mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay11945
mod_vvisit_counterHôm Qua21651
mod_vvisit_counterTuần Này45644
mod_vvisit_counterTuần Trước73753
mod_vvisit_counterTháng Này389017
mod_vvisit_counterTháng Trước449567
mod_vvisit_counterTất cả27397657

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGOI TIN HUU TRUONG THANH # 90 = O LAI TRONG CHÚA PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] Hãy ở lại trong tình yêu Thiên Chúa.+
'Dinh Xuan Quang' This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it [HocHoiKinhThanh]
May 22 at 7:14 PM

HÃY Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU THIÊN CHÚA, DTC DỘNG VIÊN TÍN HỮU

Vatican City, ngày 22-05-2014/01:31pm

Trong ngày thứ năm, Đức Thánh Cha Phanxico đã khuyến khích tín hữu "sống trong tình yêu Thiên Chúa, suy niệm về ba "chữ tối cần " của Chúa GiÊsu : bình an, yêu mến và hoan lạc.

"Thiên hướng người Kito hữu là thế này: để ở lại trong tình yêu Thiên Chúa, đó là, ta hít thở để sống là khí o-xi, để sống loại không khí ấy," Đức Thánh Cha đã nói trong bài huấn từ cho những người tập họp tại nhà khách Thánh Marta trong thánh lễ hôm thứ năm.

Đức Thánh Cha ghi chú : Tình yêu của Chúa Giêsu là một tình yêu đến từ Đức Chúa Cha."

"Sự tương quan yêu mến giữa Đức Chúa Giêsu với Đức Chúa Cha cũng là tương quan yêu mến giữa Đức Chúa Giêsu và chúng ta. Người yêu cầu chúng ta ở lại trong tình yêu này, tình yêu đến từ Đức Chúa Cha," DGH nói.

Đức Giáo Hoàng tập trung vào lời khuyên của Chúa Giêsu trong Phúc Âm của thánh Gioan "Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy," Biểu hiệu của sự ở lại trong tình yêu này là "tuân giữ những điều răn ."

"Trong khi ta ở trong tình yêu," Đức Thánh Cha nói, "những Điều răn đi theo ý riêng của chúng, bắt nguồn từ tình yêu."

Tình yêu dẫn dắt ta hoàn thành những giới răn cách tự nhiên. Căn nguyên tình yêu sinh ra hoa quả trong những giới răn."

Về đề mục bình an, Đức Thánh Cha Phanxico^ ghi nhận rằng : Đức Chúa Giêsu nói Người không ban bình an "theo cách thức thế gian ban cho ta." Đúng hơn, Người ban bình an cho chúng ta mãi mãi."

Đức Thánh Cha cũng làm cho ta nhận thấy sự hoan lạc là "biểu hiệu của người Kitô hữu."

"Một người Kito hữu thiếu sự vui vẻ thì hoặc là người ấy không là Kito hữu, hoặc người ấy đang ốm đau. Không có loại khác!" DTC nói với cộng đoàn ở trong nhà khách Thánh Marta.

"Một người Kito hữu mạnh khỏe là một người Kito hữu vui vẻ, vui sướng," Người nói. Sự nhắc lại những chỉ trích trước của người về những người Kito hữu bằng "vẻ mặt nhăn nhó như ớt ngâm giấm" và mặt dài ra.

"Một người Kito hữu thiếu vui vẻ thì không là người Kito hữu. Sự vui vẻ như là một ấn tín của người Kito. Ngay cả khi đau yếu, buồn khổ, bách hại, khủng bố," Người nói thêm.

ĐTC ghi nhận sự hoan hỉ của những vị Tử Đao đầu tiên đã nói được đến pháp trường tử vì đạo "như đang đi tham dự tiệc cưới."

DTC nhấn mạnh rằng Đức Chúa Thánh Thần ban sự vui mừng cho những kito hữu. Người hỏi cộng đoàn có bao nhiêu người đã cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần, người đã xác định rõ rang Ngôi Thứ Ba trong Ba Ngôi như " một sự quên sót trầm trọng trong cuộc đời của ta."

"Đức Chúa Thánh Thần là một ân sủng, một ân sủng ban cho ta bình an, dậy bảo ta biết yêu thương và tràn đầy niềm vui."

__._,_.__

 
NGOI TIN HUU TRUONG THANH # 89 = KITO GIAO DUY NHAT? PDF Print E-mail

Điều gì làm Kitô giáo duy nhất? - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ GotQuest
May 4 at 8:18 PM

Điều gì làm Kitô giáo duy nhất?

Chúng ta may mắn có niềm tin Kitô giáo, đặc biệt là Công giáo, nhưng niềm tin đó có trưởng thành theo thời gian hay vẫn "lùn tịt" như cũ? Chúng ta có tìm hiểu lý do mình tin Đức Kitô hay chỉ tin như một thói quen? Cây Đức Tin có được chúng ta vun xới và chăm sóc hằng ngày? Chúng ta cùng tìm hiểu để sớm trưởng thành về Đức Tin Kitô giáo!

