mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3193
mod_vvisit_counterHôm Qua10439
mod_vvisit_counterTuần Này36707
mod_vvisit_counterTuần Trước72250
mod_vvisit_counterTháng Này148109
mod_vvisit_counterTháng Trước248232
mod_vvisit_counterTất cả17028481

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - AI THAY ĐỔI AI PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Tue, Jul 14 at 1:26 AM

 

THAY ÐỔI AI
Ngày xưa có một ông cụ già cố cứu kinh thành Sôđôm khỏi bị Chúa tiêu diệt bằng cách mỗi ngày đi gặp người dân trong thành để cảnh cáo và kêu gọi mọi người tin Chúa, thờ Chúa cho khỏi bị tiêu diệt. Không ai chịu nghe lời ông cụ mà còn chế diễu là mê tín dị đoan nữa. Ông cụ vẫn bền chí.

Có người hỏi:

- Tại sao cụ nói cho họ biết làm gì cho mệt. Họ có nghe cụ và thay đổi gì đâu Nói với họ cũng như nước đổ đầu vịt!

Ông cụ bình tĩnh đáp:

- Có lẽ tôi không thuyết phục nổi ai, cũng không thay đổi được ai đâu. Nhưng làm như thế cũng ngăn cản họ thay đổi lập trường của tôi chứ!

Câu truyện kể trên chỉ là một dụ ngôn. Trên thực tế ông Lót ngày xưa sống trong kinh thành Sôđôm. Chính là ông già đó.

Trong thư thứ hai của thánh Phêrô có ghi rằng: "Chúa cứu Lót ra khỏi Sôđôm vì ông là người công chính, tâm hồn luôn luôn bị dày vò vì những cảnh thương luân bại lý diễn ra hàng ngày quanh mình.

Có lẽ Lót đã từng tiếp xúc với đồng bào mình để nói với họ về tai họa mà thượng đế sắp giáng xuống kinh thành tội ác này.

Lót đã chọn vùng Sôđôm để sinh sống. Khi Sôđôm bị các nước lân bang xâm chiếm, Lót bị bắt đi. Abraham là chú phải ra tay tiếp cứu Lót. Nhưng Lót vẫn về sống ở kinh thành Sôđôm. Khi Chúa quyết định giáng tai họa xuống kính thành Sôđôm, Abraham đã cầu xin Chúa giải cứu, nhưng vì Sôđôm không có đến mười người kính thờ Chúa, nên đã bị tiêu diệt. Trước khi tai họa xảy ra, có hai thiên sứ của Chúa đến giải cứu Lót. Nhưng ông ta vẫn còn lần lữa. Khi đã ra khỏi Sôđôm, bà vợ ông Lót còn ngoái lại nhìn và đã bị biến thành tượng muối.

Kết thúc cuộc đời của Lót thật là bi thương với cảnh loạn luân của hai đứa con gái.
*
* *
Trong thế giới ngày nay, tình trạng thương luân bại lý càng ngày càng nhiều và lan rộng, đến độ người ta cho rằng phải sống đồi trụy mới là tiến bộ. Chẳng hạn như ăn nằm với nhau trước khi quyết định lấy nhau. Ðồng tính luyến ái, phá thai và các sách báo, phim, băng hình đồi trụy v.v... Nhiều người còn cho rằng: văn minh thì phải đồi trụy. Thật là sai lầm.

Ta là người tin Chúa sống trong xã hội băng hoại, ta cần cẩn thận. Phải nói về Chúa cho đồng bào mình vì nếu không chính chúng ta sẽ thay đổi theo chiều đồi trụy. Một phương cách bảo vệ niềm tin Chúa và đưa người khác đến với Chúa. Nếu không làm như vậy, không mấy lúc mà ta sẽ thay đổi chứ không phải mấy lúc mà ta sẽ thay đổi chứ không phải xã hội chung quanh ta thay đổi vì ta.
suy niệm và cầu nguyện

----------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - ĐỪNG VÌ ÔNG CHA MÀ BỎ CHÚA PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Thu, Jun 11 at 12:26 AM

 

ĐỪNG VÌ ÔNG CHA MÀ TA BỎ CHÚA

Cha Giuse Tiến Lộc, C.Ss.R, dịp giảng tĩnh tâm mùa Chay 2019 cho Giáo xứ Thái Hà thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội vừa qua đã kể câu chuyện rất hấp dẫn ấn tượng như sau:

Một cô chủ nọ đang ngồi bán hàng, thình lình một ông khách đến đặt hàng.

Trong khi đặt hàng, thì ông ta có nghe láng máng lờ mờ cái đài trong cửa hàng của cô đang nói về Đạo Chúa.

Ông lập tức hỏi cô chủ: Cô có Đạo à?

Cô chủ mau mắn đáp: Dạ vâng thưa ông. Tôi có Đạo. Tôi đang nghe các bài giảng hấp dẫn rất hay của cha Nguyễn Khảm (Sau này là Đức cha Khảm)

Ông bảo: Thưa cô, Tôi cũng từng là người có Đạo, nhưng tôi đã bỏ Đạo gần 10 năm nay rồi.

