mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5706
mod_vvisit_counterHôm Qua8231
mod_vvisit_counterTuần Này48651
mod_vvisit_counterTuần Trước57101
mod_vvisit_counterTháng Này105752
mod_vvisit_counterTháng Trước249539
mod_vvisit_counterTất cả15186210

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - TIỀN PHẢI CHO AI? PDF Print E-mail

Chi Tran
Nov 14 at 1:33 AM

TÍN HỮU KITÔ VÀ TIỀN : PHẢI CHO AI?

       *HẠNH PHÚC LÀ BIẾT CHO ĐI*

Cho đi là bổn phận thiết yếu của tín hữu kitô, vì của cải và tiền bạc được giao phó cho chúng ta là để vì lợi ích chung. Việc sử dụng tiền là kết quả của nghĩa vụ quốc gia của chúng ta, rồi sau đó chúng ta được mời gọi để chi tiêu hữu ích, để đầu tư và để cho. Chọn lựa người hưởng món tiền là trách nhiệm và tùy theo ơn gọi của chúng ta. Các công việc của Giáo hội là ưu tiên.

Làm thế nào để sử dụng tiền của mình theo thứ trật? Để minh họa, tính lô-gích của thứ trật này có thể tóm tắt như sau: mức tối thiểu cần phải có để sống cho đúng mực; tiền đóng góp (cho Giáo hội và các công việc của Giáo hội, tiền cho người nghèo, cho tù nhân v.v...); sau đó là mức chi tiêu hữu ích và phù hợp với địa vị của chúng ta trong xã hội (gồm tiền tiết kiệm phòng hao, tiền dành cho di sản gia đình), cũng như đầu tư sáng tạo và "rộng lượng" tài trợ (quyên góp và các khoản đầu tư bổ sung – cho việc làm, cho nghệ thuật, cho văn hóa).

Nhận và cho theo ơn gọi của mình

Đương nhiên, nó không thể máy móc kéo theo một lô việc: phải xét từng trường hợp một theo mức độ chi tiêu đã dự trù, theo số lượng và bản chất của nó so với sức của chúng ta. Mức độ tế nhị nhất để xác định là mức thích ứng với chi tiêu, tùy thuộc vào địa vị của chúng ta, đặc biệt là trong một xã hội như xã hội chúng ta. Rõ ràng là không có công thức nào có thể được đưa ra. Điều cốt yếu phải nói, trước hết là không có một chi tiêu nào mà không được biện minh bằng bản chất của nó, ngoại trừ đó là nhu cầu không thể tránh khỏi. Sau đó, chúng chỉ được biện minh nếu chúng là nguồn của một điều tốt, có nghĩa là tốt hoặc cần thiết để đạt được một điều tốt, hay duy trì một tình huống có thể là nguồn của một việc làm tốt đẹp hơn.

Nhưng điều này không biện minh cho một đời sống xa hoa. Nó cho phép người giàu có dư giả có mức chi tiêu cao hơn đáng kể, để họ có thể có vai trò kinh tế theo địa vị của họ, chẳng hạn khuyến khích nghệ thuật hay các kỹ thuật mới. Vì họ đã nhận nhiều, họ cho nhiều và như thế họ chi tiêu nhiều hơn. Nhưng ngoài các nhu cầu thiết yếu, hoặc chính xác hơn, vì dần dần, với một thu nhập và một vị trí xã hội của mình, khi chi tiêu tăng lên thì đòi hỏi của lợi ích tập thể cũng phải tăng lên.

Đương nhiên, tất cả điều này tùy thuộc vào ơn gọi riêng của chúng ta, và do đó tùy thuộc vào mức độ thăng tiến tâm linh của chúng ta. Chúng ta càng tiến bộ trên con đường của Chúa, thì chúng ta càng càng thấy mối quan hệ của mình với của cải được phát triển. Không phải lúc nào cũng ở trong chiều hướng từ bỏ hoàn toàn (chẳng hạn như các tấm gương từ bỏ của các vua thánh như các vua Thánh Lu-i hay Henri). Nhưng chắc chắn trong chiều hướng của họ đối với người khác, và ý nghĩa của chúng.

Lựa chọn của người thụ hưởng

Cho ai? Điều này cũng tùy thuộc vào ơn gọi riêng của chúng ta và tiếng gọi của Chúa dành cho chúng ta. Tiếng gọi này cũng tiến triển vì chúng ta càng tiến bộ trên con đường đến với Chúa, thì chúng ta càng thấy mối quan hệ riêng của mình với của cải cũng tiến triển. Điều đó muốn nói, một phần đáng kể món tiền của chúng ta phải dành cho Giáo hội, mà Giáo hội ở Pháp thì không giàu. Các giáo xứ, các cộng đoàn của chúng ta sống nhờ tiền quyên góp. Họ không nhận gì từ nhà nước. Giáo hội công giáo nói về 1 đến 2 % thu nhập của mỗi người. Và đây là điểm khởi đầu, chúng ta có thể cho nhiều hơn.