Kitô giáo thực sự duy nhất hay chỉ là một trong ác con đường dẫn tới Chân Lý? Kitô giáo có thực sự duy nhất trong các tôn giáo khác trên thế giới? Nếu vậy, điều già làm cho Kitô giáo duy nhất? Kitô giáo có vài lời tuyên bố khác hẳn các tôn giáo khác.

Thứ nhất, các tôn giáo khác khuyến khích con người đạt tới Thiên Chúa và cố gắng bám vào Ngài. Kitô giáo là nơi duy nhất mà Thiên Chúa đến với con người. Thứ nhì, các tôn giáo khác là các hệ thống các điều NÊN và KHÔNG NÊN để làm vui lòng Thiên Chúa, nhưng Kitô giáo là mối quan hệ với Thiên Chúa. Thứ ba, Kitô giáo coi Kinh Thánh là Nguồn Chân Lý. Thứ tư, Kitô giáo dựa trên sự kiện lạ lùng nhất trong lịch sử nhân loại: Sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô.

Về vấn đề thứ nhất, các tôn giáo khác lưu ý hệ thống công việc — những điều nên làm và những điều nên tránh. Những điều đó khiến chúng ta cảm thấy "tốt đủ" để làm vui lòng Thiên Chúa và xứng đáng đuộc Ngài chiếu cố. Mặt khác, Kitô giáo dựa vào quy luật Kinh Thánh mà chúng ta không bao giờ có thể tốt đủ trước mặt Thiên Chúa là Đấng chí thánh và tuyệt hảo.

Luật Mô-sê được trao cho nhân loại để chứng tỏ với chúng ta rằng chúng ta không thể giữ trọn. Thánh Phaolô đã mô tả mục đích của luật trong chương 3 của thư gởi giáo đoàn Ga-lát. Đó là một "thầy dạy" dẫn chúng ta đến với Đức Kitô vì chúng ta "được nên công chính nhờ tin vào Đức Kitô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy" (Gl 2:16). Việc không thể chu toàn lề luật đã được mặc khải trong điều mà Chúa Giêsu gọi là "điều răn thứ nhất và quan trọng nhất": "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi" (Mt 22:37). Điều này nghĩa là yêu mến Chúa bằng mọi thứ của chúng ta suốt ngày và suốt đêm, không hề nghĩ về mình, đúng là nhiệm vụ bất khả thi đối với phàm nhân chúng ta. Nhưng thay vì trừng phạt, Thiên Chúa đã cung cấp cho chúng ta chính Đức Giêsu Kitô, Đấng đã giữ trọn luật thay cho chúng ta. Nhờ tin vào Ngài và chấp nhận việc Ngài làm thay cho chúng ta, chúng ta được nên công chính. Đó là sự khác nhau giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác.

Về vấn đề thứ nhì, Kitô giáo không là một hệ thống tôn giáo, mà là sự giao tiếp với Thiên Chúa, sự giao tiếp mà Ngài đã khởi đầu và duy trì. Các Kitô hữu tin rằng nhân loại được tạo dựng đặc biệt để giao tiếp với Thiên Chúa, thế nhưng tội lỗi đã tách chúng ta khỏi Ngài (Rm 3:23; Rm 5:12). Kitô giáo dạy rằng Đức Kitô bước đi trên trái đất này, Chúa đó là Thiên Chúa và là Con Người (Pl 2:6-11), và chết trên Thập Giá để phục hồi mối quan hệ đã bị tội lỗi phá vỡ. Sau khi chết trân Thập Giá, Chúa Giêsu được an táng, rồi Ngài sống lại, và nay Ngài vẫn ngự bên hữu Chúa Cha, cầu bầu cho chúng ta mãi mãi (Dt 7:25). Sự thân mật của mối quan hệ này được mặc khải. Nay không còn ai là người phá vỡ lề luật nữa, chúng ta được làm con cái của Ngài trong đại gia đình của Thiên Chúa (Ep 1:5). Thậm chí còn thân mật hơn, các Kitô hữu là chính chi thể trong Nhiệm Thể Đức Kitô, Ngài là Đầu (Ep 1:22-23), được cứu độ bằng Giá Máu của Ngài (Dt 9:12). Không tôn giáo nào xác nhận điều gì tương tự sự thật kỳ lạ này.

Một điều khác làm cho Kitô giáo duy nhất là nguồn thông tin. Các tôn giáo khác có loại nền tảng thông tin nào đó phác họa niềm tin của họ, nhưng không tôn giáo nào có nguồn thông tin tuyên bố về Kinh Thánh, tức là Lời Chúa được viết ra, điều đó không thể sai lầm (bất khả ngộ) và cần thiết để tin và thực hành (2 Tm 3:16). Các Kitô hữu tin rằng Kinh Thánh được Chúa Thánh Thần linh hứng, gọi là Lời Chúa, và giáo huấn đó là quyền cuối cùng (2 Tm 3:16; 2 Pr 1:20-21). Dù các tôn giáo khác có dùng các lời tiên tri, nhưng không chính xác 100% như các lời tiên tri trong Kinh Thánh, và không có lời nào chỉ rõ người nào như Chúa Giêsu, người có những lời tuyên bố kỳ diệu và những hành động khác lạ.

