêu xin".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa là Thiên Chúa, Ðấng Thánh của Israel phán: Dân Sion sẽ được ở Giêrusalem. Ngươi sẽ chẳng còn than van khóc lóc; Chúa động lòng thương ngươi, và khi vừa nghe tiếng ngươi kêu, Người liền đáp lại lời ngươi. Chúa sẽ cho ngươi chút bánh đau thương, ít nước khốn cùng. Nhưng Ðấng dạy dỗ ngươi sẽ không lìa bỏ ngươi, mắt ngươi sẽ trông nhìn Ðấng giáo huấn ngươi, và tai ngươi sẽ nghe tiếng Ðấng từ sau lưng bảo rằng: "Ðây là đường, hãy bước đi theo đó, đừng rẽ bên mặt, đừng quẹo bên trái". Sẽ ban mưa xuống cho hạt giống của ngươi, bất cứ trên đất nào ngươi đã gieo vãi. Bánh thổ sản sẽ rất dồi dào và thơm ngon. Ngày ấy, chiên được chăn thả trên lãnh địa rộng lớn của ngươi. Bò lừa cày ruộng ngươi được ăn rơm có muối, đã được rê sạch. Trong ngày tru diệt muôn người, khi thành quách đổ nhào, sẽ có giòng suối chảy trên đồi cao núi thẳm. Ngày Chúa băng bó thương tích của dân Người, và chữa lành da bầm thịt giập; mặt trăng sẽ sáng chói như mặt trời, mặt trời sẽ bảy lần chói sáng hơn, như ánh sáng bảy ngày.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 146, 1-2. 3-4. 5-6

Ðáp: Phúc cho tất cả những ai mong đợi Chúa (Is 30, 18).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy ngợi khen Chúa vì Người hảo tâm; hãy ca mừng Thiên Chúa chúng ta, vì Người êm ái, thực Người rất đáng ngợi khen. Chúa xây dựng lại Giêrusalem, tập họp con cái Israel phân tán. - Ðáp.

2) Chính Người chữa những kẻ giập nát tâm can, và băng bó vết thương của lòng họ. Người ấn định con số các ngôi sao, và gọi đích danh từng ngôi một. - Ðáp.

3) Chúa chúng ta cao cả và mãnh liệt quyền năng, sự khôn ngoan của Người thực là vô lượng. Chúa nâng cao những kẻ khiêm cung, Người đè bẹp đứa ác nhân xuống tận đất. - Ðáp.

Alleluia: Is 55, 6

Alleluia, alleluia! - Hãy tìm kiếm Chúa khi còn gặp được Người; hãy kêu xin Người lúc Người còn gần các ngươi. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 9, 35 - 10, 1. 6-8

"Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: "Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa".

Và Người triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Người bảo: "Các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không".

Ðó là lời Chúa.

SỐNG VÀ CHIA SẺ

nhập thể dẫn dắt

Bài Phúc Âm cho Thứ Bảy cuối Tuần I Mùa Vọng hôm nay cũng thế, như các bài Phúc Âm khác trong tuần, từ đầu tuần đến nay, đang ở vào tuần đầu tiên của Mùa Vọng mà nội dung lại về những gì ở đâu đâu, chẳng hạn như bài Phúc Âm hôm nay về sứ vụ truyền giáo của cả Chúa Giêsu lẫn các môn đệ của Người.

Thật vậy, Thánh ký Mathêu trong bài Phúc Âm hôm nay cho biết về cả sứ vụ truyền giáo của Chúa Giêsu lẫn mối quan tâm truyền giáo của Người như sau:

"Khi ấy, Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: 'Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa'".

Thánh ký Mathêu cũng thuật lại sứ vụ truyền giáo của các tông đồ cần phải thực hiện theo lệnh sai đi của Chúa Giêsu như thế này:

"Và Người triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Người bảo: 'Các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không'".

Một yếu tố tối hậu quyết liệt bất khả thiếu trong tất cả mọi việc Chúa Kitô làm, cũng là việc của Thiên Chúa, Đấng sai Người làm, đó là chính tấm lòng "thương xót" của Người, một tấm lòng "thương xót" mà nếu thiếu vắng sẽ không bao giờ xẩy ra những chuyện được Phúc Âm thuật lại, như việc hóa bánh ra nhiều để nuôi đoàn lũ dân chúng trong Bài Phúc Âm Thứ Tư vừa rồi: "Ta thương xót đoàn lũ này, vì đã ba ngày, họ ở lại với Ta, nhưng không có gì ăn". (Mathêu 15:32), hay để sai các môn đệ của Người đi truyền giáo như trong bài Phúc Âm hôm nay: "Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn".

Thậm chí phải khẳng định rằng chính việc hóa thân làm người của "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) cũng thế, sẽ không bao giờ xẩy ra nếu Thiên Chúa không phải là "Cha trên trời là Đấng thương xót" (Luca 6:36), đến độ chính Con của Ngài trong thân phận làm người đã trở thành hiện thân sống động của Lòng Thương Xót Chúa, hay nói đúng hơn là chính Lòng Thương Xót Chúa muốn tỏ ra cho loài người.

Nếu "Thiên Chúa là tình yêu" (1Gioan 4:8,16) thì tình yêu Ngài tỏ ra phải là một tình yêu vô cùng "trọn lành" (Mathêu 5:48), không phải chỉ ở chỗ yêu một cách nhưng không, tự hạ ngang hàng với người yêu trong mầu nhiệm nhập thể và giáng sinh, và hiến mạng cho người mình yêu (xem Gioan 15:13) trong mầu nhiệm khổ nạn và tử giá, mà còn "yêu cho đến cùng" (Gioan 13:1) nơi việc Ngài tìm kiếm từng con chiên lạc của Ngài, cũng như nơi việc vui vẻ (chứ không gượng ép hay đành phải) tha thứ tất cả mọi tội lỗi cho con người, dù tội của họ có nhiều đến đâu chăng nữa hay có nặng đến mấy chăng nữa, miễn là tội nhân tỏ ra nhận biết Ngài và tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa của Ngài.

Như thế, có thể nói nếu Lòng Thương Xót Chúa chính là tột đỉnh của tình yêu Thiên Chúa, hay là chính chân dung của Vị "Thiên Chúa là tình yêu", thì thiếu vắng Lòng Thương Xót thì Thiên Chúa không còn "là tình yêu" nữa, không còn "trọn lành" nữa, mà chỉ là một vị thần thuần công thẳng, hay chỉ là một ác thần, không gì bất toàn có thể tồn tại trước mắt thuần chính trực chỉ biết đúng sai phải trái của vị thần này.

Thật vậy, Lòng Thương Xót Chúa chẳng những là ưu phẩm tối cao của Thiên Chúa, mà còn là chính Ơn Cứu Độ của loài người hèn yếu khốn nạn tội lỗi và cho loài người mà chính vì thế mới càng đáng thương trước nhan vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa, chẳng khác gì "như những con chiên không có người chăn tất tưởi bơ vơ". Bởi thế, cho dù con người, qua hai nguyên tổ của mình, sau khi sa ngã phạm tội, đã trở nên mù tối đến độ không hề xin Thiên Chúa thứ tha, Ngài vẫn tự động hứa cứu độ họ và toàn thể nhân loại là giòng dõi của họ (xem Khởi Nguyên 3:15).