Thêm nữa, đó là trách nhiệm của chúng ta, nếu chúng ta biết lắng nghe những gì Chúa yêu cầu. Cũng vậy với việc chọn lựa các cơ quan để cho, dù ưu tiên cho các công việc của kitô hữu hay của Giáo hội, thì đó là cũng là một ưu tiên tự nhiên: một phương tiện để đóng góp vào việc rao giảng Tin Mừng.

Trường hợp của người rất giàu

Còn những người rất giàu thì sao? Trách nhiệm của họ rõ ràng là rất lớn, đến mức giàu có có thể là một tai họa tinh thần, dù sao đó cũng là một trách nhiệm kèm theo các rủi ro lớn: dễ dàng phối hợp với quyền lực để họ gần như khó cưỡng lại được với chính thỏa hiệp của mình. Tin Mừng nói rất rõ ràng về điều này. Tuy nhiên vẫn có các tài sản mà những người này có được, và được Chúa muốn. Nghĩa là có một trách nhiệm tập thể được giao phó cho một người nào, nặng nề nhưng nhiệt thành, và có thể là tích cực. Trên thực tế, không có một tiến bộ nào mà nhân loại đạt được trong lãnh vực khoa học, văn hóa hay công nghệ mà không có những người giàu dám liều nhận rủi ro; cũng vậy đối với đời sống Giáo hội.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Vì vậy, ai ở trong hoàn cảnh này, ngoại trừ có ơn gọi riêng sống đời sống tu trì khó nghèo, họ đều phải ý thức và quyết tâm đảm trách các hệ quả. Điều này muốn nói sống trong môi trường giàu có nhưng không là tù nhân, chấp nhận mất của cải hoặc cho tùy theo trường hợp và sắp xếp tốt nhất các phương tiện này theo nghĩa cái gì phù nhất cho lợi ích chung, có nghĩa là cho đi, tiêu đi vì lợi ích và đầu tư. Nhưng tiếc thay cho những ai mà của cải đã thống trị họ...

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch (PHANXICO.VN)

----------------------------

 

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - ÔNG GIA-KÊU PDF Print E-mail