Có thể quy luật xác định nhất của Kitô giáo làm cho Kitô giáo thực sự duy nhất theo mọi cách và cung cấp cho chúng ta nền tảng chính là sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Trong Kitô giáo, sự phục sinh là điều vô cùng quan trọng, nếu không có sự phục sinh, Kitô giáo không tồn tại, và niềm tin của chúng ta là hão huyền (1 Cr 15:14). Chính sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô đã thay đổi cuộc đời các tông đồ. Sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, các tông đồ đều chạy trốn. Nhưng khi gặp Chúa Giêsu phục sinh, họ nhận biết những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm để chứng tỏ Ngài thực sự là Thiên Chúa nhập thể làm người. Không vị lãnh đạo tôn giáo nào đã bị giết chết, bị canh mồ, mà rồi đến ngày thứ ba thì vị đó lại hiện ra với nhiều người khác. Sự phục sinh là bằng chứng về Đức Giêsu và Ngài đã hoàn tất những gì đã được nói trước: Ngài cung cấp phương tiện cứu độ cho loài người.

Đức Phật Thích Ca không sống lại. Muhammad không sống lại. Khổng Tử không sống lại. Krishna không sống lại. Chẳng có ai sống lại. Nhưng chỉ có Đức Giêsu Kitô sống lại, đi trên nước, tuyên bố là Thiên Chúa, và làm cho người khác sống lại. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, chiến thắng Tử Thần. Chỉ có trong Kitô giáo chúng ta mới có Đức Kitô là Thiên Chúa, làm nhiều phép lạ chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa, chỉ có một mình Chúa Giêsu tuyên bố "là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống" (Ga 14:6), và chúng ta chỉ có thể đến với Chúa Cha qua Đức Kitô. Thật hạnh phúc vì niềm tin của chúng ta là chính đáng!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ GotQuestions.org)

Kính chuyển

Hồng

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 88 = DUC TIN CHO KITO HUU PDF Print E-mail

Đức tin thực nghiệm cần thiết cho đời sống Kitô hữu

Nguyễn Chính Kết

1. Hai thứ kiến thức

Sự hiểu biết có hai thứ: hiểu biết như là kiến thức, và hiểu biết như là kinh nghiệm. Chẳng hạn trước khi ra Hà Nội lần đầu, tôi đã nghiên cứu nhiều về thành phố này, bản đồ của Hà Nội như được chụp hình trong tâm trí tôi. Cái biết ấy chỉ là kiến thức, là biết cách lý thuyết. Về sau tôi có dịp ra Hà Nội nhiều lần, sống, làm việc và tiếp xúc với nhiều người ở đây trong nhiều tháng. Tôi có dịp tham quan các hồ, các công viên, các di tích lịch sử... tại đây. Những gì tôi thấy, cảm nghiệm bây giờ đều đúng như những gì tôi biết cách lý thuyết trước khi ra đây. Nhưng cái biết của tôi bây giờ khác với cái biết hồi trước, vì cái biết của tôi bây giờ về Hà Nội làkinh nghiệm, là cái biết thực nghiệm.

Để hiểu biết như là kiến thức, hay hiểu biết cách lý thuyết thì chỉ cần học ở trường, đọc sách, nghe đài, coi truyền hình là có được. Còn hiểu biết như là những kinh nghiệm, hay hiểu biết cách thực nghiệm thì phải từng sống, từng tiếp xúc, từng hưởng thụ hay từng chịu khổ vì người hay vật ta biết. Cái biết sau là cái biết thâm sâu, cái biết đi vào chính hữu thể của đối tượng biết. Biết hay nghiên cứu về rượu, dù biết hay nghiên cứu thấu đáo đến đâu cũng không bao giờ làm ta say; chỉ khi uống rượu – tức kinh nghiệm về rượu – thì mới say. Đó chính là sự khác biệt căn bản giữa hai thứ hiểu biết vừa nói, và hai thứ đức tin sắp nói đến.

2. Hai thứ đức tin

Một cách tương tự, có hai loại niềm tin: tin cách lý thuyết và tin cách thực nghiệm. Tin cách lý thuyết là tin rằng đúng, là chân thật điều mình nghe nói, học hỏi, đọc trong sách báo hay trông thấy qua hình ảnh, tivi... Còn tin cách thực nghiệm là niềm tin đã được sống, đã được kinh nghiệm trong thực tế, nhờ đó ta tin một cách thâm sâu và xác tín. – Khi học giáo lý, ta được dạy rằng Thiên Chúa luôn quan phòng, yêu thương bảo vệ ta. Ta tin vì cho rằng đó là những điều Thiên Chúa mặc khải qua Đức Giêsu, được Giáo Hội lưu truyền lại, và người dạy ta (linh mục, giáo lý viên) không hề nói dối hoặc nói sai. Đó là niềm tin lý thuyết. Nhưng khi gặp nhiều nguy hiểm, khó khăn trong cuộc đời, ta áp dụng niềm tin đó vào thực tế bằng cách phó thác mọi sự cho Chúa, thì thấy lần nào Ngài cũng bảo vệ ta thoát khỏi hiểm nguy, giúp ta giải quyết những khó khăn một cách thật kỳ diệu. Lúc ấy niềm tin của ta vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa là một niềm tin thực nghiệm.