Cô chủ hỏi ông ta tại sao bỏ Đạo.

Ông trả lời là do giận dữ với một ông cha.

Ông thở dài kể:

"Số là ngày đó, khi đang trong nhà thờ, tôi lên cung Thánh chụp cái hình, thì ông cha sở thay vì nhẹ nhàng nhắc nhở tôi, thì ông cha chỉ thẳng mặt tôi, nhục mạ la mắng tôi thậm tệ trước cung Thánh và trước mặt biết bao nhiêu Giáo dân.

Tôi cảm thấy nhục quá, không kiềm chế được nóng giận và đã cầm máy ảnh đập mạnh xuống cung Thánh.

Cái máy ảnh vỡ tan và cả hai chúng tôi mặt cùng hằm hằm sát khí.

Tôi đã thề với ông cha ấy là từ nay sẽ không bao giờ thèm bước chân vào cái nhà thờ này nữa.

Và từ đó tôi không bao giờ đi nhà thờ. Việc đó đã xảy ra cách đây 10 năm".

Nghe xong câu chuyện, cô chủ đồng cảm với ông, vì cô biết có một số người cũng vì những trường hợp gương xấu không tốt mà bỏ Đạo.

Rồi cô xin phép kể cho ông câu chuyện.

"Giả như trong gia đình ông có một thằng anh (mà giống như ông cha xứ) bê bối, rượu chè, xì ke mà tuý. Vậy thì ông có về chỉ mặt bố mẹ ông và nói: Dạ thưa ông bà, từ giờ tôi không bao giờ thèm bước chân về cái nhà này nữa, vì ông bà không biết dạy con. Liệu ông có làm như thế không?"

Ông ta thinh lặng không trả lời, sau đó thỏa thuận giá cả và hẹn ngày giờ đến lấy đơn hàng.

Đến ngày giao hàng, cô gái chờ mãi không thấy ông ta đến, gọi điện cũng không nghe máy.

Thình lình một giờ sau, ông khách xuất hiện và xin lỗi cô chủ về sự chậm chễ của mình.

Cô bảo không sao và hỏi tại sao ông đến chậm.

Ông trả lời bất ngờ là lúc cô ấy gọi điện, thì ông ta đang đi xưng tội trong nhà thờ, vì qua câu chuyện cô kể, ông đã áy náy suy tư và nhận ra sai sót của mình.

Thật là một phép lạ.

Cô chủ nghe vậy thì sửng sốt ngỡ ngàng và cúi đầu tạ ơn Chúa.

Vậy là ông ta vì cha mà bỏ Chúa 10 năm, thì nay nhờ một Giáo dân tầm thường nhưng đạo đức, mà ông ta đã trở lại Đạo.

BỎ CHÚA VÌ CHA NHƯNG TRỞ VỀ VỚI CHÚA VÌ GIÁO DÂN.

Sau khi kết thúc câu chuyện, cha Tiến Lộc kết luận, nhiều cha giảng hay như nước, nhưng chẳng có ai sám hối. Và do gương sáng của nhiều Giáo dân mà đã kêu gọi được nhiều tâm hồn lầm lạc tội lỗi trở về.

Cha thường hơn Giáo dân, nhưng nhiều khi Giáo dân lại hơn cha.

Đức cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, nguyên TGMHN có lần đã nói "có những việc và những vấn đề mà giáo sĩ và tu sĩ không làm được, nhưng giáo dân và hội đoàn họ lại làm được".

Việc Chúa làm thật là kỳ diệu.

Chúng ta theo Chúa chứ không theo cha.
Nên đừng vì một ông cha mà ta bỏ Chúa.

ĐỪNG VÌ ÔNG CHA MÀ TA BỎ CHÚA.

ĐỪNG VÌ NGƯỜI TA MÀ TA XA NGÀI.

Bỏ Chúa chỉ có thiệt mình mà thôi.

Viết lại theo bài giảng của cha Tiến Lộc tại địa chỉ: https://www.youtube.com/watch?v=RUx3lEk4TzI&feature=share

(Nếu thấy bài viết ý nghĩa cho chính mình và mọi người, thì xin hãy Tạ ơn Chúa, rồi nhanh chóng chia sẻ cho người khác. Và xin cầu cho nhau)
ST

--------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - THÁNH GIUE THỢ PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

Người thợ vô danh: Thinh lặng, cầu nguyện và xin vâng.

01/05 – Thứ Sáu đầu tháng, tuần 3 Phục Sinh. – Thánh Giuse thợ.

"Ông ta không phải là con bác phó mộc sao?"

* Là một người thợ ở làng Galilê, thánh Giuse là mẫu gương người Kitô hữu phải noi theo để chu toàn các bổn phận nghề nghiệp, vì thánh Giuse đã làm việc trong tâm tình liên kết với Đức Giêsu. Lao động thì vất vả nhưng cũng đem lại niềm vui.

Lao động phục vụ con người nhưng cũng giúp đưa tới gần Thiên Chúa: đó là điều ta học được nơi trường học Nagiarét.