Kim Vu


> CHIA SẺ - ÔNG GIA-KÊU
>
> Câu chuyện Giakêu quá quen thuộc, nhưng lại là một bức tranh sống động, phong phú, tinh tế và là lời chất vấn và mời gọi qua mọi thời đại. Trong hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giêsu đi ngang qua Giê-ri-khô và xảy ra câu chuyện ông Giakêu với những nét tương phản hài hước và độc đáo. Nhân vật chính được giới thiệu qua bốn chi tiết: (1) Tên gọi: Giakêu, (2) Nghề nghiệp: Đứng đầu những người thu thuế, (3) Địa vị xã hội: Người giàu có, (4) Ngoại hình: thấp bé, ngôn ngữ bình dân gọi là lùn.
>
> Trong câu chuyện, nhân vật Giakêu có những nét tương phản vừa theo quan điểm người đời, vừa theo quan điểm tâm linh. Theo người đời, Giakêu là người có địa vị, có quyền và có tiền, ba yếu tố này làm nên sức mạnh và uy thế của một con người. Ông ở cao hơn những người bình thường, nhưng ông lại thua kém họ về chiều cao, nên tầm nhìn bị thu hẹp và bị hạn chế. Ông muốn thấy Đức Giêsu, nhưng đám đông trở thành chướng ngại cho điều ông ước muốn. Tuy nhiên, con người không hơn nhau ở chiều cao mà hơn nhau ở cái đầu; Giakêu quyết định thực hiện ước muốn thấy Đức Giêsu bằng cách trèo lên cây sung. Quyết định này tạo nên tương phản giữa việc ông đạt được mục đích là thấy Đức Giêsu, nhưng phải hy sinh thể diện. Một người có quyền hành và địa vị như ông mà lại leo lên cây sung, mượn cây sung để cải thiện chiều cao của mình, thì chẳng gì đề cao cái sự thấp bé của ông trước mọi người.
>
> Đáng chú ý hơn là tương phản theo quan điểm tâm linh. Ông Giakêu là người quyền thế trong xã hội, nhưng đám đông lại gọi ông là "người tội lỗi", vì khi Đức Giêsu quyết định ở lại nhà ông, mọi người xầm xì: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!" Câu kết của Đức Giêsu: "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất" đã xếp Giakêu vào loại những người đã mất, nhưng được Đức Giêsu cứu.
>
> Tương phản trên bình diện tâm linh và cách xử sự của Giakêu để xem thấy Đức Giêsu đã được Người đánh giá cao. Việc ông dám trở trên trò cười cho thiên hạ để tiếp cận được Đức Giêsu cho thấy thiện chí của ông. Nhờ hành động này, ông trở thành nhân vật chính của câu chuyện với những chuyển biến tích cực và nhanh chóng. Khi Đức Giêsu nhìn lên và nói với ông: "Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" (19, 5) Bản văn chơi chữ khi viết Đức Giêsu nhìn lên và bảo ông xuống, nghĩa là trở về với chiều cao đích thực của mình, trở về với con người thực của mình, để không những thấy Đức Giêsu mà còn để đối thoại với Người, để quyết định bán nửa tài sản cho người nghèo và đền gấp bốn cho những ai mình đã làm họ bị thiệt.
>
> Điều mới mẻ so với trình thuật người thu thuế Lê-vi ở chỗ Lê-vi đã bỏ nghề thu thuế và đi theo Đức Giêsu, còn ông Giakêu có bỏ nghề đứng đầu những người thu thuế hay không, bản văn không cho biết. Trình thuật chỉ nhấn mạnh tấm lòng của ông đối với người nghèo và việc ông chú trọng sự công bằng. Có thể hiểu Giakêu có thể tiếp tục đứng đầu những người thu thuế mà vẫn được cứu. Điều quan trọng là ước muốn gặp Đức Giêsu, thực hiện ước muốn này, và khi gặp thì mừng rỡ đón tiếp Người.
>
> Trình thuật nói đến sự gặp gỡ tốt đẹp giữa hai con người với hai sự tìm kiếm. Giakêu tìm cách để thấy Đức Giêsu, còn Đức Giêsu đang tìm và cứu những gì đã mất. Chính sự gặp gỡ giữa hai con người đang tìm kiếm này làm cho Giakêu trở thành người được cứu và làm tỏ lộ sứ vụ của Đức Giêsu.
>
> Điểm độc đáo của bản văn ở ngay trong trong cách trình bày nhân vật Giakêu. Ông là người vừa thấp vừa cao. Cao về địa vị xã hội, nhưng thấp bé về chiều cao. Thấp bé thể lý nhưng cao quý trong thiện chí tìm gặp Đức Giêsu. Ông có quyền hành và giàu có trong xã hội nhưng bị coi là người tội lỗi, là người đã mất, cần được cứu. Nhân vật Giakêu trở thành điển hình cho hành trình tìm kiếm và gặp gỡ Đức Giêsu là Người mang lại ơn cứu độ cho ông.
>
> Đầu câu chuyện, Giakêu được giới thiệu như là người có mọi thứ: chức vị, tiền bạc và quyền hành; nhưng ông đang thiếu và đang đi tìm cái mà tiền bạc và chức quyền không đem lại cho ông. Ông tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, mục đích trước tiên là xem cho biết con người mà ông chưa biết.
>
> Điểm độc đáo thứ hai là Đức Giêsu không dạy giáo lý cho Giakêu, Người không bày tỏ tư cách Con Thiên Chúa của Người. Ngược lại Người chỉ nói một câu tỏ bày sự thân thiện và ưu ái của Người dành cho ông: "Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông."
>
>*SUY TƯ VÀ  QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Bài học cho BẠN VÀ TÔI hôm nay là liệu sự ở lại của Đức Giêsu có khả năng làm cho BẠN hoán cải, có khả năng làm cho TÔI thuộc về Người, làm cho chúng ta biết chia sẻ với người nghèo và tôn trọng sự công bằng hay không. Câu chuyện Giakêu vẫn là lời chất vấn, lời mời gọi BẠN VÀ TÔI trong cách tìm gặp và đón tiếp Đức Giêsu, trong cách chúng ta sống niềm tin và thể hiện niềm tin của mình.
>
> Lm Giuse Lê Minh Thông
>
_._,_.___
>

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - TRUYỀN GIÁO HÔM NAY PDF Print E-mail

Chi Tran

TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM

--------------

TRUYỀN GIÁO BẰNG CHỨNG TÁ ĐỜI SỐNG

VÀO ĐỀ

Dựa vào các tài liệu của Giáo Hội, chúng ta có thể liệt kê 15 Đường Lối Truyền Giáo như sau: (1) Làm chứng, (2) Loan báo Tin Mừng, (3) Thành lập Giáo Hội địa phương, (4) Cộng đoàn Cơ Bản và các Phong Trào Canh Tân, (5) Đối thoại với mọi người, (6) Đối thoại Đại kết, (7) Đối thoại liên tôn, (8) Tiếp xúc cá nhân, (9) Thăng tiến con người, (10) Truyền thông xã hội, (11) Phụng vụ Lời Chúa, (12) Huấn giáo và dạy giáo lý, (13) Các Bí tích và Á Bí tích, (14) Lòng đạo đức bình dân, (15) Hội nhập văn hóa.