Trong Tin Mừng, khi đọc câu chuyện Đức Giêsu đi trên mặt nước thì ta tin như vậy. Đó là tin cách lý thuyết. Nhưng các tông đồ được thấy tận mắt Ngài đi trên mặt nước đến với mình, riêng Phêrô còn đích thân đi trên mặt nước đến với Ngài, thì niềm tin của các ông vào việc Ngài có khả năng đi trên mặt nước là một niềm tin thực nghiệm. Tuy nhiên, tin rằng chính mình có thể đi trên mặt nước được thì tất cả các tông đồ đều tin như vậy, nhưng vẫn chỉ là tin trên lý thuyết; chỉ riêng Phêrô, người đã thật sự đi trên mặt nước, thì niềm tin của ông về điều này mới là niềm tin thực nghiệm. Ông kinh nghiệm rằng chính niềm tin vững chắc của ông vào khả năng ấy khiến ông làm được điều ấy, vì khi ông nghi ngờ về khả năng ấy, lập tức ông bị chìm xuống.

3. Đời sống tâm linh vững mạnh dựa trên đức tin thực nghiệm

Dường như người Kitô hữu nào sau khi học giáo lý cũng đều tin có Thiên Chúa, tin Ngài có ba ngôi, tin Đức Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, tin có thiên đàng, tin có hỏa ngục... Các nhà thần học thì còn tin cả hàng ngàn tín điều được ghi trong sách Enchiridion Symbolorum dày cả 5,6 trăm trang, do nhà thần học Heinrich Denzinger đã thu thập lại thành sách. Nhưng đức tin ấy đối với phần đông Kitô hữu chỉ là đức tin lý thuyết, cho dù họ có thể tuyên xưng ra ngoài rất mạnh mẽ, và ai tuyên xưng khác với họ thường bị họ kết án hoặc tẩy chay. Tuy nhiên chỉ khi gặp thử thách trong thực tế đời sống, họ mới nhận ra đức tin của mình rất yếu kém, đôi khi có vẻ như chẳng tin gì cả.

Chẳng hạn người Kitô hữu nào cũng tin có thiên đàng, hỏa ngục, luyện ngục, nhưng biết bao người có thể phạm tội một cách dễ dàng dù họ tin rằng phạm tội thì có thể sa hỏa ngục hay phải đền tội ở luyện ngục. Nhiều khi họ phạm tội một cách dễ dàng hơn là phạm một sai lầm về kinh doanh khiến việc làm ăn của họ có thể bị lỗ hay thất bại. Biết bao người sẵn sàng phạm tội chỉ để được một lợi lộc rất chóng qua ở đời này! Điều đó chứng tỏ họ chỉ tin một cách rất lý thuyết chứ không phải tin một cách thực tế! Vì thế, đời sống tâm linh của họ không tiến triển được bao nhiêu suốt bao năm sống đạo, đôi khi còn thụt lùi nữa.

Một người thật sự tin vào tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa thì khó có thể yếu đuối được! Vì đức tin làm nên sức mạnh. Đức Giêsu nói: «Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: "rời khỏi đây, qua bên kia!" nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được» (Mt 17,20). Vụ lạm dụng tình dục vừa bùng nổ ở Mỹ trong năm qua cho thấy ngay cả những thầy dạy về đức tin vẫn có nhiều người chẳng tin bao nhiêu những điều mình dạy người khác tin. Nhiều hiện tượng khác cũng chứng minh điều ấy.

4. Muốn có đức tin thực nghiệm, phải thật sự sống những điều mình tin

Phêrô thấy Đức Giêsu đi trên mặt nước, ông liền tin rằng Ngài cũng có thể cho ông đi trên mặt nước như Ngài. Nếu ông không thật sự bước ra khỏi thuyền để đi trên mặt nước, thì niềm tin ấy mãi mãi chỉ là tin cách lý thuyết. Nhưng ông thử nghiệm ngay điều ông tin xem sao, và ông thấy chính ông đã đi trên mặt nước được. Thế là niềm tin ấy đã trở thành niềm tin thực nghiệm. Khi thử nghiệm những điều tin khác nữa, ông cũng sẽ thấy nó thật sự đúng. Từ đó, đức tin của ông ngày càng vững chắc hơn vì nó mang tính thực nghiệm.