Lời Chúa: Mt 13, 54-Lời 58

Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà, giảng dạy dân chúng trong hội đường, họ bỡ ngỡ và nói rằng: "Bởi đâu ông này khôn ngoan và tài giỏi như thế? Ông không phải là con bác thợ mộc ư? Mẹ ông không phải là bà Maria? và Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa không phải là anh em của ông sao? Và tất cả chị em của ông không phải ở nơi chúng ta đó sao? Vậy bởi đâu ông được mọi điều ấy như thế?" Và họ lấy làm gai chướng về Người.

Nhưng Chúa Giêsu nói với họ: "Không có tiên tri nào được vinh dự nơi quê hương và nơi nhà mình".

Và Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ cứng lòng tin.

 

SUY NIỆM 1: Đức Giêsu về quê

 

Sau khi đã chịu phép Rửa, vào hoang địa để cầu nguyện, ăn chay,

có một ngày nào đó, Đức Giêsu chia tay Đức Mẹ để lên đường.

Lên đường là bỏ lại ngôi làng Nazareth dấu yêu với bao kỷ niệm.

Chính tại đây Ngài đã sống hơn ba mươi năm trong bầu khí gia đình.

Chính tại nơi này, Ngài đã lớn lên quân bình về thân xác, trí tuệ, tâm linh.

Nazareth như một ngôi trường lớn, chuẩn bị cho Ngài chững chạc đi sứ vụ.

Tại đây, Đức Giêsu đã là con bác thợ Giuse (c. 55),

và đã trở thành thợ theo truyền thống cha truyền con nối.

Ngài đã được dạy nghề và hành nghề để kiếm sống cho bản thân và gia đình.

Đức Giêsu là một người thợ tại Nazareth, phục vụ cho nhu cầu dân làng.

Ngài biết đến cái vất vả của công việc chân tay nặng nhọc.

Đức Giêsu không thuộc giới trí thức, thượng lưu, quyền quý.

Lao động làm Ngài gần với người nghèo và thấy sự đơn sơ của tâm hồn họ.

Cũng tại Nazareth, đời sống cầu nguyện của Đức Giêsu được nuôi dưỡng.

Ngài học được lối cầu nguyện một mình ở nơi vắng vẻ.

Đức Giêsu có khả năng thấy sự hiện diện yêu thương của Cha nơi mọi sự,

nơi một bông hoa, nơi chim trời, nơi ánh nắng và cơn mưa.

Tình thân của Con đối với Cha ngày càng trở nên sâu đậm.

Ngài tìm ý Cha mỗi lúc và để Cha chi phối trọn vẹn đời mình.

Hôm nay Đức Giêsu trở về làng cũ sau một thời gian đi sứ vụ.

Ngài vào lại hội đường quen thuộc, gặp lại những khuôn mặt đồng hương.

Không rõ trước đây có lần nào bác thợ Giêsu được mời giảng ở đây chưa.

Nhưng lần này, khi trở về với tiếng tăm từ những phép lạ làm ở nơi khác,

Đức Giêsu đã khiến dân làng sửng sốt vì sự khôn ngoan trong lời giảng dạy.

Hai lần họ đặt câu hỏi: Bởi đâu ông ta được như thế? (cc. 54. 56).

Một câu hỏi rất hay, nếu được tìm hiểu một cách nghiêm túc.

Câu hỏi này có thể đưa họ đi rất xa, để gặp được căn tính của Đức Giêsu.

Tiếc thay, dân làng Nazareth lại không quên được nghề nghiệp của cha Ngài.

Họ nhớ rất rõ họ hàng gần xa của Ngài là mẹ và các anh chị.

Họ có thể kể tên từng anh chị em của Ngài, vì đều là bà con lối xóm (c. 55).

Đức Giêsu là người mà họ biết quá rõ từ thuở ấu thơ.

Làm sao con người bình thường, ít học đó lại có thể là một vị ngôn sứ?

Làm sao từ ngôi làng Nazareth vô danh này lại xuất hiện ngôn sứ được?

Và họ vấp ngã vì Đức Giêsu, nghĩa là họ đã không tin vào Ngài.

Cái biết gần gũi của họ về Ngài lại trở nên thành kiến

khiến họ không thể tiến sâu hơn vào mầu nhiệm con người Đức Giêsu.

Người đồng hương của Ngài đã không trả lời được câu hỏi: Bởi đâu...?

Mỗi con người là một mầu nhiệm mà ta phải khám phá mãi.

Có những mầu nhiệm lớn ẩn trong lớp áo tầm thường.

Dân làng Nazareth đã không nhận ra hồng phúc mà họ đang hưởng.

Chúng ta cũng cần được giải thoát khỏi những cái biết hẹp hòi,

để thấy mình hạnh phúc khi sống với người khác gần bên.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giêsu,

dân làng Nazareth đã không tin Chúa

vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ công.

Các môn đệ đã không tin Chúa

khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự.

Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa

chỉ vì Chúa sống như một con người,

Cũng có lúc chúng con không tin Chúa

hiện diện dưới hình bánh mong manh,

nơi một linh mục yếu đuối,

trong một Hội thánh còn nhiều bất toàn.