Trong nhiều bài tiếp theo, chúng ta sẽ lần lượt xem xét mỗi đường lối ấy và áp dụng vào hoàn cảnh riêng của Việt Nam chúng ta. Chúng ta bắt đầu bằng một đường lối mà người Công Giáo nào cũng có thể thực hiện được: đó là CHỨNG TÁ ĐỜI SỐNG.

TRÌNH BÀY

1. Giáo huấn của Giáo Hội về Đường Lối Truyền Giáo bằng Chứng Tá Đời Sống:

"Con người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là các thầy dạy. Tin vào kinh nghiệm hơn là đạo lý, tin vào đời sống và các sự kiện hơn là các lý thuyết. Hình thức đầu tiên của việc truyền giáo là chứng tá đời sống Kitô hữu; hình thức này là điều không thể thay thế được. Chúa Kitô, Đấng mà chúng ta đang tiếp tục sứ mạng của Người, là "Vị Chứng Nhân" tuyệt hảo (Kh 1,5 ; 3,14) và là khuôn mẫu cho chứng tá Kitô giáo. Chúa Thánh Thần đang đồng hành với Giáo hội trên bước đường của Giáo hội, đồng thời liên kết Giáo hội với lời chứng của người về Chúa Kitô (Ga 15,26-27).

"Hình thức đầu tiên của chứng tá là chính đời sống của nhà truyền giáo, của gia đình Kitô hữu và của cộng đồng Giáo hội, hình thức này làm cho người ta nhìn thấy một lối sống mới. Cho dù vẫn có giới hạn và bất toàn của con người, nhưng khi nhà truyền giáo chân thành sống theo gương Đức Kitô, thì họ là một dấn chỉ về Thiên Chúa và về những thực tại siêu việt. Tuy vậy. Mọi người trong Giáo hội, khi nỗ lực noi gương Thầy Chí Thánh, thì có thể và phải nêu lên chứng tá này; trong rất nhiều trường hợp, đây là cách thế duy nhất để truyền giáo" (1).

2. Giáo huấn của Tin Mừng về Chứng Tá Đời Sống để Truyền Giáo:

"Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời." (2).

3. Chứng Tá của chính Chúa Giêsu Kitô:

Các nhà chú giải Thánh Kinh xem Bài Giảng Trên Núi không chì là Bản Hiến Chương Nước Trời dành cho những ai muốn gia nhập Thế Giới của Thiên Chúa mà còn là bản tóm tắt đời sống cụ thể của chính Chúa Kitô khi Người ở trần gian. Vì thế mà chúng ta có thể xem đây là Chứng Tá Sống Động của chính Người mà noi theo:

"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa." (3).

4. Giải thích thêm về Chứng Tá Đời Sống để Truyền Giáo:

4.1 Lời nói xuông chỉ là "bánh vẽ", "lừa gạt" và "mị dân" khiến con người thời nay rất dị ứng, thường cảnh giác và không tin vì họ đã bị lừa quá nhiều rồi.

4.2 Việc làm cụ thể và thiết thực đi kèm với lời nói (rao giảng) mới đủ sức thuyết phục con người thời nay và mới chứng minh được những điều được chúng ta rao giảng là chân thật.

4.3 Chứng Tá Đời Sống không chỉ là của các cá nhân mà còn phải là chứng tá của cả gia đình và cộng đoàn, vì niềm tin Kitô giáo và Ơn Cứu độ của Thiên Chúa mang tính cộng đoàn (Dân Chúa).

Truyện ông Gandhi yêu mến Phúc Âm nhưng không tin theo những người có đạo vì những người này không sống khớp với Tin Mừng và Giáo huấn của Chúa Kitô, đáng chúng ta phải mãi mãi ghi nhớ và suy niệm trong lòng.