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, qua miệng Tiên Tri Isaia, chính Vị "Thiên Chúa là tình yêu" đã bày tỏ Lòng Thương Xót của Ngài với dân ưu tuyển của Ngài trong cảnh khốn khổ của họ như sau:

"Ðây Chúa là Thiên Chúa, Ðấng Thánh của Israel phán: Dân Sion sẽ được ở Giêrusalem. Ngươi sẽ chẳng còn than van khóc lóc; Chúa động lòng thương ngươi, và khi vừa nghe tiếng ngươi kêu, Người liền đáp lại lời ngươi. Chúa sẽ cho ngươi chút bánh đau thương, ít nước khốn cùng. Nhưng Ðấng dạy dỗ ngươi sẽ không lìa bỏ ngươi, mắt ngươi sẽ trông nhìn Ðấng giáo huấn ngươi, và tai ngươi sẽ nghe tiếng Ðấng từ sau lưng bảo rằng: 'Ðây là đường, hãy bước đi theo đó, đừng rẽ bên mặt, đừng quẹo bên trái'".

Trong câu trên đây, chúng ta thấy Thiên Chúa dù có thương yêu dân của Ngài mấy đi nữa, Ngài cũng không hề nuông chiều họ, trái lại, tình thương của Ngài phải làm sao có thể cải hóa họ cho họ xứng với bản tính trọn lành "là tình yêu" của Ngài.

Bởi thế, như Bài Đọc 1 cho thấy Ngài đã nuôi dưỡng họ bằng thứ lương thực đắng đót có tính cách vượt qua (xem Xuất Hành 12:8): "Chúa sẽ cho ngươi chút bánh đau thương, ít nước khốn cùng", để đánh động họ nghĩ lại, chứ không phải là bỏ rơi hay đầy đọa họ: "Nhưng Ðấng dạy dỗ ngươi sẽ không lìa bỏ ngươi, mắt ngươi sẽ trông nhìn Ðấng giáo huấn ngươi, và tai ngươi sẽ nghe tiếng Ðấng từ sau lưng", nhờ đó họ có thể hướng về Ngài và chạy đến kêu cầu Ngài để Ngài được dịp tỏ tình thương của Ngài cho họ: "Chúa động lòng thương ngươi, và khi vừa nghe tiếng ngươi kêu, Người liền đáp lại lời ngươi".

Sách Tiên Tri Isaia vẫn tiếp tục sử dụng từ ngữ "ngày ấy" để ám chỉ "thời điểm viên trọn" (Galata 4:4), khi "Thiên Chúa sai Con của Ngài được hạ sinh bởi một người nữ" (Galata 4:4), thời điểm nhờ "Lời đã hóa thành nhục thể" như "Vị Mục Tử Nhân Lành hiến mạng sống mình vì chiên" (xem Gioan 10:11) mà "chiên được chăn thả trên lãnh địa rộng lớn của ngươi. Bò lừa cày ruộng ngươi được ăn rơm có muối, đã được rê sạch", và là thời điểm nhờ "Lời đã hóa thành nhục thể" như "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9) mà "Ngày Chúa băng bó thương tích của dân Người, và chữa lành da bầm thịt giập; mặt trăng sẽ sáng chói như mặt trời, mặt trời sẽ bảy lần chói sáng hơn, như ánh sáng bảy ngày".

Đó là lý do Bài Đáp Ca hôm nay đã vang lên tâm tình tri ân cảm tạ cùng lời chúc tụng ngợi khen Vị "Thiên Chúa là tình yêu" vô cùng nhân hậu qua việc cứu độ của Ngài đối với riêng dân Ngài cũng như chung nhân loại, nhất là đối với những ai yếu hèn khiêm hạ:

1) Hãy ngợi khen Chúa vì Người hảo tâm; hãy ca mừng Thiên Chúa chúng ta, vì Người êm ái, thực Người rất đáng ngợi khen. Chúa xây dựng lại Giêrusalem, tập họp con cái Israel phân tán.

2) Chính Người chữa những kẻ giập nát tâm can, và băng bó vết thương của lòng họ. Người ấn định con số các ngôi sao, và gọi đích danh từng ngôi một.

3) Chúa chúng ta cao cả và mãnh liệt quyền năng, sự khôn ngoan của Người thực là vô lượng. Chúa nâng cao những kẻ khiêm cung, Người đè bẹp đứa ác nhân xuống tận đất.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MV.TuanI-7.mp3

---------------------------------

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - NHÀ TA LÀ NHÀ CẦU NGUYỆN PDF Print E-mail

Tinh Cao

Thứ Sáu CN33TN-C

LẮNG NGHE Lời Chúa: ĐỪNG BIẾN NHÀ TA THÀNH HANG TRỘM CƯỚP!

Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Mcb 4, 36-37, 52-59

"Họ làm lễ cung hiến bàn thờ và hân hoan dâng lễ toàn thiêu".

Trích sách Macabê quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, Giuđa và anh em ông nói rằng: "Quân thù chúng ta đã bị tiêu diệt, nay chúng ta hãy đi thanh tẩy và cung hiến Ðền thánh lại".

Toàn thể quân đội được triệu tập, rồi cùng lên núi Sion.

Ngày hai mươi lăm tháng chín (tức là tháng Kislêu) năm một trăm bốn mươi tám, họ dậy sớm, dâng lễ tế như Luật dạy trên bàn thờ dùng để dâng lễ toàn thiêu mà họ vừa mới thiết lập. Bàn thờ đã được cung hiến lại giữa những tiếng ca, tiếng đàn lục huyền cầm, phong cầm cùng tiếng não bạt, đúng mùa, đúng ngày trước kia dân ngoại đã xúc phạm đến bàn thờ. Toàn dân sấp mình thờ lạy và ca tụng Ðấng ngự trên trời đã ban chiến thắng cho họ.

Họ làm lễ cung hiến bàn thờ suốt tám ngày, hân hoan dâng lễ toàn thiêu, lễ đền tội và lễ tạ ơn. Họ trang hoàng mặt tiền Ðền thờ với những triều thiên vàng và bảng chương, sửa lại các cửa ra vào và các phòng, đặt cánh cửa lại. Dân chúng nô nức vui mừng vì đã rửa sạch được nỗi tủi nhục do dân ngoại gây nên. Giuđa cùng với anh em ông và cộng đoàn Israel quyết định rằng: Hằng năm, từ ngày hai mươi lăm tháng Kislêu, lễ cung hiến bàn thờ sẽ được cử hành trong vui mừng hân hoan suốt tám ngày.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: 1 Sb 29, 10. 11abc. 11d-12a. 12bcd

Ðáp: Lạy Chúa, chúng con chúc tụng thánh danh vinh hiển của Chúa (c. 13b).

Xướng: 1) Ðavít đã chúc tụng Chúa trước mặt toàn thể cộng đồng, Người thưa: "Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel cha ông chúng con, Chúa đáng chúc tụng từ đời đời tới muôn muôn thuở". - Ðáp.

2) Lạy Chúa, cao sang, quyền bính và vinh quang, chiến thắng, lời ca khen đều thuộc về Chúa, vì tất cả những gì trên trời dưới đất là của Chúa. - Ðáp.

3) Chúa ngự trên tất cả những đế vương. Giàu sang là của Chúa, và vinh quang là của Chúa. - Ðáp.

4) Chúa thống trị trên tất cả mọi loài, sức mạnh quyền bính đều ở trong tay của Chúa; ở trong tay Chúa, mọi uy phong và vững bền. - Ðáp.