Dường như Chúa thích ẩn mình

nơi những gì thế gian chê bỏ,

để chúng con tập nhận ra Ngài

bằng con mắt đức tin.

Xin thêm đức tin cho chúng con

để khiêm tốn thấy Ngài

tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

SUY NIỆM 2: Giuse trong xóm nhỏ điêu tàn

"Giuse trong xóm nhỏ điêu tàn..."

Có lẽ không một người công giáo Việt Nam nào mà không thuộc nằm lòng bài thánh ca trên đây của cố linh mục Ðạo Minh, dòng thánh Giuse... Tác giả đã sáng tác ca khúc trong giai đoạn đau thương của đất nước giữa hai thập niên 40 - 50 và cũng như thánh Giuse, đã ra đi âm thầm trong một cái chết vô cùng bí ẩn sau ngày thay đổi chế độ.

Lời ca đơn sơ xuất phát từ cuộc sống lam lũ qua mọi thời đại của người Việt Nam. Nhưng tâm tình đó lại càng hợp với hoàn cảnh sống của người Việt Nam hơn bao giờ hết. Với khẩu hiệu lao động là vinh quang... dường như sau năm 1975, người Việt Nam nào cũng đã hơn một lầm mồ hôi nhễ nhại với cây cuốc, cái cày hoặc còng lưng trên chiếc xích lô đạp...

Trong cảnh sống đó, có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy gần gũi với thánh Giuse, vị thánh được mệnh danh là người công chính, nhưng đồng thời cũng là con người thinh lặng nhất trong Phúc Âm. Có rất nhiều thứ thinh lặng. Thinh lặng của những người câm điếc, bị trói buộc trong bất lực tự nhiên của mình. Thinh lặng trong cô đơn buồn chán. Thinh lặng trong căm thù oán ghét. Thinh lặng trong khép kín ích kỷ. Thinh lặng trong kiêu hãnh trước đe dọa, thử thách...

Thánh Giuse đã thinh lặng trong tinh thần chấp nhận và chiêm niệm. Trong cuộc sống âm thầm tại Nagiaréth, thánh Giuse đã thinh lặng để chiêm ngưỡng mầu nhiệm nhập thể kỳ diệu trong con người của Chúa Giêsu. Cuộc đời của thánh Giuse đã bắt đầu bằng một giấc mơ để rồi tiếp tục trong một giấc mơ triền miên. Nhưng đây không phải là một giấc mơ của mộng ảo phù du, mà là một giấc mơ trong chiêm niệm về hiện thực...

Trong sự thinh lặng chiêm niệm ấy, từng biến cố nhỏ của cuộc sống đã mang nặng sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa.

Hôm nay là ngày lao động Quốc tế. Ngày lao động Quốc tế này gợi lại cả một quá trình tranh đấu của giới thợ thuyền của Âu Châu vào đầu thế kỷ vừa qua. Từ những bất công xã hội, cuộc đấu tranh của giới thợ thuyền đã làm trồi dậy phẩm giá của con người và giá trị của sự cần lao...

Ðối với người Kitô, ngày Quốc tế lao động này gắn liền với con người của Thánh cả Giuse, quan thầy và gương mẫu của giới cần lao. Do đó ngày hôm nay đối với chúng ta phải là một ngày của suy tư và cầu nguyện. Suy tư về ý nghĩa và giá trị những công việc hằng ngày của chúng ta. Cầu nguyện cho mọi người biết nhận ra sự hiện diện và tác động và lời kêu mời của Chúa trong cuộc sống...

(Trích trong 'Lẽ Sống' – Radio Veritas Asia)

SUY NIỆM 3: Thánh Giuse: người lao động.

"Con bác thợ mộc"! Lời phát biểu này không có gì là khinh chê, chỉ tỏ vẻ ngạc nhiên, người ta không thể tưởng tượng được cậu con trai tầm thường, mà mọi người trong làng Nadarét đều biết con của Giuse sống trong tối tăm. Thế mà mọi người đều thấy cậu khôn ngoan, đầy quyền lực làm phép lạ. Luca đã dẫn hai câu châm ngôn ngắn gọn: Ngôn sứ không ở quê nhà! thầy thuốc không thiêng cho bà con! để giải thích hoàn cảnh này, họ còn đi xa hơn nữa biến đổi sự ngạc nhiên ra sự xúc phạm: họ dận dữ và quyết định giết đi cho khuất mắt. Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều có nói: Đức Giê-su không muốn và cũng không thể làm được phép lạ vì họ cứng lòng tin... Những Phúc Âm hoang đường đã viết, Người đã làm nhiều điều kỳ diệu để tỏ cho họ biết Người là vị anh hùng vĩ đại, chỉ giản dị với danh hiệu: "Con bác thợ mộc". Bác thợ mộc không có một ngôn sứ, không biết ăn nói, Giêsu chỉ là con ông Giuse thinh lặng thôi...