5. Điều kiện để người Kitô hữu trở thành Chứng Nhân:

5.1 Ý thức ơn gọi và vai trò Kitô hữu của mình trong môi trường và chủ động tích cực để "hiện diện" trong mọi môi trường dù hoàn cảnh khó khăn. Sống trong các nước cộng sản thì điều này rất quan trọng và có thể nói là mang tính quyết định, vì chính quyền luôn chủ trương gạt người Kitô hữu ra khỏi xã hội, biến chúng ta thành công dân "hạng hai".

5.2 Sống gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu và với Chúa Thánh Thần như cành nho gắn liền với thân nho (4) vì không có đời sống siêu nhiên và ơn sủng của Thiên Chúa chúng ta không thể làm được điều gì tốt lành.

5.3 Chấp nhận thua thiệt, mất mát là những điều gắn liền với mọi đời sống chứng tá (5).

THAY LỜI KẾT

Trong hầu hết các cuộc gia nhập đạo của những anh chị em lương dân, chúng ta đều thấy phần đóng góp của những chứng tá sống động của người Kitô hữu. Thường họ chỉ là những giáo dân bình thường, quê mùa, ít học nhưng có niềm tin mạnh mẽ và tấm lòng rộng mở. Lối sống tốt lành, thánh thiện, yêu thương, phục vụ, hy sinh, quên mình của họ là đường lối mà bàn tay quyền năng của Thiên Chúa sử dụng để đưa các linh hồn về với Chúa và Giáo Hội. Tạ Ơn Chúa!!

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

---------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - LÒNG BIẾT ƠN PDF Print E-mail

Chào Mừng Quí Vị đến với Trang Chia Sẻ Lời Chúa. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành và ban bình an cho Quí Vị!
THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA TÔI - NGƯỜI NGOẠI BIẾT ƠN CHÚA

CHIA SẺ TIN MỪNG HÀNG TUẦN

Sunday, October 6, 2019

- Lòng biết ơn là đặc tính của người cao thượng

NGƯỜI NGOẠI ĐẠO BIẾT TRỞ LẠI CÁM ƠN CHÚA

TIN MỪNG: Lc 17,11-19

Mười người phong hủi được chữa lành

Câu hỏi gợi ý:

Có thể tín nhiệm vào lương tâm của những người thường tỏ ra vô ơn với những ân nhân của mình không? Tại sao?

2. Người Kitô hữu có nhiều tâm tình biết ơn hơn những người khác không? Nếu không thì bạn nghĩ thế nào?

3. Trong đời sống Kitô hữu, chúng ta cần phải biết ơn những ai? Và phải làm những gì để tỏ lòng biết ơn đối với những người ấy?

Suy tư gợi ý:

Làm ơn đừng nên nhớ, chịu ơn chớ nên quên

Bài đọc I đưa ra cho ta một hình ảnh rất đẹp. Tướng của Syri là Naaman bầy tỏ lòng biết ơn của mình đối với ngôn sứ Êlisa một cách cụ thể bằng lễ vật mà ông tha thiết xin ngôn sứ nhận cho. Còn ngôn sứ Êlisa thì cương quyết từ chối, mặc dù lễ vật ấy chắc chắn sẽ giúp ngài sống đỡ thiếu thốn, và nhất là −theo cách suy nghĩ bình thường của người đời− có thể tạo cho ngài nhiều phương tiện hơn để thi hành sứ mạng của mình.

Cả hai thái độ tốt đẹp trên có thể làm chúng ta suy nghĩ và xét lại thái độ của chúng ta khi hàm ơn ai hoặc làm ơn cho ai. Thông thường người ta có tâm lý hay quên hoặc không nhận ra những điều tốt người khác làm cho mình, nhưng lại dễ nhớ những gì tốt đẹp mình làm được cho người khác. Không những thế, mình còn mong họ nhớ ơn và trả ơn mình. Nếu họ vô tình quên ơn, thì ta buồn phiền, oán trách, thậm chí sẵn sàng lên tiếng chê bai.

Đức Giêsu cũng như các bậc cổ nhân xưa dạy ta thái độ nhớ và biết ơn đối với những người hy sinh cho ta, những người làm những điều tốt lành cho ta. Không phải chỉ nhớ và biết ơn, mà còn phải đền đáp lại ơn đó khi nào có thể. Nhưng đối với những người mà ta làm ơn cho, thì trái lại, không nên nhớ, cũng không nên đòi hỏi họ phải biết ơn hay trả ơn ta. Trang Tử, một triết gia Trung Hoa, khuyên ta nên «vô kỷ, vô công, vô danh» trong các việc làm của ta, nghĩa là không làm vì mình, làm rồi không cậy công, cũng không mong được khen ngợi, biết ơn (x. Lc 7,10).