Alleluia: Tv 118, 34

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin giáo huấn con, để con tuân cứ luật pháp của Chúa, và để con hết lòng vâng theo luật đó. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 19, 45-48

"Các ngươi đã biến đền thờ Thiên Chúa thành sào huyệt trộm cướp".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu vào đền thờ, Người liền xua đuổi các người buôn bán tại đó và phán bảo họ rằng: "Có lời chép rằng: Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành sào huyệt trộm cướp". Và hằng ngày Người giảng dạy trong Ðền thờ. Các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão trong dân tìm cách hại Người, nhưng họ không biết phải làm cách nào, vì dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người.

Ðó là lời Chúa.

Suy nghiệm Lời Chúa: NHÀ TA LÀ NHÀ CẦU NGUYỆN

Quá yêu thương đến bất khả chấp

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Sáu Tuần XXXIII Thường Niên, tiếp tục với cuộc hành trình lên Giêrusalem của Chúa Kitô, ở chỗ, sau khi "Người đã gần đến Giêrusalem" trong Bài Phúc Âm hôm kia, sau đó "Chúa Giêsu đến gần Giêrusalem" trong bài Phúc Âm hôm qua, và hôm nay "Chúa Giêsu vào đền thờ".
Phải, nếu đền thờ Giêrusalem là nơi Thiên Chúa ngự, là biểu hiệu cho sự hiện diện thần linh của Thiên Chúa, thì sự kiện Chúa Giêsu có mặt ở đền thờ này cho thấy Người đã đến được đích điểm cuộc hành trình Giêrusalem của Người.

Bởi Người đến "là để tỏ Cha ra" (Gioan 1:18), tức để làm cho dân của Người biết Cha của Người thực sự là Đấng nào, Vị Thiên Chúa đã từng tỏ mình ra cho họ trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ như là một Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, ngoài Ngài ra không còn một vị Thiên Chúa nào khác, và vì thế họ phải hết mình kính mến Ngài, chỉ một mình Ngài thôi, "hết lòng, hết linh hồn và hết sức" của họ (xem Đệ Nhị Luật 6:4-5), nghĩa là trên hết mọi sự.

Bởi thế, không lạ gì, khi thấy cảnh tượng dân chúng buôn bán trong đền thờ "là nhà cầu nguyện", như chính Người nói trong Bài Phúc Âm hôm nay, đã bị "biến thành sào huyệt trộm cướp", thì làm sao Người là Đấng kính mến Cha Người hết mình và trên hết mọi sự, khi thấy nơi biểu hiệu cho sự hiện diện thần linh của Cha bị chính dân của Ngài tục hóa, có thể nào chịu đựng được, đến độ dù Người vốn "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mathêu 11:29) cũng không thể nào không ra tay "xua đuổi các người buôn bán tại đó".
Phải chăng đó là một trong những lý do chính yếu khiến Người vừa thấy thành thánh Giêrusalem, Người đã thổn thức khóc, như bài Phúc Âm hôm qua thuật lại? Người đã không khóc khi thấy Cha của Người bị xúc phạm cho bằng khóc thương dân của Người, vì họ không ngừng liên tục xúc phạm đến Cha của Người mà nguy hiểm đến phần rỗi đời đời của chính họ. Bởi thế mà trên đường vác thập giá lên Núi Sọ, Người đã khuyên đám phụ nữ thương khóc Người bấy giờ rằng: "Chớ khóc thương Tôi, một khóc thương các ngươi cùng con cháu của các ngươi" (Luca 23:27-28).

Đúng vậy, nếu con người ta nói chung và những ai tin vào Người nói riêng thật sự biết khóc thương bản thân mình, ở chỗ tỏ ra ăn năn thồng hối tội lỗi của mình, thì đó là tác động họ khóc thương Người rồi vậy, vì họ sẽ không dám xúc phạm đến Người nữa, họ sẽ không làm cho Người phải khổ sở vác thập giá của họ và cho họ nữa, thập giá do chính họ chất lên vai của Người. Tội lỗi của họ chính là thập giá mà Người phải vác vậy. Và thập giá cũng là biểu hiệu cho từng con chiên lạc Người cần phải tìm kiếm và vác trên vai mang về nhà Cha của Người vậy (xem Luca 15:5).

Đó là lý do Người quả thật không hề ghét bỏ dân của Người qua hành động đánh đuổi họ như thế, trái lại, chỉ vì Người thương họ hơn bao giờ hết, khi thấy họ lầm lạc đến độ chính họ là dân được Thiên Chúa là Cha của Người tuyển chọn đã tục hóa một nơi thánh nhất của họ, chứ không phải bị tục hóa bởi dân ngoại không biết gì đến Vị Thiên Chúa của họ, như đã phũ phàng và trắng trợn xẩy ra vào thời kỳ hậu lưu đầy của họ, khi họ bị ngoại bang xâm chiếm và đô hộ, đến độ quyền lực ngoại bang bấy giờ đã ra tay tàn phá và tục hóa đền thờ ấy, một biến cố lịch sử đầy nhơ nhớp được Sách Macabê quyển thứ nhất diễn thuật trong Bài Đọc 1 Thứ Hai đầu tuần này.
Việc Chúa Giêsu "xua đuổi các người buôn bán tại đó" còn mang một ngậm ý trách móc cả thành phần lãnh đạo dân Chúa bấy giờ nữa, thành phần có thẩm quyền để hướng dẫn dân Chúa theo đường lối của Thiên Chúa, theo lề luật thánh lại để xẩy ra tình trạng tục hóa công khai này, một là vì chính họ cho phép hai là vì họ cứ để cho dân chúng tha hồ tục hóa đền thờ linh thánh này, không hề ngăn cản tí nào, như thể vừa tán thành vừa đồng lõa với tội lỗi của dân.

Người biết rằng việc Người tự động "xua đuổi các người buôn bán tại đó" chắc chắn sẽ đụng chạm đến quyền bính của thành phần lãnh đạo này. Thế nhưng, vì Người đến cứu cả thành phần lãnh đạo mù quáng ấy nữa, nên Người vẫn bất chấp, họ có tỏ ra hận thù Người hơn bao giờ hết, như được Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: "Các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão trong dân tìm cách hại Người, nhưng họ không biết phải làm cách nào, vì dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người".

Họ càng hận thù và tìm cách hại Người bao nhiêu thì chính họ là thành phần "không muốn" xẩy ra chuyện "phong vương" của Người càng được thành tựu, như ý nghĩa trọng dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm kia cho biết vào thời điểm Người "gần đến Giêrusalem" là nơi Người sẽ bị rơi vào tay họ như Người đã báo trước cho các môn đệ của Người về biến cố bất khả tránh này 3 lần, đúng như ý định vô cùng nhiệm mầu của Cha Người về cuộc hành trình Giêrusalem của Người là để Người được "phong vương" trên ngai tòa thập tự giá một cách danh chính ngôn thuận: "Giêsu Vua Dân Do Thái" (Luca 23:38).

Tuy nhiên, ngay lúc bấy giờ, lúc Người "xua đuổi các người buôn bán tại đó" thì họ còn sợ dân chúng, tức chưa đến giờ của người, nhờ đó, như Phúc Âm cho biết: "hằng ngày Người giảng dạy trong Ðền thờ". Và vì thế, từ ngày mai Thứ Bảy Tuần XXXIII Thường Niên cho tới hết tuần 34 Thường Niên là tuần cuối cùng của phụng niên hằng năm, chúng ta sẽ đọc thấy các bài Phúc Âm cho ngày thường trong tuần liên quan đến giáo huấn Giêrusalem của Người, những giáo huấn cuối cùng của hành trình Giêrusalem được Người công khai truyền dạy ở chính thành thánh Giêrusalem, giáo đô của Do Thái giáo, cũng là khởi điểm truyền giáo (xem Tông Vụ 1:8) ngay sau biến cố Thánh Linh Hiện Xuống của Giáo Hội được Người thiết lập.