Giuse, Ngài đã nhận những lệnh của trời không qua cuộc đàm thoại như Ma-ri-a và Giacaria, nhưng qua giấc mơ, Ngài không thể nói gì, chỉ biết tỉnh dậy vâng lời; Giuse chỉ nói một tiếng như thiên sứ bảo; đặt tên con trẻ sinh ra bởi Ma-ri-a là Giêsu (có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ như Giosuê). Ngài đã nhận lệnh đặt tên, để biểu lộ Ngài được những đặc quyền thuộc dòng dõi David. Đó là dấu chỉ ân phúc cho Ngài như thiên sứ nói để giải tỏa nỗi âu lo của Ngài trước sự mang thai của Ma-ri-a: Giuse con dòng David... đó là vai trò thừa kế, không phải bằng đời sống huyết nhục, nhưng bằng sự nghiệp phong phú của lịch sữ Israel để thực hiện lời hứa với David. Nơi người con nuôi duy nhất của mình... vâng, Giuse chỉ nói một tiếng Giêsu, nhưng tiếng nói này quyết định cho lịch sử cứu độ. Rồi Ngài lại đi vào thinh lặng.

Như Claude đã viết: "Khi những dụng cụ được xếp vào chỗ của chúng rồi thì công việc trong ngày đã xong. Khi con lạc đà ở sông Giócdan ở Israel ngủ trong cánh đồng lúa về ban đêm... thì Giuse đi vào trong cuộc nói chuyện của Thiên Chúa với những tiếng thở dài không dứt...".

L.P

SUY NIỆM 4: Thánh Giuse Thợ

(tonggiaophanhanoi.org // Enzo Lodi )

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Lễ này đã được Đức Giáo Hoàng Piô XII thiết lập năm 1955 và được ấn định vào ngày 1 tháng 5 để mang lại cho lao động một chiều kích Kitô-giáo. Thật vậy, khuôn mặt thánh Giuse, người thợ mộc ở Nagiarét, đã kỳ diệu góp phần giúp chúng ta hiểu được giá trị và sự cao cả của giới lao động. Từ Hy-lạp Tectôn được dịch là "thợ mộc" gán cho Giuse có lẽ chỉ định người thợ mộc, thợ đá hoặc thợ kim loại và cũng có thể là thợ xây dựng nhà cửa.

Do truyền thống gia đình, chắc chắn Đức Giêsu đã được hướng dẫn để làm nghề này. Vì thế, chúng ta đọc trong Tin Mừng của Marcô: (Đức Giêsu) không phải là bác thợ, con Bà Maria sao ? (Mc 6,3). Đối với người Do Thái thuộc thời soạn thảo Kinh thánh, công việc tay chân cũng thánh thiêng, đối với các Rabbi hay các tư tế cũng thế. Các Rabbi bình giảng sách Giảng viên cũng nói: "Con hãy lo cho mình có được một nghề nghiệp, song song với việc học hỏi lẽ khôn ngoan". Thế rồi, không những hành nghề mà thôi, song còn phải truyền nghề cho con cái vì như sách Talmud đã chép: "Kẻ nào không dạy nghề tay chân cho con mình, kẻ đó như thể cướp mất sự nghiệp sinh tồn của con cái". Sách này còn nhấn mạnh đến tính chất thánh thiêng và giá trị của công việc tay chân: "Người thợ, trong lúc lao động, không buộc đứng dậy tiếp bậc kinh sư cho dù là vị cao trọng nhất... Kẻ nào giúp ích cho người đồng loại bằng sức lao động của mình thì cao trọng hơn người học biết Thiên Chúa... Kẻ nào nuôi sống mình bằng sức lao động thì cao trọng hơn người vô công rỗi nghề, chỉ biết giam mình trong các tâm tình đạo đức ..."

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Lời nguyện trong Thánh lễ gợi cho chúng ta "Gương thánh Giuse", được Tin mừng gọi là "người thợ mộc" (Mt 13,55). Truyền thống cho thấy ngài sống thân tình với Đức Maria, hôn thê của mình và với trẻ Giêsu, chính Người cũng được gọi là "bác thợ mộc" (Mc 6,3). Như thế cả ba vị đều tôn vinh Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ; Người muốn con người lao động để tôn vinh Người và tiếp tục công trình sáng tạo của Người (lời nguyện nhập lễ).

b. Bài đọc - Kinh sách, trích Vaticanô II (Hội thánh trong thế giới ngày nay) làm nổi bật ý nghĩa Kitô giáo trong các sinh hoạt của con người. "Nổ lực này đáp ứng với ý định của Thiên Chúa... Điều ấy cũng bao gồm các sinh hoạt thông thường nhất. Vì con người, nam cũng như nữ, khi nuôi sống mình và gia đình, đều phải hoạt động phục vụ xã hội. Họ có quyền nghĩ rằng sức lao động của họ mở mang công cuộc của Đấng tạo hóa và mang lại hạnh phúc cho các anh chị em, cũng như khả năng riêng của mỗi người, cũng góp phần kiện toàn kế hoạch của Thiên Chúa trong lịch sử". Nơi khác, cũng Hiến chế này ghi nhận: "Nhờ việc làm của mình dâng lên Thiên Chúa, con người cộng tác vào chính công cuộc cứu rỗi của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã nâng cao giá trị của việc làm khi Người làm việc với chính hai bàn tay của mình tại Nagiarét. Do đó, mỗi người có bổn phận phải trung thành làm việc và cũng có quyền làm việc nữa" (Vaticanô II: LG 67,2).