2. Suy nghĩ về lòng biết ơn

Một trong những nguyên nhân hay động lực quan trọng của tình yêu thương là lòng biết ơn. Không phải tình yêu thương nào cũng phát xuất và đặt nền móng trên lòng biết ơn: Thiên Chúa hay cha mẹ yêu thương ta không phải vì mang ơn ta. Nhưng rõ ràng là tình thương của ta đối với Thiên Chúa, cha mẹ và nhiều ân nhân khác phát sinh và đặt nền tảng trên lòng biết ơn. Thiên Chúa và cha mẹ yêu thương ta trước, sinh thành tạo dựng, nuôi dưỡng giáo dục ta. Tình thương đó, công ơn đó làm nẩy sinh nơi ta lòng biết ơn, khiến ta đáp lại tình thương đó bằng chính tình yêu thương của ta đối với các Ngài. Lòng biết ơn đối với Thiên Chúa và cha mẹ lại là tiêu chuẩn nền tảng để đánh giá mọi thứ biết ơn khác. Một người vô ơn đối với Thiên Chúa và cha mẹ, thì khó mà biết ơn thật sự đối với người khác.

Khi làm ơn cho ai, giúp ai việc gì, mà về sau người đó vô ơn, tự nhiên ta cảm thầy buồn, có khi đau khổ. Khuynh hướng tự nhiên của mọi người là mong muốn hoặc đòi hỏi người thụ ơn mình phải biết ơn (mặc dù khi làm ơn cho ai, tính cao thượng đòi hỏi ta vượt khỏi khuynh hướng tự nhiên ấy). Do đó, lòng biết ơn là một đức tính rất cần thiết trong giao tế xã hội, trong tư cách một con người. Trong xã hội, tiếng cám ơn luôn luôn nở trên môi những con người có giáo dục, lịch thiệp, lễ độ. Lòng biết ơn, tiếng cám ơn xuất phát từ đáy lòng luôn luôn làm vui lòng những người tốt bụng, khuyến khích họ tiếp tục thi ân làm phúc. Trong đời sống tâm linh, tinh thần hay tôn giáo, lòng biết ơn đối với Thiên Chúa và các ân nhân cần phải được biểu lộ trong các kinh nguyện, lễ nghi, trong tâm tình và cử chỉ của các tín hữu.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy 10 người được Đức Giêsu chữa lành, nhưng chỉ có một người trở lại cám ơn Ngài. Và mỉa mai thay, người biết ơn đó lại là một người ngoại giáo! Điều này làm ta phải tự hỏi: người Kitô hữu có nhiều tâm tình biết ơn hơn các tín đồ tôn giáo khác không? Nếu ta không tốt bằng họ hoặc không hơn họ, thì việc ta nỗ lực truyền giáo cho họ quả thật có phần nào nực cười!

Việc Đức Giêsu −với tư cách là thầy dạy về tâm linh− đã trách móc 9 người vô ơn kia không biết tạ ơn Thiên Chúa cho thấy: rõ ràng là lòng biết ơn không thể nào thiếu được trong đời sống tu đức, đời sống hướng về sự toàn thiện. Không những thế, nó có thể là căn bản cho một lương tâm đứng đắn. Một người vô ơn, thường xuyên vô ơn, khó có thể có một lương tâm tế nhị và đúng đắn. Nhưng mỉa mai thay, biết bao người mang danh theo Chúa lại tỏ ra vô ơn với những người làm ơn cho mình nhiều hơn người thường!

3. Biết ơn ai? − Bốn trọng ân trong đời sống con người

Trong Phật giáo, có bốn trọng ân mà người Phật tử thường được các sư tăng nhắc nhở, nhất là vào dịp lễ Vu Lan (rằm tháng 7 âm lịch): ơn cha mẹ, ơn tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), ơn tổ quốc xã hội, và ơn thầy bạn. Chúng ta thử khai triển bốn trọng ân ấy trong chiều hướng Kitô giáo.

• Ơn cha mẹ: Cha mẹ trước tiên của chúng ta là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã tạo dựng và sinh thành chúng ta, cho ta sự sống siêu nhiên lẫn tự nhiên, đồng thời ban cho ta đủ mọi ơn để duy trì và phát triển sự sống ấy. Kế đến là cha mẹ ruột thịt của ta, là người sinh ra ta, nuôi dưỡng giáo dục ta nên người. Công ơn của cha mẹ ta to lớn biết bao! Ca dao có câu: «Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra». Người trần gian mà ta phải biết ơn nhiều nhất chính là cha mẹ ta.

• Ơn tam bảo: là công ơn của những người đã đem lại cho ta đời sống tâm linh, làm cho đời sống tâm linh ta phát triển và trở nên phong phú.