Cũng vậy, không ai có được đức tin thực nghiệm nếu không thử sống thật, sống đúng như những điều mình tin. Khi đem những điều mình tin cách lý thuyết ra để sống trong thực tế, ta sẽ dần dần chứng nghiệm được những điều mình tin ấy là đúng thật. Cứ tiếp tục như thế, đức tin của ta ngày càng vững mạnh hơn. Sở dĩ ta chưa có đức tin thực nghiệm, là vì ta chưa thật sự dấn thân cho niềm tin của mình. Nếu ta đã tin cách lý thuyết vào sự quan phòng của Thiên Chúa, thì ta hãy thử sống niềm tin ấy cách cụ thể khi gặp thử thách xem: chẳng hạn khi lương tâm ta đòi hỏi phải làm một điều gì có thể nguy hiểm cho bản thân mà ta vẫn dám dấn thân, thì chỉ khi ấy ta mới thực nghiệm được sự quan phòng bảo vệ thật sự của Thiên Chúa đối với ta. Hay ta hãy thử dấn thân theo Chúa bằng việc từ bỏ mình và từ bỏ mọi sự cách triệt để, ta sẽ cảm nghiệm lời Chúa nói hoàn toàn chính xác: «Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau» (Mc 10,29-30). Vấn đề cuối cùng là ta có dám thử sống đúng như ta tin hay không!

Việc thử nghiệm đức tin cũng tương tự như có ai chỉ cho ta một phương pháp rất dễ dàng để tăng cường sức khỏe. Ta nghe và biết rất thấu đáo những chỉ dẫn ấy. Đó là cái biết lý thuyết. Nếu ta tin người ấy, thì niềm tin ấy cũng chỉ là niềm tin lý thuyết. Nhưng nếu ta thử thực hành điều người ấy chỉ dẫn để xem phương pháp ấy có hiệu quả không, và ta thấy nó có hiệu quả thật sự, thì niềm tin của ta vào phương pháp ấy là niềm tin thực nghiệm. Để đời sống tâm linh phát triển, ta cần có những kinh nghiệm thật sự và phong phú về Thiên Chúa, về tình yêu và quyền năng của Ngài. Nếu không có kinh nghiệm về Thiên Chúa, dù ta có là tiến sĩ thần học, thông thạo mọi lý thuyết về Thiên Chúa, thì đời sống tâm linh ta vẫn có thể nghèo nàn hơn một bà cụ ít học nhưng luôn cảm nghiệm rõ ràng sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa và tình yêu đầy quyền năng của Ngài trong đời sống bà.
***

Đức Giêsu và Giáo Hội dạy ta rất nhiều điều, ta đều chấp nhận và tin hết. Nhưng lạ thay đời sống ta sao vẫn yếu đuối, vẫn buồn phiền, vẫn đau khổ. Đúng ra Tin Mừng phải làm ta mạnh mẽ và an vui hạnh phúc mới phải, bất chấp những nghịch cảnh xảy tới. Đọc bài Tin Mừng về việc Phêrô đi trên mặt nước đến với Đức Giêsu, ta dễ nhận ra rằng ta mới chỉ tin cách lý thuyết, chứ chưa hề thử nghiệm niềm tin ấy như Phêrô, bằng cách thật sự bước ra khỏi thuyền để đi trên mặt nước như mình đã tin rằng mình làm được. Vì thế, ta vẫn là kẻ ấu trĩ về tâm linh, cho dù ta đã tin và hiểu rõ cả hàng ngàn điều Đức Giêsu và Hội Thánh dạy. Đức tin của ta vẫn chỉ là đức tin bằng lời nói, chưa phải là đức tin bằng hành động. Vậy, muốn có đức tin thực nghiệm, hãy can đảm áp dụng vào đời sống những gì ta tin, nhờ đó ta có kinh nghiệm về Thiên Chúa, về sự hiện diện thật sự và quyền năng của Ngài trong đời sống ta. Có thế, đời sống tâm linh ta mới mạnh mẽ lên và phát triển được.

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 87 = TOI LA AI ? PDF Print E-mail

This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Apr 17 at 9:12 PM

Tôi là ai?

Bài chia sẻ của Đức Giáo Hoàng - Lễ Lá tại Vatican

Lấy gợi hứng từ Bài Thương Khó theo thánh Matthêu, bài chia sẻ của Đức Thánh Cha gợi lên cho mọi người rất nhiều câu hỏi. Đức Thánh Cha đã nhắc lại toàn bộ những nhân vật xuất hiện trong Tin Mừng, từ khi Đức Giêsu bước vào thành cho đến khi Ngài được chôn cất trong mồ, với câu hỏi trọng tâm:

Tôi là ai?

Tôi là ai trước Thiên Chúa của tôi?

Tôi là ai, trước Chúa Giêsu Đấng đang tiến vào Ngày Lễ Vượt Qua ở Giêrusalem?

Tôi có diễn tả niềm vui của tôi, tôi có chúc tụng Người không?

Hay tôi đứng đàng xa?

Tôi là ai trước Đức Giêsu đang chịu đau khổ?