-----------------------------------

 

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH -CẦU NGUYỆN VỚI ĐỨC ME PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Fri, Apr 17 at 7:10 PM

LẠY ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP !

CHÚNG CON LÀ NHỮNG TỘI NHÂN, BẤT LỰC TRƯỚC ĐẠI DỊCH CORONA VÀ MUÔN SỰ DỮ ĐANG HOÀN HÀNH KHỦNG KHIẾP,
CHÚNG CON TÍN THÁC VÀ TIN TƯỞNG VÀO LÒNG TỪ BI LUÔN YÊU THƯƠNG CỦA MẸ.
XIN MẸ KHẨN CẦU CHÚA THA THỨ TỘI LỖI VÀ DẸP TAN ĐẠI DỊCH GIẢI THOÁT CHÚNG CON.
XIN MẸ CẢM TẠ ƠN CHÚA CHO CHÚNG CON.
CHÚNG CON CẢM TẠ, TRI ÂN VÀ YÊU MẾN MẸ. AMEN.

-------------------------------------------

*CẦU NGUYỆN TÍCH CỰC VỚI ĐỨC MẸ:

DỰA VÀO LỜI CHÚA NÓI: "THẦY BAN CHO ANH EM BÌNH AN CỦA THẦY...ANH EM ĐỪNG XAO XUYẾN, CŨNG ĐỪNG SỢ HẢĨ". (Gioan 14, 27)

NHỚ LỜI MẸ NÓI TRONG TIỆC CƯỚI CANA,(Gioan 2,5) CON QUYẾT TÂM SỐNG LỜI CHÚA DẠY TRÊN VÀ ĐỌC- THỰC HÀNH KINH BẢY MỐI TỘI ĐẦU, ĐỂ SÁM HỐI, ĐỔI MỚI NGÁY!

VÌ CON TIN RẰNG CHÚA VÀ MẸ SẼ GIÚP CON THẮNG VIRUS CORONA ÁC QUÁI NÀY. AMEN!

----------------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH -THỨ TƯ CN2MC-A PDF Print E-mail

Tinh Cao

Thứ Tư sau Chúa Nhật II Mùa Chay

Bài Ðọc I: Gr 18, 18-20

"Hãy đến, và chúng ta hành hạ nó".

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Thiên hạ nói rằng: "Các ngươi hãy đến và chúng ta tìm cách chống lại Giêrêmia: vì tư tế không thiếu lề luật, người khôn ngoan không thiếu lời chỉ bảo, tiên tri không thiếu lời giảng dạy! Hãy đến, chúng ta hãy dùng lời nói mà tố cáo nó và đừng để ý đến các lời nó dạy".

Lạy Chúa, xin lưu tâm đến con, và nghe tiếng quân thù của con! Làm lành mà phải gặp dữ sao, vì họ đào lỗ chôn con? Xin Chúa hãy nhớ lại con đã đứng trước nhan thánh Chúa để biện hộ cho họ, Chúa đã nguôi giận họ.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 30, 5-6. 14. 15-16

Ðáp: Lạy Chúa, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa (c. 17b).

Xướng: 1) Chúa dẫn con xa lưới dò chúng ngầm trương ra để hại con, vì Ngài là chỗ con nương náu. Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa; lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con. - Ðáp.

2) Con đã nghe thấy lũ đông bàn tán, nỗi sợ sệt gieo nặng khắp đôi nơi; cùng một lúc, chúng tụ họp phản đối con; chúng đã âm mưu sát hại mạng con. - Ðáp.

3) Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài, con kêu lên: Ngài là Thiên Chúa của con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ con khỏi tay quân thù và những người bách hại. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ge 2, 12-13

Chúa phán: "Vậy từ đây các ngươi hãy thật lòng quay về với Ta, vì Ta nhân hậu và từ bi".

Phúc Âm: Mt 20, 17-28

"Họ đã lên án tử cho Người".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, đem riêng mười hai môn đệ đi theo. Dọc đường, Người nói với họ: "Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá, nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại".

Bấy giờ bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Người. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người điều chi đó. Người hỏi: "Bà muốn gì". Bà ta thưa lại: "Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài". Chúa Giêsu đáp lại: "Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây Ta sắp uống chăng?" Họ nói với Người: "Thưa được". Người bảo họ: "Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được". Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em: Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: "Các con biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu trong các con, thì hãy làm tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người".

Ðó là lời Chúa.

SUY NIỆM: BẠN VÀ TÔI CẦN SỐNG PHỤC VỤ THA NHÂN

"Môn đệ cần phải hân hoan được nên giống như Thày mình và tôi tớ được nên giống như chủ mình" (Mathêu 10:25).