Đúng thế, đối với những con người không tin tưởng Thiên Chúa, hay tin tưởng một cách nửa vời, hoặc tin tưởng một cách giả hình như thành phần trí thức Do Thái giáo là luật sĩ và biệt phái nói chung, thì Đền Thờ là nơi Thiên Chúa ngự giữa họ sẽ bị họ tục hóa và biến thành một phương tiện lạm dụng của họ cho lợi lộc trần gian. Thế nhưng, đối với những tâm hồn nào thực sự tin tưởng Ngài mới tỏ ra tôn kính Đền Thờ của Ngài, nhất là khi thấy Đền Thờ của Ngài bị tục hóa chẳng những bởi dân ngoại mà còn bởi cả chính dân của Ngài nữa, và họ không thể nào không tái thiết đền thờ xứng với Vị Thiên Chúa tối cao chí thánh của họ, như trường hợp của nhân vật Giuđa cùng với anh em mình, những người con của người bố anh hùng đức tin Matha-thia, đã làm trong Bài Đọc 1 theo sách Macabê quyển thứ 1 như sau:

"Trong những ngày ấy, Giuđa và anh em ông nói rằng: 'Quân thù chúng ta đã bị tiêu diệt, nay chúng ta hãy đi thanh tẩy và cung hiến Ðền thánh lại'. Toàn thể quân đội được triệu tập, rồi cùng lên núi Sion. Ngày hai mươi lăm tháng chín (tức là tháng Kislêu) năm một trăm bốn mươi tám, họ dậy sớm, dâng lễ tế như Luật dạy trên bàn thờ dùng để dâng lễ toàn thiêu mà họ vừa mới thiết lập. Bàn thờ đã được cung hiến lại giữa những tiếng ca, tiếng đàn lục huyền cầm, phong cầm cùng tiếng não bạt, đúng mùa, đúng ngày trước kia dân ngoại đã xúc phạm đến bàn thờ".

Chưa hết, sau đó "toàn dân sấp mình thờ lạy và ca tụng Ðấng ngự trên trời đã ban chiến thắng cho họ. Họ làm lễ cung hiến bàn thờ suốt tám ngày, hân hoan dâng lễ toàn thiêu, lễ đền tội và lễ tạ ơn. Họ trang hoàng mặt tiền Ðền thờ với những triều thiên vàng và bảng chương, sửa lại các cửa ra vào và các phòng, đặt cánh cửa lại. Dân chúng nô nức vui mừng vì đã rửa sạch được nỗi tủi nhục do dân ngoại gây nên". Hành động của dân Chúa được thuật lại trên đây chính là âm vang của những tâm tình tôn thờ chân thực được chất chứa trong bài Đáp Ca hôm nay:

1) "Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel cha ông chúng con, Chúa đáng chúc tụng từ đời đời tới muôn muôn thuở".

2) Lạy Chúa, cao sang, quyền bính và vinh quang, chiến thắng, lời ca khen đều thuộc về Chúa, vì tất cả những gì trên trời dưới đất là của Chúa.

3) Chúa ngự trên tất cả những đế vương. Giàu sang là của Chúa, và vinh quang là của Chúa.

4) Chúa thống trị trên tất cả mọi loài, sức mạnh quyền bính đều ở trong tay của Chúa; ở trong tay Chúa, mọi uy phong và vững bền.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

TN.XXXIIIL-6.mp3

--

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - CHÚA CỦA KẺ SỐNG PDF Print E-mail

 Chúa Nhật 32 Thường Niên năm C.

"Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống".(C. 38)

          *VÌ ĐỐI VỚI CHÚA, TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG*

Lời Chúa: Lc 20, 27-38

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: Nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ goá đó, để cho anh mình có kẻ nối giòng. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết mà không có con. Người kế tiếp cưới vợ goá đó, rồi cũng chết không con. Người thứ ba cũng cưới người vợ goá đó. Và tất cả bảy người đều cưới như vậy và đều chết mà không để lại người con nào; sau cùng người thiếu phụ đó cũng chết. Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy? vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ".

Chúa Giêsu trả lời họ rằng: "Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa".

Lời Chúa: 2Mcb. 7, 1-2.9-14; 2Tx. 2,16–3,5; Lc. 20, 27-38

Sự sống đời NÀY VÀ ĐỜI sau - ViKiNi

(Trích trong 'Xây Nhà Trên Đá' của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Hầu hết nhân loại đều tin con người qua khỏi đời này, sẽ có một cuộc sống khác: một cuộc sống đời sau, một cuộc sống lại, không phải chết là hết. Nhưng có một số người không tin có sự sống khác sau khi chết, nên họ đã đặt ra những vấn nạn vô lý.

Thời Đức Giêsu, phái Sa đốc (Sadduceéns) không tin có sự sống lại. Họ đã tưởng tượng ra câu chuyện khá lố bịch để hỏi Đức Giêsu: "Nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả cưới vợ rồi chết không con. Theo luật Môsê, người em phải lấy chị góa đó để có con nối dòng, và cả bảy anh em đều chết không con. Khi sống lại, chị góa đó là vợ ai?"

Nếu nhận có sự sống lại theo họ nghĩ thì thật căng, thật khó xử và gây rất nhiều rắc rối. Vậy phải chấp nhận không có sự sống lại là khỏe, là giải quyết êm đẹp mọi vấn đề rắc rối! Họ khoái trí với lý luận đó và nhiều lý luận quá vật chất như thế. Lý luận của những người dựa vào giả thuyết tiến hóa của Charler Robert Darwin (1809-1882) cũng thế. Giả thuyết này cho rằng: mọi sinh vật đều có chung một tổ tông. Những hình thức cao hơn của đời sống phát sinh từ những biến dạng của những hình thức đơn giản hơn (Funk &Wagnalls: Encyclopedia). Đó mới chỉ là giả thuyết (hypothesis) chưa được xác minh theo phương pháp khoa học. Nếu mọi sinh vật đều bởi một Ông tổ vật chất nẩy sinh đột biến, thì chết đều trở về vật chất, không còn sự sống nữa.

Những người không tin có sống lại đó, họ vẫn xây những ngôi mộ thật đẹp, những lăng tẩm thật vững chắc. Họ kỷ niệm ngày chết tổ tiên, anh hùng long trọng. Chẳng lẽ họ lại tô điểm cho cái xác đã rữa thối? Tôn vinh những ngôi mộ bằng đất đá? Như vậy, miệng thì chối không có sự sống lại. Nhưng việc họ làm chứng tỏ lòng họ tiềm ẩn một niềm tin sống lại. Nếu chỉ vì ghi công và noi gương các bậc anh hùng, vĩ nhân thì cách tốt nhất là ghi lại trong sử xanh lưu danh muôn thuở. Mồ mả quá tốn phí, lại chóng đổ nát. Những người nhân danh khoa học để chối không có sống lại, không có Thiên Chúa, mà xây mồ mả như thế là phản khoa học.

May mắn thay số người như vậy quá ít, so với hầu hết nhân loại tin có sống lại, tin có Thiên Chúa Ông Eymieu đã công bố bảng thống kê 432 nhà bác học thế kỷ 19 thì có 367 vị tin có Thiên Chúa và sự sống lại. Bác sĩ Dennaert người Đức cho biết trong số 300 nhà bác học lỗi lạc nhất ở 4 thế kỷ vừa qua có 242 vị tin, 38 vị không rõ lập trường, 20 vị không tin và dửng dưng" (VQ. Đi Về Đâu - tr.39; René Courtois: Des Savants nous parlent de Dieu. p. 11).