Chúng ta nghe thấy rất nhiều cái tên. Nhóm lãnh đạo, một số tư tế, Pharisêu, thầy thông luật là những người đã quyết định giết Đức Giêsu. Họ chờ cơ hội để triệt hạ Người. Tôi có là một trong số họ không?

Chúng ta cũng nghe một tên khác: Giuđa, 30 đồng bạc. Tôi có là Giuđa không?

Chúng ta cũng nghe một số tên khác: các môn đệ chẳng hiểu gì cả, họ buồn ngủ khi Chúa đang chịu đau khổ.

Cuộc sống của tôi có buồn ngủ không?

Tôi có giống các môn đệ, không hiểu điều gì là phản bội Chúa Giêsu không?

Tôi có giống một số các môn đệ khác muốn giải quyết mọi chuyện với đao kiếm không?

Tôi có giống Giuđa, kẻ giả vờ yêu và hôn Thầy mình để giao nộp Thầy, để phản bội Thầy không?

Tôi có là kẻ phản bội không?

Tôi có giống như các nhà lãnh đạo vội vàng triệu tập tòa án và tìm chứng gian không?

Và giả như tôi có làm những điều này thì khi ấy tôi có tin là với những điều này tôi có thể cứu độ muôn dân không?

Tôi có giống Philatô không, khi thấy tình cảnh khó khăn, thì rửa tay và chối bỏ trách nhiệm và để mặc cho người khác kết án - hay chính tôi kết án?

Tôi có giống đám đông, không biết gì cả nhưng lại đòi tha cho Barabba không?

Với họ thì như nhau cả: nhưng hạ nhục Giêsu thì vui thú hơn.

Tôi có giống những tên lính đánh Chúa, đóng đinh Chúa, treo người lên, hạ nhục Người không?

Tôi có giống ông Simon thành Cyrene, đi làm về, mệt mỏi nhưng có ý tốt giúp Chúa vác cây Thập giá không?

Tôi có giống những người đi ngang qua thập giá và chế nhạo Chúa Giêsu không: Nào, cố lên! Xuống khỏi thập giá đi rồi chúng tôi sẽ tin vào ông!" Họ chế nhạo Giêsu.

Tôi có giống những người phụ nữ can đảm, và giống như mẹ của Giêsu, đứng ở đó, hứng chịu bao đau khổ trong thinh lặng?

Tôi có giống Giuse, người môn đệ ẩn danh, đã mang xác Giêsu với trọn tình yêu và đem đi chôn cất không?

Tôi có giống những nhà lãnh đạo vào ngày hôm sau đi đến chỗ Philatô và nói: ""Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: "Sau ba ngày, Ta sẽ chỗi dậy". Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết sống lại. Và như thế, chuyện bịp bợm cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước".

Họ đóng cuộc sống mình lại, đóng ngôi mộ lại để bảo vệ học thuyết của mình để cuộc sống của mình không đi ra ngoài.

Con tim của tôi đang ở đâu?

Tôi thấy mình giống ai trong những người này?

Những câu hỏi này sẽ theo chúng ta trong suốt tuần này."

-0-0-0-0-

 
NGOI TIN HUU TRUONG THANH # 86 = SATAN PDF Print E-mail

Satan - Luxiphe De Nhat Minh Than Co Duoi
Tinh Cao
Apr 7 at 1:15 PM

Satan - Một Luxiphe Đệ Nhất Minh Thần có đuôi!

Dẫn Nhập:

Tam Điểm chỉ là tay sai của Satan và bọn ngụy thần trong một thời điểm như của một cuộc Hận Thù Quyết Thắng cuối cùng. Tam Điểm xuất hiện như tiền hô của tên Quỉ Vương. Tổ chức được gọi là Hội Kín (Lodge) của thành phần mang sứ mệnh là những tay Thợ Xây (Masonry) được hình thành để thực hiện một âm mưu lịch sử (conspiracy of history) đó là làm sao hoàn thành một Trật Tự Thế Giới Mới (New World Order).

Trật Tự Thế Giới Mới đây là gì và như thế nào, nếu không phải, như thực tế cho thấy, nhất là từ giữa thế kỷ 20 cho tới nay, một trật tự thế giới mới đã từ từ và đang mau chóng thay thế cho trật tự thế giới cũ, đúng hơn là thay thế cho một trật tự thế giới đã được thiết lập từ và bởi cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô. Ở chỗ, Vương Quốc của Thiên Chúa đã, đang và sẽ bị thay thế, (theo quan phòng thần linh vô cùng khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa cho đến ngày cùng tháng tận - xem Mathêu 13:38-43), bằng vương quốc của Satan, của Quỉ Vương. Trật Tự Thế Giới Mới mà Tam Điểm đang cố gắng xây dựng đây là vương quốc của Satan, thay cho Vương Quốc của Thiên Chúa.