Ngày Thứ Tư trong Tuần 2 Mùa Chay hôm nay, Bài Phúc Âm được Thánh ký Mathêu trình thuật lại 4 sự kiện liền, thứ nhất là sự kiện Chúa Giêsu tỏ ra cho riêng các môn đệ biết về cuộc vượt qua của Người, thứ hai là sự kiện bà mẹ của cặp anh em tông đồ Giacôbê và Gioan đến xin với Chúa Giêsu cho hai người con của bà một đặc ân, thứ ba là sự kiện Chúa Giêsu đáp lại lời yêu cầu xin đặc ân của ba mẹ con này, và thứ bốn là sự kiện Chúa Giêsu huấn dụ chung các tông đồ nhân biến cố xin đặc ân ấy.

Thứ nhất là sự kiện Chúa Giêsu tỏ ra cho riêng các môn đệ biết về cuộc vượt qua của Người, bài Phúc Âm hôm nay thuật lại rằng: "Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá, nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại".

Thứ hai là sự kiện bà mẹ của cặp anh em tông đồ Giacôbê và Gioan đến xin với Chúa Giêsu cho hai người con của bà một đặc ân: "Bấy giờ bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Người. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người điều chi đó. Người hỏi: 'Bà muốn gì'. Bà ta thưa lại: 'Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài'".

Thứ ba là sự kiện Chúa Giêsu đáp lại lời yêu cầu xin đặc ân của ba mẹ con này: "Chúa Giêsu đáp lại: 'Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây Ta sắp uống chăng?' Họ nói với Người: 'Thưa được'. Người bảo họ: 'Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được'".

Thứ bốn là sự kiện Chúa Giêsu huấn dụ chung các tông đồ nhân biến cố xin đặc ân ấy: "Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em: Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: 'Các con biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu trong các con, thì hãy làm tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người'".

Giáo Hội chọn bài Phúc Âm hôm nay, căn cứ vào chiều hướng chung của phụng vụ lời Chúa trong ngày, thì sự kiện nổi bật nhất trong 4 sự kiện ở bài Phúc Âm không phải là sự kiện việc yêu cầu của 3 mẹ con hai anh em tông đồ Giacôbê và Gioan, mà là sự kiện 1 và 4 liên quan đến chính số phận của Chúa Kitô, là Đấng, như Người khẳng định ở câu kết của bài Phúc Âm: "đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người", đúng như lời Người tiên báo ở đầu bài Phúc Âm về bản thân Người: "Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá, nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại".

Đúng thế, chính vì "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17), chủ đề cho chung Mùa Chay bao gồm cả Tuần Thánh, mà Người "đã tự ý bỏ sự sống mình đi", ở chỗ, "Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá", không phải để hoàn toàn và vĩnh viễn bị hủy diệt, bị tiêu tan, bị sự dữ lấn át, trái lại "để lấy nó lại", ở chỗ: "nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại", tức để tỏ mình ra là Thiên Chúa hằng sống, bất diệt, Đấng đã hóa thân làm người và chiến thắng tội lỗi và sự chết, nhờ đó, qua nhân tính của mình, thông ban sự sống thần linh và Thánh Linh của Người, cho Giáo Hội "được sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10;10).

Giáo Hội được thừa hưởng sự sống viên mãn này của Chúa Kitô Phục Sinh, nhất là sau Biến Cố Thánh Thần Hiện Xuống ở Giêrusalem trong Ngày Lễ Ngũ Tuần mà các tông đồ là nền tảng của Giáo Hội (xem Epheso 2:20), vậy để có thể hoàn thành sứ vụ làm chứng nhân tiên khởi của mình, Giáo Hội nói chung, qua các tông đồ bấy giờ, cũng cần phải được thông phần vào cuộc vượt qua của Thày các vị và với Thày của các vị, bởi "tôi tớ không hơn chủ và môn đệ không hơn Thày. Môn đệ cần phải hân hoan được nên giống như Thày mình và tôi tớ được nên giống như chủ mình" (Mathêu 10:24-25).

Đó là lý do, bài Phúc Âm hôm nay còn bao gồm cả sự kiện 3 mẹ con của cặp anh em tông đồ Giacôbê và Gioan, những con người, cho dù sau khi nghe thấy Chúa Giêsu báo trước về cuộc vượt qua kinh hoàng khủng khiếp của Người, ngoài sức tưởng tượng và lòng mong ước của các vị cũng là của chính đại chúng Do Thái, đã dám dấn thân theo Người bằng việc sẵn sàng "uống chén" của Người và với Người, không sợ, nhờ đó hai vị tông đồ này đã hiện thực đúng như lòng mong ước của Chúa Giêsu: "Môn đệ cần phải hân hoan được nên giống như Thày mình và tôi tớ được nên giống như chủ mình" (Mathêu 10:25).

"Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được". Lời Chúa Giêsu nói đây để đáp lại tinh thần dấn thân tham phần vào cuộc vượt qua của Người và với Người không phải chỉ là một lời có vẻ thoái thác quyền hạn của Người mà là, ở một nghĩa sâu xa nào đó, ám chỉ đến số phận đặc biệt của riêng hai vị tông đồ là "những đứa con sấm xét" này (xem Marco 3:17) đã được "Cha Ta chuẩn bị" rồi, để "Thày ở đâu các con cũng được ở đó với Thày" (Gioan 14:3).