Những tôn giáo vĩ đại như Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo đều tin có đời sau. Vạn thế sư biểu như Khổng Tử tin rằng chết là an nghỉ ngàn thu. Khi Tử Cống xin nghỉ học về thờ phụng cha mẹ cho khỏi mệt. Khổng Tử bảo việc nào trên đời này làm trọn bổn phận đều rất khó nhọc, nghỉ sao được! Tử Cống thất vọng kêu lên: Vậy con không có lúc nào được nghỉ ư? Khổng Tử đáp: Có chứ, lúc nào con thấy cái huyệt đào nhẵn nhụi, cái mộ được đắp chắn, người đưa con bỏ về. Bấy giờ là lúc con được nghỉ. Cống reo lên: Vậy chết hay thật, quân tử thì được nghỉ ngơi, tiểu nhân hết làm bậy" (Giảm chi. Đại vương THTH. Tr. 54). Khổng Tử còn dạy hiếu đối với cha mẹ: "Sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế" (Luận ngữ II, 5). Người Việt Nam tin chết là thể phách, còn là tinh anh, sinh ký tử qui. Sinh là ký gởi, chết là về cội nguồn tinh anh.

Hầu hết nhân loại tin có sự sống đời sau, nhưng chưa biết rõ thế nào. Bậc chí thành như Khổng Tử đã thú nhận rằng: "Vị tri sinh, yên tri tử": Chưa biết rõ cái lẽ sống, thì cái lẽ chết cứ để yên đó. Chỉ mình Đức Giêsu là biết rõ cái lẽ chết đời sau, Người nói:

Thứ nhất: Đời này cưới lấy chồng vợ, đời sau thì không. Những ai được xét xứng đáng thì được hạnh phúc đời sau. Xét như một cuộc thi tuyển, chỉ tuyển những người sống xứng đáng ở đời này mới được thưởng hạnh phúc đời sau.

Thứ hai: Họ sống lại được giống như thiên thần. Đời sống Thiên Thần hoàn vượt trên tầm hiểu biết của trí thức khoa học và vượt mọi kinh nghiệm của loài người. Thiên Thần là bậc thiêng liêng tinh thần, không có hình hài thể xác cho nên không bị chết nữa, và các ngài đang được hưởng hạnh phúc vinh quang Thiên Chúa. Chúng ta khi được sống lại cũng được sống như các ngài. Chúng ta có thể ví đời sau khác với đời này, như đứa trẻ khác với khi nó sống trong bào thai, như con bướm khác với lúc nó là con sâu, như cây xanh tốt khác với hạt mọc nên nó. Tuy vậy, nó có sự tiếp tục từ bào thai sang đứa trẻ, từ con sâu thành con bướm, từ hạt giống mọc nên cây.

Thứ ba: họ sống lại được làm con Thiên Chúa, sống thân mật với Thiên Chúa là Cha mà họ suốt đời kính mến hết lòng. Không còn vinh phúc nào hơn nữa, nên thánh Phaolô hằng "cầu xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã lấy lòng nhân hậu mà ban cho chúng ta niềm phấn khởi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp" (Bài đọc II)

Sau hết: Họ sống lại vì Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống chứ không phải của kẻ chết. Thiên Chúa đã dựng nên họ, đã cứu chuộc họ, đã chọn họ, yêu thương họ như các tổ phụ Abraham, Isaác, Giacóp để họ sống hưởng hạnh phúc trong gia đình đầy yêu thương của Thiên Chúa, chứ không phải để họ chết. Lời tung hô Alêluia đã reo vang lên: "Vạn tuế Đức Kitô, Đấng đầu tiên từ cõi chết sống lại. Người vinh hiển quyền năng, Vạn vạn tuế!". Người là đầu thân thể đã sống lại để cho chi thể được sống lại với Người.
Lạy Chúa, là Cha chúng con, đã dựng nên và cứu độ chúng con. Xin NHỜ THÁNH THẦN DẪN DẮT, chúng con luôn sống theo luật yêu thương của Chúa, dù gặp gian nan khốn cực đến đâu, chúng con quyết TÂM noi gương bảy anh em Macabê để được sống lại vinh phúc đời đời.

--------------------------

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - GIA-KÊU QUYẾT TÂM PDF Print E-mail

Tinh Cao

SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa : CN31TN-C

Bài Ðọc I: Kn 11, 23 - 12, 2

"Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa yêu thương mọi tạo vật".

Trích sách Khôn Ngoan.

Lạy Chúa, trước mặt Chúa, cả vũ trụ ví như hạt gạo trên đĩa cân, và như hạt sương sa trên mặt đất trước lúc rạng đông. Nhưng Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa có thể tác tạo mọi sự, và nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người để họ ăn năn sám hối. Chúa yêu thương mọi tạo vật, và không ghét bỏ bất cứ vật gì Chúa đã tác thành: vì nếu Chúa ghét bỏ một vật gì, thì Người đâu có tác tạo nó.

Nếu Chúa không ưng, thì làm sao một vật có thể tồn tại được? Hoặc vật gì Chúa không kêu gọi, thì làm sao nó duy trì được? Nhưng Chúa dung thứ hết mọi loài: vì chúng thuộc về Chúa. Lạy Chúa, Chúa yêu thương các linh hồn.

Ôi lạy Chúa, thần trí của Chúa tốt lành và hiền hậu đối với mọi loài là dường nào! Vì thế, lạy Chúa, Chúa từ từ sửa phạt những kẻ lầm lạc, khuyên răn và dạy bảo những kẻ phạm lỗi, để họ từ bỏ tội ác mà tin theo Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 144, 1-2. 8-9. 10-11. 13cd-14

Ðáp: Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa, con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời

(x. c. 1).

Xướng: 1) Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa, con sẽ ca khen Chúa, và con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời. Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời. - Ðáp.

2) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài.- Ðáp.

4) Chúa trung thành trong mọi lời Ngài phán, và thánh thiện trong mọi việc Ngài làm. Chúa nâng đỡ hết thảy những ai sa ngã, và cho mọi kẻ khòm lưng đứng thẳng lên. - Ðáp.

Bài Ðọc II: 2 Tx 1, 11 - 2, 2

"Danh Chúa được vinh hiển trong anh em, và anh em được vinh hiển trong Người".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.

Anh em thân mến, chúng tôi hằng cầu nguyện cho anh em: Thiên Chúa chúng ta đoái thương làm cho anh em nên xứng đáng ơn Chúa kêu gọi anh em, và xin Người dùng quyền phép mà kiện toàn những ý định ngay lành do lòng tốt của anh em và công việc của lòng tin anh em, để danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, được vinh hiển trong anh em, và anh em được vinh hiển trong Người, do ân sủng của Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và của Chúa Giêsu Kitô.

Anh em thân mến, nhân về ngày trở lại của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và về sự chúng ta tập họp bên cạnh Người, chúng tôi nài xin anh em chớ vội để mình bị giao động tinh thần, và đừng hoảng sợ bởi có ai nói tiên tri, hoặc bởi lời rao giảng hay bởi thư từ nào được coi như do chúng tôi gởi đến, mà nói như thể ngày Chúa gần đến.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 19, 1-10

"Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu vào Giêricô và đi ngang qua thành, thì kìa, có một người tên là Giakêu, ông thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có. Ông tìm cách để nhìn xem Chúa Giêsu là người thế nào, nhưng không thể được, vì người ta đông quá, mà ông lại thấp bé. Vậy ông chạy lên trước, trèo lên một cây sung để nhìn xem Người, vì Người sắp đi ngang qua đó.