Thánh Phaolô, trong Thư gửi Giáo Đoàn Thessalonica, ở đầu đoạn 2 (câu 3-4), đã tiên báo về biến cố thay thế trật tự thế giới này trước khi Chúa Kitô tái giáng như sau: "Trước đó, phải có hiện tượng chối đạo, và người ta phải thấy xuất hiện người gian ác, đứa hư hỏng. Tên đối thủ tôn mình lên trên tất cả những gì được gọi là thần và được sùng bái, thậm chí nó còn ngồi trong Ðền Thờ Thiên Chúa và tự xưng là Thiên Chúa".

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo năm 1992, số 675, cũng đề cập đến trật tự thế giới mới được thay thế trước khi Chúa Kitô đến như sau: "Trước cuộc Ngự đến của Đức Kitô, Hội Thánh phải trải qua một cuộc thử thách cuối cùng, làm lung lạc đức tin của nhiều tín hữu. .. Sự đánh lừa về tôn giáo ở mức cao nhất là của tên Phản Kitô, nghĩa là, của một chủ nghĩa Messia giả hiệu, trong đó con người tự tôn vinh chính mình thay vì tôn vinh Thiên Chúa và Đấng Messia của Ngài đã đến trong xác phàm".

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ở Balan ngày 18/8/2002 đã cảm nhận được cái trật tự thế giới mới này trong bài giảng của mình như sau: "Chúng ta đã tiến vào ngàn năm mới với di sản vừa thiện vừa ác này. Những chân trời mới trong việc phát triển đang mở ra trước nhân loại, kèm theo đó có cả những cái nguy hiểm chưa từng có. Con người thường sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu, thậm chí đặt mình vào vị thế của Thiên Chúa nữa. Họ tự cho mình quyền hành của một Vị Tạo Hóa trong việc can thiệp vào mầu nhiệm sự sống con người".

Xin mời theo dõi bài viết sau đây, một bài viết đã được Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp của Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam Hải Ngoại phổ biến trong 3 số báo liền, từ Tháng Giêng đến Tháng 3/2014, một bài viết cố gắng vạch trần chân tướng của "con khủng long, tức con cựu xà là ma quỉ hay Satan, tên cám dỗ cả thế gian" (Khải Huyền 12:9) trong thời điểm dường như đầy hận thù quyết thắng này, dưới nhan đề "Satan - Một Luxiphe đệ nhất minh thần có đuôi".

Nếu "cái đuôi" của con khủng long, đối với các thần trời, tiêu biểu cho gương mù gương xấu của nó, vì nó đã dùng "cái đuôi của mình kéo 1/3 tinh tú trên trời mà hất xuống đất" (Khải Huyền 12:4), thì đối với loài người "cái đuôi" của nó, hình thù tương tự như một con rắn, giống "con cựu xà" trong địa đường xưa (xem Khởi Nguyên 3:1-4), là tiêu biểu cho các chước cám dỗ của nó vậy.
Chính vì "satan là tên cám dỗ" mà tông đồ Phêrô đã bị Thày quở là "đồ satan" (Mathêu 16:23), vì "ngươi cám dỗ Ta" (cùng câu cùng đoạn). Và sở dĩ Tông Đồ Phêrô có ý ngay lành và hoàn toàn vì yêu mến Thày mà can ngăn Thày, không muốn thấy Thày bị tai hoạ như thế, mà lại trở thành "satan" là vì ngài "không phán đoán theo Thiên Chúa mà chỉ thuần tự nhiên loài người" (cùng đoạn cùng câu)!.

Ở đây, căn cứ vào ý hướng ngay lành và tâm tình tốt lành của Tông Đồ Phêrô thì có thể ví ngài như một "minh thần sáng láng", nhưng là một thứ minh thần có "đuôi", bởi bấy giờ, trong trường hợp này, ngài chỉ tác hành theo tự nhiên nhân bản hơn là siêu nhiên thần linh.

Tam Điểm chủ trương duy tự nhiên theo nhân bản trần tục (secular humanism), rất hợp với tầm mức hạ giới của con người và khuynh hướng hưởng thụ của con người, chứ không phải nhân bản đích thực (authentic humanism hay Christian humanism), mà nó là tay sai đắc lực nhất của satan và là tiền hô của quỉ vương, là tên phản kitô nguy hiểm nhất đối với loài người vậy...

Nếu Chúa Kitô là Đấng Thiên Sai, Đấng đến để làm theo ý Đấng đã sai Người là phải Vượt Qua, từ Khổ Nạn và Tử Giá đến Phục Sinh hầu có thể cứu chuộc loài người, mà Tông Đồ Phêrô, một cách khách quan nơi tác hành và vô tình nơi ý hướng, lại ngăn cản Người thực hiện và hoàn thành sứ mệnh chính yếu vô cùng quan trọng này, nên ngài đã không ngờ ngài đã mang tâm tưởng và tác hành như là một tên "phản kitô" (1Gioan 2:22), ở chỗ "không chấp nhận Chúa Kitô đến trong xác thịt" (2Gioan 7).