Theo khách quan thì thái độ và hành động của ba mẹ con nhị vị tông đồ Giacôbê và Gioan có vẻ như ham danh, nhưng không ngờ lại hợp với Chúa Kitô, Đấng đã tiết lộ về mầu nhiệm vượt qua của Người cho các môn đệ 3 lần, lần đầu thì các vị chẳng hiểu gì nên can gián Người (xem Marco 8:31-33), lần thứ hai thì dù không hiểu cũng không dám hỏi (xem Marco 9:31-32), nhưng lần thứ ba lại có 2 môn đệ dám dấn thân theo Người như hai anh em tông đồ Giacôbê và Gioan, đến độ Người đã hứa cho họ được toại nguyện, ở chỗ: "Được các con sẽ uống chén của Thày".

Thật vậy, cuối cùng, cả hai vị tông đồ này đều được toại nguyện: Tông đồ Gioan là người môn đệ được ngồi bên phải Người khi vị này trở thành người môn đệ duy nhất được đứng dưới chân thập giá của Người (xem Gioan 19:26), và tông đồ Giacôbê là người môn đệ được ngồi bên tả Người khi vị này trở thành vị tử đạo đầu tiên trong các tông đồ và ở tại Giêrusalem như Người (xem Tông Vụ 12:2).

Số phận của Chúa Kitô, vị Ngôn Sứ chính yếu và tối hậu được Thiên Chúa sai đến trần gian nơi dân Do Thái, cũng như số phận làm ngôn sứ như Thày và với Thày của các tông đồ nói chung và của 2 người môn đệ là những đứa con sấm xét Giacôbê và Gioan trong bài Phúc Âm hôm nay nói riêng, đã được báo trước nơi các vị tiên tri, ngôn sứ ngày xưa trong lịch sử dân Do Thái, mà tiên tri Giêrêmia trong Bài Đọc 1 hôm nay là tiêu biểu điển hình, như chính vị tiên tri này bày tỏ:

"Thiên hạ nói rằng: 'Các ngươi hãy đến và chúng ta tìm cách chống lại Giêrêmia: vì tư tế không thiếu lề luật, người khôn ngoan không thiếu lời chỉ bảo, tiên tri không thiếu lời giảng dạy! Hãy đến, chúng ta hãy dùng lời nói mà tố cáo nó và đừng để ý đến các lời nó dạy'. Lạy Chúa, xin lưu tâm đến con, và nghe tiếng quân thù của con! Làm lành mà phải gặp dữ sao, vì họ đào lỗ chôn con? Xin Chúa hãy nhớ lại con đã đứng trước nhan thánh Chúa để biện hộ cho họ, Chúa đã nguôi giận họ".

Đúng thế, số phận của các vị ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến để truyền đạt sự thật là ý muốn tối hậu của Ngài, bao gồm cả chính Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, như dụ ngôn của bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần này sẽ cho thấy, đều cảm thấy số phận bất hạnh của mình, đó là "làm lành mà phải gặp dữ": "làm lành" ở chỗ "con đã đứng trước nhan thánh Chúa để biện hộ cho họ, Chúa đã nguôi giận họ", "mà phải gặp dữ" ở chỗ "họ đào lỗ chôn con".

Bởi thế, một trong những dấu hiệu chắc chắn nhất và chân thật nhất để thấy được ai là ngôn sứ thật sự của Thiên Chúa và được Thiên Chúa sai đến đó là số phận "làm lành mà phải gặp dữ" của họ, bởi họ loan truyền sự thật, một sự thật tự bản chất có sức giải phóng (xem Gioan 8:32) nhưng lại là sự thật phũ phàng làm mất lòng, gây phản kháng và trù dập, nhưng chính số phận bất hạnh này đã chứng thực cho vai trò ngôn sứ của họ cũng như cho sứ điệp cứu độ từ họ, chứ họ không phải là những thứ tiên tri giả, kitô giả, mị dân, sợ dân, sợ sự thật, nên không bao giờ bị hoạn nạn, trái lại, còn được quần chúng mộ mến, tôn sùng như thần tượng của thế gian!

Tuy nhiên, để có thể chu toàn vai trò ngôn sứ đích thực của mình, thành phần thiên sai cần phải có một niềm tin tưởng mãnh liệt vào chính Đấng đã sai mình, bằng những cảm nhận thần linh và tâm tình siêu nhiên như trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Chúa dẫn con xa lưới dò chúng ngầm trương ra để hại con, vì Ngài là chỗ con nương náu. Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa; lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con.

2) Con đã nghe thấy lũ đông bàn tán, nỗi sợ sệt gieo nặng khắp đôi nơi; cùng một lúc, chúng tụ họp phản đối con; chúng đã âm mưu sát hại mạng con.

3) Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài, con kêu lên: Ngài là Thiên Chúa của con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ con khỏi tay quân thù và những người bách hại.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MC-TuanII-4.mp3

--

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 47