Khi vừa đến nơi, Chúa Giêsu nhìn lên và trông thấy ông ấy, nên Người bảo ông rằng: "Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi". Ông vội vàng trụt xuống và vui vẻ đón tiếp Người. Mọi người thấy vậy, liền lẩm bẩm rằng: "Ông này lại đến trọ nhà một người tội lỗi".

Ông Giakêu đứng lên thưa cùng Chúa rằng: "Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn". Chúa Giêsu bảo ông ấy rằng: "Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất".

Ðó là lời Chúa.

 

CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI: Chia sẻ suy niệm

Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật XXXI Thường Niên Năm C hôm nay, thời điểm càng cận kề với thời điểm kết thúc một phụng niên, lại càng phản ảnh hơn nữa chiều hướng cánh chung, liên quan chẳng những đến ngày cùng tháng tận, mà còn nhất là liên quan đến lòng thương xót Chúa, qua việc cứu độ của Thiên Chúa nơi Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Đấng sẽ "xuất hiện lần thứ hai để mang ơn cứu độ đến cho những ai thiết tha trông đợi Người" (Do Thái 9:28).

Trước hết, về ngày cùng tháng tận, hay về lần đến thứ hai của Chúa Giêsu Kitô, Thánh Phaolô đã cảnh giác trong Thư 2 gửi Giáo đoàn Thessalonica ở Bài Đọc 2 hôm nay như sau:

"Anh em thân mến, nhân về ngày trở lại của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và về sự chúng ta tập họp bên cạnh Người, chúng tôi nài xin anh em chớ vội để mình bị giao động tinh thần, và đừng hoảng sợ bởi có ai nói tiên tri, hoặc bởi lời rao giảng hay bởi thư từ nào được coi như do chúng tôi gởi đến, mà nói như thể ngày Chúa gần đến".

Ở đây, Thánh Phaolô không chối bỏ sự kiện Chúa Kitô đến lần thứ hai, mà là trấn an giáo đoàn này đang hoang mang lo lắng về biến cố này dường như sắp xẩy đến, qua những gì họ được phao tin từ các nguồn khác nhau trong cộng đoàn của họ. Để trấn an họ, chính ngài đã cho họ dấu báo cho thấy những gì sẽ xẩy ra và phải xẩy ra thời điểm xuất hiện của Chúa Kitô, cũng trong cùng bức thư này, ở ngay câu kế tiếp như sau:

"Tên đối thủ tôn mình lên trên tất cả những gì được gọi là thần và được sùng bái, thậm chí nó còn ngồi trong Đền Thờ Thiên Chúa và tự xưng là Thiên Chúa. Khi tôi còn ở với anh em, tôi đã từng nói những điều ấy, anh em không nhớ sao? Anh em biết cái gì hiện đang cầm giữ nó, khiến nó sẽ chỉ xuất hiện được vào thời của nó. Thật vậy, mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành. Chỉ đợi người cầm giữ nó bị gạt ra một bên, bấy giờ tên gian ác sẽ xuất hiện, kẻ mà Chúa Giê-su sẽ giết chết bằng hơi thở từ miệng Người, và sẽ tiêu diệt bằng ánh huy hoàng, khi Người quang lâm" (câu 4-8).

Sau nữa, về lòng thương xót Chúa, Sách Khôn Ngoan ở Bài Đọc 1 hôm nay đã cảm nhận rất chính xác về Ngài như sau: "Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa có thể tác tạo mọi sự, và nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người để họ ăn năn sám hối. Chúa yêu thương mọi tạo vật, và không ghét bỏ bất cứ vật gì Chúa đã tác thành: vì nếu Chúa ghét bỏ một vật gì, thì Người đâu có tác tạo nó. Nếu Chúa không ưng, thì làm sao một vật có thể tồn tại được? Hoặc vật gì Chúa không kêu gọi, thì làm sao nó duy trì được? Nhưng Chúa dung thứ hết mọi loài: vì chúng thuộc về Chúa. Lạy Chúa, Chúa yêu thương các linh hồn. Ôi lạy Chúa, thần trí của Chúa tốt lành và hiền hậu đối với mọi loài là dường nào! Vì thế, lạy Chúa, Chúa từ từ sửa phạt những kẻ lầm lạc, khuyên răn và dạy bảo những kẻ phạm lỗi, để họ từ bỏ tội ác mà tin theo Chúa".

Nếu lòng thương xót Chúa được hoàn toàn tỏ hiện vào lần đến thứ nhất của Chúa Kitô, nơi cuộc Vượt Qua của Người nói chung, nhất là nơi cuộc khổ nạn và tử giá của Người, thì lòng thương xót Chúa của Người và nơi Người vẫn tiếp tục trở thành ơn cứu độ cho những ai tin tưởng vào Người, và chỉ những ai tin tưởng vào Người, chấp nhận tình yêu vô cùng nhân hậu của Người mới được cứu độ.

Bài Phúc Âm hôm nay, bài Phúc Âm được Thánh ký Luca trình thuật, vị Thánh ký viết ra một cuốn Phúc Âm chuyên về lòng thương xót Chúa đối với tội nhân cũng như dân ngoại, đã chứng thực chân lý này, qua sự kiện gặp gỡ giữa Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế và viên trưởng ban thu thuế Giakêu là tội nhân cần được cứu chuộc. Nhân vật trưởng ban thu thuế Giakêu này, một con người thuộc thành phần bị xã hội Do Thái bấy giờ cho là phản quốc và gian tham, thành phần đáng bị khinh bỉ, thành phần cũng cảm thấy mình có tội thật, đã bắt đầu tỏ ra tin tưởng vào Đấng Thiên Sai Cứu Thế, bằng kẽ hở tò mò của mình, ở cử chỉ vừa muốn được thấy Người, lại vừa muốn tránh né những ánh mắt dòm ngó khinh bỉ của dân mình:

"Khi ấy, Chúa Giêsu vào Giêricô và đi ngang qua thành, thì kìa, có một người tên là Giakêu, ông thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có. Ông tìm cách để nhìn xem Chúa Giêsu là người thế nào, nhưng không thể được, vì người ta đông quá, mà ông lại thấp bé. Vậy ông chạy lên trước, trèo lên một cây sung để nhìn xem Người, vì Người sắp đi ngang qua đó".

Tuy nhiên, lòng thương xót Chúa bao giờ cũng đi bước trước, thậm chí bao gồm cả tác động tò mò và leo lên cây của nhân vật trưởng ban thu thuế Giakêu này cũng do lòng thương xót Chúa tác động, để rồi chính lòng thương xót Chúa đã chủ động đáp ứng ước vọng muốn "nhìn xem" của con người tội lỗi này, hoàn toàn bất ngờ với ngay chính đương sự, đang ẩn mình hết sức kín đáo, bởi mặc cảm tội lỗi, và tưởng rằng không ai, thậm chí chính Đấng chàng đang "tìm cách để nhìn xem là người thế nào", biết được mình đang ở đó. Đúng thế, lòng thương xót Chúa đã chủ động và tự động đối với con chiên lạc đang từ trong hang động tối tăm tội lỗi bấy giờ đã thập thò cái đầu của nó ở gần hang động, bằng cách lên tiếng kêu gọi nó:

"Khi vừa đến nơi, Chúa Giêsu nhìn lên và trông thấy ông ấy, nên Người bảo ông rằng: 'Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi'. Ông vội vàng trụt xuống và vui vẻ đón tiếp Người. Mọi người thấy vậy, liền lẩm bẩm rằng: 'Ông này lại đến trọ nhà một người tội lỗi'".