Đúng thế, cho dù Tông Đồ Phêrô, mới tuyên xưng "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16) xong và được Thày khen rằng chính xác bởi lời tuyên xưng đó "không phải do huyết nhục mà là do Cha trên trời của Thày tỏ ra cho con" (Mathêu 16:17), ngay sau đó ngài đã trở thành "satan" đối với Thày mình, chính là vì theo ngài, nếu "Thày là Con Thiên Chúa hằng sống" thì không thể nào lại bị khổ nạn và tử giá như một con người, một con người bị bản án tử hình của một tội nhân vô cùng nhục nhã bất xứng như vậy.

Vị tông đồ vừa được Thày công khai đặt làm đá nền cho một Giáo Hội tương lai và được trao cho chìa khóa Nước Trời đầy quyền hành trọng đại ấy (xem Mathêu 16:18) có ngờ đâu vẫn còn bị lầm lạc, đến độ cho tới khi sự thật xẩy ra ngài vẫn còn trắng trợn chối bỏ Thày 3 lần (xem Mathêu 26:69-74), vẫn còn tiếp tục "phản kitô". Nếu Chúa Kitô còn bị thành phần tông đồ thân cận nhất của mình, sau 3 năm chung sống phản nộp như một Giuđa Íchca (xem Marcô 14:10-11 và Gioan 18:2-3) hay chối bỏ như một Simon Phêrô thì Người có bị thành phần Hội Đồng Đầu Mục Do Thái bấy giờ quyết liệt đòi giết cũng chẳng lạ gì: "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ lầm chẳng biết việc họ làm" (Luca 23:34).

Đời sống Kitô hữu môn đệ của Chúa Kitô, cho dù đã được tái sinh vào sự sống mới, vẫn còn mầm mống tội lỗi, còn nọc độc của satan trong mình, cũng có những lúc "phản kitô" theo chủ trương duy tự nhiên của "tam điểm". Ở chỗ, họ chỉ sống theo tự nhiên, tìm hưởng thụ hơn phục vụ và cho đi, và vì thế họ không thể nào chấp nhận thánh giá đau khổ, thậm chí còn tìm cách tiêu diệt thánh giá đau khổ nữa. Trong khi đó, Đấng đã đến trong xác thịt là Chúa Kitô lại dứt khoát: "Ai muốn theo Thày thì phải bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo Thày" (Mathêu 16:24).

Vị Giáo Hoàng được sai đến "từ tận cùng trái đất" là Đức Thánh Cha Phanxicô, ngay sau khi được hồng y đoàn bầu chọn vào ngày 13/3/2013, trong Thánh Lễ 5 giờ chiều ngày Thứ Năm hôm sau 14/3/2013 với hồng y đoàn ở Nguyện Đường Sistine, ngài đã giảng ứng khẩu về thân phận của chung Kitô hữu, nhất là của riêng thành phần lãnh đạo dân Chúa, căn cứ vào những gì xẩy ra nơi Tông Đồ Phêrô ở biến cố "satan" như sau:

"Trong Phúc Âm, cho dù Thánh Phêrô có tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, nói cùng Người rằng: 'Thày là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống. Con sẽ theo Thày nhưng xin Thày đừng nói về Thập Giá. Chẳng có gì liên quan đến nó hết... Con sẽ theo Thày mà không có Thập Giá'... Thế nhưng khi chúng ta bước đi mà không có Thập Giá, khi chúng ta xây dựng mà không có Thập Giá, khi chúng ta tuyên xưng một Chúa Kitô phi thập giá... chúng ta không phải là môn đệ của Chúa. Chúng ta là trần gian, chúng ta là những giám mục, linh mục, hồng y, giáo hoàng, nhưng không phải là môn đệ của Chúa. Tôi mong rằng tất cả chúng ta, sau những ngày tràn đầy ân sủng này, có thể can đảm, phải, can đảm để bước đi trước nhan Chúa bằng Thập Giá của Chúa, để xây dựng Giáo Hội trên máu của Chúa được đổ ra từ Thập Giá và để làm chứng cho nguyên vinh danh Chúa Kitô tử giá. Có thế Giáo Hội mới tiến lên..."

Chớ gì những lời của Chúa Kitô kêu gọi thành phần Kitô hữu môn đệ chúng ta hãy bỏ mình và vác thập giá mà theo Người, và lời của Đức Thánh Cha Phanxicô trên đây, trở thành nguồn cảm hứng cho chúng ta hiên ngang phấn khởi tiến vào Tuần Thánh 2014 (13-20/4), nhờ đó, như các tông đồ xưa, nhất là như Tông Đồ Phêrô không còn sợ bị trói lại và mang đến những nơi không muốn (xem Gioan 21:18), chúng ta cũng đích thực trở thành "chứng nhân của Thày" (Luca 24:48) là Đấng Phục Sinh "cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 1:8), nhờ đó chúng ta chẳng những có thể chiến thắng tất cả mọi sự dữ (xem Marco 16:17-18), bao gồm cả lực lượng tam điểm phản kitô của tên quỉ vương satan, mà còn tích cực góp phần vào việc làm cho "Nước Cha trị đến" trên trần gian này nữa. Amen.

 

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 83 of 94