− Người đầu tiên mà ta phải nói tới là Đức Giêsu, Đấng chủ chốt đem lại đời sống tâm linh cũng là vị Thầy lớn nhất về đời sống này cho mọi người Kitô hữu. Ngài cũng là Đấng cứu chuộc để ta có lại đời sống thần linh, siêu nhiên của Thiên Chúa đã bị mất từ thời nguyên tổ, trước khi ta sinh ra. Bên cạnh Đức Giêsu có Mẹ của Ngài là Đức Maria. Theo niềm tin của người Công giáo, tất cả mọi ơn Thiên Chúa ban, đều nhờ Mẹ và qua tay Mẹ.

− Kế đến là Lời Chúa, hay Kinh Thánh và Tin Mừng, là phương tiện hữu hiệu nhất Thiên Chúa dùng để soi sáng cho ta đi đúng đường, hầu phát triển đời sống thần linh và tâm linh của ta. Ta cần phải biết ơn bằng cách năng đem ra suy gẫm để thực hành những gì Lời Chúa chỉ dạy.

− Giáo Hội các cấp (toàn cầu, địa phương, giáo xứ, cộng đoàn cơ bản), là yếu tố nhân sự để tiếp nối công trình của Đức Giêsu, đồng thời là môi trường đào tạo và nuôi dưỡng đời sống tâm linh của ta. Nói một cách cụ thể hơn đó là các tông đồ, các vị chủ chăn các cấp mà gần nhất là cha xứ, những người dạy dỗ ta về mặt tâm linh (các nhà thần học, tu đức, các giáo lý viên, các huynh trưởng hội đoàn, v.v.)

Đó là Tam Bảo của Kitô giáo, là các đại ân nhân của chúng ta, mà chúng ta phải luôn luôn yêu mến và tỏ lòng biết ơn.

• Ơn tổ quốc và xã hội: Chúng ta không chỉ sống trong gia đình và Giáo Hội, mà còn sống trong lòng quốc gia dân tộc nữa. Quốc gia xã hội đã tạo cho chúng ta những điều kiện dễ dàng để có một đời sống ấm no, yên vui, hạnh phúc, một cách bao trùm, tổng quát, vượt khỏi khả năng hạn hẹp của cha mẹ, gia đình ta. Chúng ta được sống trong an vui, là do công sức của biết bao người đã từng hy sinh xương máu để bảo vệ tổ quốc, đã vắt óc ra để đưa ra những chính sách sáng suốt hầu phát triển xã hội về kinh tế, văn hóa, v.v... làm cho đời sống của ta tươi đẹp. Để thấy được công lao của quốc gia xã hội, ta thử tưởng tượng nếu mình sống một mình trong rừng, ta sẽ thấy thiếu thốn và không được bảo vệ như thế nào!

• Ơn thầy bạn: Trong đời sống của ta, ta còn biết bao người phải mang ơn, trước hết là những vị thầy đem lại cho ta đời sống tri thức, những người giáo dục ta nên người. Sau là những bà con thân thuộc, bạn bè, những người quen biết. Biết bao người đã vô tình hoặc cố ý làm ơn cho ta trong tất cả mọi lãnh vực mà ta có thể biết hoặc không biết. Chúng ta có bổn phận phải biết ơn và tìm cách trả ơn những người ấy.

CẦU NGUYỆN và SỐNG LỜI TÔI CẦU XIN

Lạy Cha, xin cho con ý thức được rằng lòng biết ơn chính là thước đo của tình yêu đối với Thiên Chúa, nhân loại, Giáo Hội, xã hội, và tha nhân, và cũng là tiêu chuẩn đánh giá lương tâm và tư cách một con người. Xin giúp con ý thức được những hồng ân mà Chúa ban cho con từng giây từng phút, để con nhận ra được hạnh phúc Chúa ban hầu cảm tạ Chúa. NHỜ THÁNH THẦN THÚC ĐẨY CON nhận ra tình thương, sự hy sinh, những ơn huệ, những cử chỉ yêu thương của những người chung quanh đối với con, để con cảm thấy hạnh phúc vì được yêu thương, đồng thời biết đáp trả bằng chính tình yêu chân thành và sự hy sinh của con. CON QUYẾT TÂM luôn cầu nguyện và mong ước những sự tốt lành cho các ân nhân của con. Amen.

Nguyễn Chính Kết

-----------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - LẮNG NGHE LỜI CHÚA PDF Print E-mail

Chi Tran

Con đường yêu Chúa.

08/10 – Thứ Ba tuần 27 thường niên.

"Martha rước Người vào nhà mình. Maria đã chọn phần tốt nhất".