Trong trường hợp gặp gỡ nhân vật thu thuế tội lỗi Giakêu này, lòng thương xót Chúa không phải chỉ muốn tỏ mình ra cho riêng cá nhân của đương sự, mà còn cho cả những con người vốn tự cho mình là công chính, khinh bỉ những con người tội lỗi, cả nam lẫn nữ, như thành phần gái điếm và thu thuế. Nhất là cho thành phần tự mãn về sự công chính nhưng đầy giả hình của họ thấy được rằng muốn được cứu độ họ phải nhận biết lòng thương xót Chúa, phải biết thương người hơn là chỉ biết lễ vật cho Chúa.

Và đó là lý do mới xẩy ra những gì tuyệt vời nhất tại nhà của nhân vật thu thuế giầu có Giakêu này, nhưng lại là một tội nhân biết thống hối ăn năn, khi bản thân của chàng thực sự cảm nghiệm được lòng thương xót Chúa đối với bản thân vô cùng bất xứng của chàng, qua sự kiện Chúa Giêsu Kitô chủ động gọi đích danh tên chàng, lại còn tự động ngỏ ý muốn đến với chàng, chứ không tỏ ra khinh bỉ chàng và không xa tránh chàng, như xã hội dân của chàng vốn đối xử với một thứ ghẻ lở xã hội như chàng. Biến cố viên trưởng ban thu thuế Giakêu giầu có này đã đột nhiên biến đổi hoàn toàn con người của mình, đã được Thánh ký Luca cho biết trong bài Phúc Âm hôm nay như sau:

"Ông Giakêu đứng lên thưa cùng Chúa rằng: 'Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn'. Chúa Giêsu bảo ông ấy rằng: 'Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất'".

Cảm nghiệm thần linh của viên trưởng ban thu thuế Giakêu trong bài Phúc Âm hôm nay trước lòng thương xót Chúa và ơn cứu độ nhưng không của Chúa, được phản ảnh nơi tâm tình của Thánh Vịnh 144 (1-2. 8-9. 10-11. 13cd-14) ở bài Đáp Ca hôm nay:

1) Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa, con sẽ ca khen Chúa, và con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời. Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời.

2) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa.

3) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài.

4) Chúa trung thành trong mọi lời Ngài phán, và thánh thiện trong mọi việc Ngài làm. Chúa nâng đỡ hết thảy những ai sa ngã, và cho mọi kẻ khòm lưng đứng thẳng lên.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

TN.CNXXXI-C.mp3

--------------------------------

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - CN28TN-C PDF Print E-mail

Jerome Nguyen Van Noi

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN NĂM C (13/10/2019)

LÒNG BIẾT ƠN VÀ LỜI TẠ ƠN

[ 2 V 5,14-17; 2 Tm 2,8-13; LC 17,11-19]

I. DẪN VÀO LỜI CHÚA YÊU TÔI

Trong các nền văn hóa, dù Đông hay Tây Phương, dù văn minh hay mọi rợ, thì lòng biết ơn và lời cám ơn là nét đẹp văn hóa vô cùng quan trọng. Biết ơn và cám ơn không chỉ ở lãnh vực và cấp độ cá nhân, mà cả ở lãnh vực và cấp độ quốc gia. Lễ Tế Đàn Nam Giao của các vua triều Nguyễn là nét đẹp của văn hóa Việt Nam: Ngày đầu năm nhà vua dâng lễ vật và lời tạ ơn lên Trời Đất, thay cho bá quan văn võ và thần dân. Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) cuối tháng 11 mỗi năm là nét đẹp của văn hóa Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Lễ này đã có từ thời những người Anh đến lập nghiệp trên mảnh đất mênh mông và trù phú này.

Với các Ki-tô hữu, dù thuộc dân tộc và nền văn hóa nào, thì lòng biết ơn và lời cám ơn còn mang một chiều kích tôn giáo và tâm linh, vừa nhân bản vừa linh thiêng sâu sắc. Thánh Lễ Mi-sa được gọi là Lễ Tạ Ơn. Vì chưng, có ơn nào cao trọng cho bằng Ơn Cứu Độ mà Chúa Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa làm nguời, đã đem đến cho nhân loại bằng cuộc Thưong Khó và cái chết thập giá của Người? Chúng ta hãy học bài học của tướng Na-a-man (bài đọc 1), của Thánh Phao-lô (bài đọc 2), và của người bệnh phong Sa-ma-ri được chữa lành (bài Phúc Âm), mà sống và thể hiện lòng biết ơn của chúng ta đối với Thiên Chúa và Chúa Giê-su Ki-tô. Vì thế cho nên mỗi khi chúng ta cầu nguyện cùng Thiên Chúa, thì tâm tình và lời "tạ ơn" phải là tâm tình và lời nói trước nhất của chúng ta.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 1 (2 V 5,14-17) : "Na-a-man trở lại gặp người của Thiên Chúa và ông tuyên xưng Chúa" Trong những ngày ấy, Na-a-man, quan lãnh binh của vua xứ Sy-ri-a, xuống tắm bảy lần ở sông Gio-đan như lời tiên tri, người của Thiên Chúa dạy, da thịt ông lại trở nên tốt như da thịt của đứa trẻ, và ông được sạch.

Sau đó, ông và đoàn tuỳ tùng trở lại gặp người của Thiên Chúa. Đến nơi, ông đứng trước mặt người của Thiên Chúa và nói: "Thật tôi biết không có Thiên Chúa nào khác trên hoàn vũ, ngoài một Thiên Chúa ở Is-ra-el. Vì thế, tôi xin ông nhận lấy phần phúc của tôi tớ ông".

Tiên tri trả lời rằng: "Có Chúa hằng sống, tôi đang đứng trước mặt Người: Thật tôi không dám nhận đâu". Na-a-man cố nài ép, nhưng tiên tri không nghe. Na-a-man nói thêm rằng: "Tuỳ ý ông, nhưng tôi xin ông ban phép cho tôi, là đầy tớ của ông, được chở một ít đất vừa sức hai con la chở được, vì từ nay ngoài Chúa, tôi tớ của ông sẽ chẳng dâng của lễ toàn thiêu hoặc hy lễ cho thần minh nào khác".

2.2 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 2 (2 Tm 2,8-13) : "Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Đức Ki-tô" Con thân mến, con hãy nhớ rằng Chúa Giê-su Ki-tô bởi dòng dõi Đa-vít, đã từ cõi chết sống lại, theo như Tin Mừng cha rao giảng. Vì Tin Mừng đó mà cha phải đau khổ đến phải chịu xiềng xích như một kẻ gian ác, nhưng lời của Thiên Chúa đâu có bị xiềng xích! Vì thế, cha cam chịu mọi sự vì những kẻ được tuyển chọn, để họ được hưởng ơn cứu độ cùng với vinh quang trên trời trong Đức Giê-su Ki-tô.

Đây cha nói thật: Nếu chúng ta cùng chết với Người, thì chúng ta cùng sống với Người. Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. Nếu chúng ta chối bỏ Người, thì Người cũng sẽ chối bỏ chúng ta. Nếu chúng ta không tin Người, Người vẫn trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình Người.

2.3 Lắng nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng (Lc 17,11-19: "Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này" Khi Chúa Giê-su đi lên Giê-ru-sa-lem, Người đi qua biên giới Sa-ma-ri-a và Ga-li-lê-a. Khi Người vào một làng kia, thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: "Lạy Thầy Giê-su, xin thương xót chúng tôi". Thấy họ, Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế". Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giê-su và tạ ơn Người, mà người ấy lại là người xứ Sa-ma-ri-a.