Lời Chúa: Lc 10, 38-42

Khi ấy Chúa Giêsu vào một làng kia, và có một phụ nữ tên là Martha rước Người vào nhà mình. Bà có người em gái tên là Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người. Martha bận rộn với việc thết đãi khách. Bà đứng lại thưa Người rằng: "Lạy Thầy, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với".

Nhưng Chúa đáp: "Martha, Martha, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện (quá). Chỉ có một sự cần mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất".


Suy Niệm : PHẦN TỐT NHẤT MARIA ĐÃ CHỌN (Lc 10, 38-42)

Xem lại CN 16 TN C

Đối với văn hóa Việt Nam luôn coi trọng vấn đề thiết đãi mỗi khi có khách đến chơi. Vì thế mới có câu: "Khách tới nhà không gà thì vịt".

Hôm nay, bài Tin Mừng cũng trình thuật cho chúng ta thấy một cuộc tiếp đãi thịnh tình đối với Đức Giêsu mà gia đình Martha đã thực hiện. Nơi đây, Ngài nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt của hai chị em Martha và Maria.

Nếu Martha thể hiện lòng kính trọng và yêu mến Đức Giêsu qua việc nấu ăn, thì Maria cùng một lòng kính trọng và tình yêu mến Đức Giêsu như Martha, nhưng Maria thì thể hiện cách khác là lắng nghe Lời Chúa. Hai công việc đều phát xuất từ lòng mến và được khởi đi từ sự kính trọng. Hai thái độ đều tốt. Một bề ngoài, một bề trong. Nhưng giá trị thì lại khác nhau. Hôm nay Đức Giêsu khen và nói với Maria rằng: cô đã chọn phần tốt nhất.

Thật vậy, lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành phải là điều quan trọng nhất, bởi vì: mọi sự sẽ qua đi, nhưng Lời Chúa vẫn luôn tồn tại.

Trong cuốn Đắc Nhân Tâm, bà Carnegie đã viết: "Cách làm cho khách vui lòng nhất là lắng nghe khách nói, lắng nghe ước muốn, nguyện vọng, tâm tư của người khác. Như vậy, tỏ ra mình kính trọng, quan tâm đến người để hiểu biết, thông cảm, chia sẻ những tâm tình, những kiến thức, những yêu cầu thiết thực của người, quí hơn cả cơm ăn, áo mặc".

Thật thế, Maria đã lựa chọn điều tốt nhất là được ở bên Đức Giêsu (x. Lc 10,42), nghe lời Ngài dạy (x. Lc 10,39) và lo lắng đến những gì thuộc về Ngài (x. 1Cor 7,32). Cô đã chọn cho mình phần phúc Nước Trời, bởi lẽ Đức Giêsu chính là nội dung của Tin Mừng, là hiện thân của Nước Hằng Sống. Vì thế, có Đức Giêsu là được cả Nước Trời. Nghe được Lời Chúa nói với mình và đem ra thực hành thì được ví như "... người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá" (Mt 7, 25). Maria trong bài Tin Mừng hôm nay đã có được đầy đủ các yêu tố trên, nên cô đáng được Đức Giêsu khen là người có phúc hơn Martha.

Thật vậy, việc lắng nghe Lời Chúa và tuân giữ cũng như đem ra thực hành là thể hiện lòng yêu mến Chúa trọn vẹn, vì qua đó, Lời Chúa được bén rễ sâu và sinh hoa kết quả trong đời sống của người lắng nghe.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi chúng ta: cần siêng năng đọc Thánh Kinh, suy gẫm và đem ra thực hành cách sống động trong gia đình, lối xóm, Giáo xứ và bất cứ môi trường nào... Bởi vì: "Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô" (thánh Giêrônimô), mà không biết gì về Ngài thì sao có thể định hướng đi cho cuộc đời của mình cách tốt đẹp? (x. Thư Chung 1980, số 8).

*SUY TƯ VÀ HÀNH ĐỘNG: Ước gì Đức Giêsu khen ngợi cô Maria khi xưa vì đã biết chọn phần tốt nhất cũng là lời tác phúc cho mỗi chúng ta khi mỗi người thành tâm đi tìm kiếm, yêu mến Chúa bằng việc lắng nghe và đem ra thực hành Lời ấy trong cuộc sống.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con biết chọn Chúa làm chủ tể đời chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến và lắng nghe Lời Chúa bằng thái độ của người môn đệ. Và, xin cho chúng con biết đem Lời Chúa ra để thực hành trong cuộc sống hiện tại. Amen.

Ngọc Biển SSP

-----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 46