Nhưng Chúa Giê-su phán rằng: "Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này". Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: "Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân dung Thiên Chúa trong 3 bài Thánh Kinh

3.1.1 Bài đọc 1 (2 V 5,14-17) là câu truyện ông Na-a-man, một vị tướng chỉ huy quân đội của vua A-ram (Xy-ri), được chữa lành khỏi bệnh phong nhờ tắm sông Gio-đan bẩy lần theo lời khuyên của ngôn sứ Ê-li-sa. Để tỏ lòng biết ơn, ông Na-a-man đã trở lại gặp vị ngôn sứ, long trọng tuyên bố rằng "trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Ít-ra-en". Ông Na-a-man còn xin tặng quà cho ông Ê-li-sa. Vì vị ngôn sứ nhất định không nhận, nên ông xin được lấy một ít đất mang về quê hương để luôn nhớ đến ơn chữa lành của Thiên Chúa Ít-ra-en.

Nhờ đoạn của Sách Các Vua (5,14-17) này, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng đã dùng nước sông Gio-đan mà chữa lành ông Na-a-man khỏi bệnh phong. Bệnh phong là bệnh ngoài da nhưng có căn nguyên, gốc rễ từ bên trong thân thể con người. Bệnh phong là một bệnh gớm ghiếc trước mắt mọi người, nhất là ở thời xưa. Thiên Chúa chữa lành tướng Na-a-man khỏi bệnh phong là giải thoát ông chẳng những khỏi bệnh mà còn khỏi mặc cảm và xấu hổ với mọi người.

3.1.2 Bài đọc 2 (2 Tm 2,8-13) là những lời giảng dậy hay đúng hơn là lời tâm sự hay chia sẻ thân tình của Thánh Phao-lô với người cộng sự thân yêu là ông Ti-mô-thê. Tuy chỉ là đôi lời ngắn ngủi nhưng lại mang một nội dung sâu sắc và cốt yếu của Ki-tô giáo: Chúa Giê-su đã sống lại từ cõi chêt. Người gắn bó và liên kết chặt chẽ với những ai tin vào Người, đến độ vẫn trung tín với ta ngay cả khi ta không trung tín với Người. Vì khám phá ra Chúa Giê-su là Đấng như thế nên Thánh Phao-lô sẵn sàng, "chịu khổ" và "phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi" vì Tin Mừng của Chúa Giê-su.

Trong đoạn thư thứ hai gửi ông Ti-mô-thê (2,8-13) chúng ta thấy Chúa Giê-su, - Thiên Chúa làm người - là Đấng thật tuyệt vời như Thánh Phao-lô đã quảng diễn trong câu này: "Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người. Nếu ta chối bỏ Người, Người cũng sẽ chối bỏ ta. Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình."

3.1.3 Bài Tin Mừng (Lc 17,11-19) là câu truyện Chúa Giê-su chữa lành 10 người bị bệnh phong mà chỉ có một người trở lại cám ơn Chúa. Câu truyện xẩy ra trong vùng biên giới giữa Sa-ma-ri và Ga-li-lê. Ga-li-lê là đất dân nội (có đạo); còn Sa-ma-ri là đất dân ngoại (không có đạo, đối với con mắt của người Do-thái thời Chúa Giê-su). 9 người có đạo được ơn chữa lành đều đi luôn. Chỉ có 1 người ngoại đạo được ơn chữa lành là biết quay trở lại để cám ơn Chúa Giê-su là người đã chữa lành anh. Chữa lành hiểu theo hai nghĩa: khỏi bệnh phần xác, được hội nhập cộng đồng.

Nhờ đoạn Phúc âm Lc 17,11-19 này chúng ta khám phá ra Thiên Chúa và Chúa Giê-su, Thiên Chúa làm người, là Đấng ban ơn cho hết mọi người: cho người ở trong cũng như kẻ ở ngoài (tức cho người giáo cũng như kẻ lương), cho người biết ơn cũng như người quên ơn, cho người lành cũng như kẻ dữ, cho kẻ trung tín cũng như kẻ bất trung....

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa

Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay gồm hai khía cạnh, một ở phía Thiên Chúa, một ở phía chúng ta:

* Phía Thiên Chúa: Thiên Chúa và Chúa Giê-su, Thiên Chúa làm người, là Đấng ban ơn cho hết mọi người: cho người ở trong cũng như kẻ ở ngoài, (tức cho người giáo cũng như kẻ lương), cho người biết ơn cũng như người quên ơn, cho người lành cũng như kẻ dữ, cho kẻ trung tín cũng như kẻ bất trung....

* Phía chúng ta: Thiên Chúa làm ơn không phải để được đền ơn. Nhưng người chịu ơn phải biết thể hiện lòng biết ơn. Cách tốt nhất và đầy đủ nhất để thể hiện lòng biết ơn là nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa duy nhất (như tướng Na-a-man), Chúa Giê-su la Chúa (như người phong Sa-ma-ri) và dấn thân loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa (như Thánh Phao-lô).

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa là Đấng đã ban muôn vàn ơn cho nhân loại, trong đó có mỗi người chúng ta. Ơn lớn lao nhất là Ơn cứu độ.

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa

Suy nghĩ một chút, tôi thấy để thực thi sứ điệp của Lời Chúa hôm nay, tôi phải làm 2 việc sau đây:

Nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa duy nhất, Chúa Giê-su là Chúa, của toàn thể nhân loại và của riêng tôi; là Đấng ban ơn cho hết mọi người; là Đấng đã ban cho tôi tất cả (sự hiện hữu, xác, hồn. sức khỏe, khả năng, của cải, thời gian, cơ hội, hoàn cảnh sống và phục vụ).

Thể hiện lòng biết ơn đối với Thiên Chúa bằng tâm tình biết ơn và lời ca tạ ơn; bằng cống hiến cho công cuộc loan báo Tin Mừng và phục vụ tha nhân theo phương châm là chính lời của Chúa Giê-su "Được nhưng không, hãy cho đi nhưng không!"

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 «Tướng Na-a-man bước vào, đứng trước mặt ông Ê-li-sa và nói: «Nay tôi biết rằng: trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Ít-ra-en.» Cùng với Đức Mẹ Mân Côi, chúng ta cùng dâng lời cầu xin Chúa cho các dân, các nước sớm nhận ra Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và Cứu Độ mà tôn thờ một mình Người mà thôi.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.2 «Đây là lời đáng tin cậy: Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người.» Cùng với Đức Mẹ Mân Côi, chúng ta cùng dâng lời cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục và Phó Tế và cho hết mọi Ki-tô hữu để mọi thành phần Dân Chúa sống gắn bó mật thiết với Chúa Giê-su Ki-tô là Cứu Chúa của nhân loại.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.3 «Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?» Cùng với Đức Mẹ Mân Côi, chúng ta cùng dâng lời cầu xin Chúa cho các Ki-tô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, để mọi giáo dân lớn bé già trẻ biết thể hiện lòng biết ơn đối với Thiên Chúa là Đấng ban mọi ơn lành.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.4 «Nếu ta chối bỏ Người, Người cũng sẽ chối bỏ ta.» Cùng với Đức Mẹ Mân Côi, chúng ta cùng dâng lời cầu xin Chúa cho những người đã lãnh nhận Bí Tích Phép Rửa mà nay sao lãng với đời sống Đạo, để họ ý thức về sự thiệt thòi và nguy hiểm đang được dành cho họ.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

Sàigòn ngày 06 tháng 10 năm 2019
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

-----------------------------------------

 

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 53