mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1640
mod_vvisit_counterHôm Qua3534
mod_vvisit_counterTuần Này21105
mod_vvisit_counterTuần Trước47627
mod_vvisit_counterTháng Này203708
mod_vvisit_counterTháng Trước195218
mod_vvisit_counterTất cả18783413

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH ALPHONG-SÔ PDF Print E-mail

Kim Vu

>
>
>
> THÁNH ANPHONGSÔ, CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH
>
>
>
> Thánh Anphong Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế. Tiến Sĩ Hội Thánh. Bổn mạng các nhà luân lý Công giáo. Bổn mạng các cha giải tội.
>
>
>
> Anphong Maria de Liguori sinh năm 1696 trong một gia đình quý tộc và giàu có ở Napoli. Cha ngài, Don Giuseppe là sĩ quan Hải quân Hoàng gia đầy nghị lực, ý chí và trách nhiệm. Mẹ ngài là bà Anna Catarina Cavalieri danh giá và thùy mị. Gia đình được tám người con, Anphong là con cả.
>
>
>
> Với trí thông minh đặc biệt, lại được giáo dục trong một môi trường thuận lợi để phát triển mọi khả năng trong mọi lãnh vực triết học, toán học, khoa học, văn chương và nghệ thuật. Vì vậy, khi chỉ mới 16 tuổi, Anphong đã xuất sắc đạt được cả hai bằng tiến sĩ ưu hạng về Giáo luật và luật dân sự.
>
> Cả kinh thành Napoli ngưỡng mộ vị luật sư trẻ trung tài hoa với kỳ tích, trong vòng tám năm, từ năm 1715 đến 1723 ngài đã thắng tất cả các vụ kiện.
>
>
>
> Con đường công danh trải thảm mượt mà dưới chân vị luật sư trẻ đầy tài năng, dẫn ngài đi tới hết vinh quang này tới vinh quang khác. Nhưng Thiên Chúa đã có một kế hoạch khác cho ngài. Với những ân sủng Thiên Chúa ban, cộng với tinh thần đạo đức sốt mến và lòng yêu thương người nghèo, nhất là những người nghèo bị bỏ rơi hơn cả, Anphong đã mau chóng nhận ra thánh ý Chúa định cho cuộc đời mình, và ngài đã cương quyết thi hành.
>
>
>
> Năm 1723 trong một vụ kiện lịch sử, Anphong, với lương tâm trung thực và thanh liêm, nghĩ tưởng công lý nằm trong lẽ phải, nhưng ngài bàng hoàng khi thấy đồng tiền bẻ cong công lý, quyền lực giày đạp luật pháp dưới chân. "Hỡi thế gian, ta biết ngươi rồi... Vĩnh biệt pháp đình" là câu nói cuối cùng của vị luật sư trẻ khi nhìn ra được bộ mặt gian xảo của thế gian.
>
>
>
> Cắt hết mọi mối tương quan, chìm đắm trong cô tịch để làm lại cuộc đời, nhưng vẫn duy trì nếp sống đạo đức và viếng thăm bịnh nhân. Ngày kia, một câu nói xoáy vào tâm hồn: "Hãy để thế gian lại đó và hiến mình cho Ta," Anphong tỉnh ngộ chạy đến nhà thờ Đức Maria Chuộc Kẻ Làm Tôi, rút thanh gươm quý tộc đặt dưới chân Đức Maria và thưa: "Vĩnh biệt thế gian và của cải phù vân. Lạy Chúa, đời con nay thuộc về Chúa. Chức tước và của cải gia đình, con xin dâng làm lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa và cho Mẹ Maria."
>
>
>
> Dù người cha phản đối kịch liệt và làm mọi cách lôi kéo Anphong về lại thế gian, nhưng ngài vẫn quyết tâm trở thành tôi tớ của Đức Kitô. Được thụ phong linh mục vào năm 1726 tại Tổng giáo phận Napoli, lúc ấy còn nhập nhằng lem luốc với hàng giáo sĩ xa hoa và các vị thánh, những tu sĩ dốt nát, sân si bên cạnh những vị dấn thân cho việc thăng tiến con người, cho những giá trị Kitô giáo, những cha giải tội phóng khoáng bên cạnh những linh mục nghiêm khắc, phản ánh đàng sau đó là sự đối chọi của hai nền luân lý khắt khe của phái Jansenisme, và phóng khoáng của phái Laxisme.
>
>
>
> Cha Anphong gia nhập Hội Tông Đồ Thừa Sai của Giáo Phận để rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lý cho những người nghèo khổ, bần cùng, đa phần bị nhiễm các thói hư tật xấu, bị cả Giáo hội lẫn xã hội bỏ rơi ở Napoli. Ngài nhiệt thành xây dựng đời sống đức tin cho họ, khích lệ họ cải thiện lối sống, và nhẫn nại dạy họ cầu nguyện.
>
>
>
> Chính sự gần gũi với đoàn chiên không người chăn dắt, Giáo hội qua cha Anphong đã đến vùng ngoại vi của việc chăm sóc mục vụ, làm sáng lên vẻ đẹp vốn có của Giáo hội, phải lem luốc trên đường phố với người nghèo chứ không ẩn mình trong sự an toàn giả tạo. Sáng kiến mục vụ và sự dấn thân của Cha Aphongsô đã đạt kết quả rất đáng khích lệ.
>
>
>
> Trong những khu "ổ chuột" nơi đầy rẫy "những bọn cặn bã" của thành phố, hình thành những nhóm người đêm đêm qui tụ nhau trong các tư gia để cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, hình thành nên "những nguyện đường về đêm." Dưới sự hướng dẫn của ngài và những thiện nguyện viên, việc giáo dục đức tin, luân lý và sự tương thân tương ái vừa cải hóa tâm hồn con người, vừa giúp cải tạo môi trường xã hội, vừa đẩy lùi những tệ nạn xã hội.
>
>
>
> Hành trình của vị mục tử đi tìm những con chiên lạc còn khám phá ra những vùng đất như thể "Đức Kitô chưa bao giờ đặt chân đến" trong vương quốc Napôli, khiến tâm hồn ngài rúng động trước những đám đông nghèo khó bị bỏ rơi, gồm những nông dân và những mục đồng còn chưa biết sống người cho ra người, nói gì đến việc sống đời Kitô hữu. Năm 1732, sau bao khó khăn phải vượt qua, nhưng với xác tín mãnh liệt và được Thánh Thần soi sáng thúc đẩy, cha Anphong lập Dòng Chúa Cứu Chuộc Rất Thánh.
>
>
>
> Các tu sĩ, dưới sự hướng dẫn của Cha Anphongsô, trở thành những vị thừa sai của Chúa Cứu Thế với con tim tràn ngập niềm vui, mạnh mẽ trong đức tin, phấn khởi trong đức cậy, sốt sắng bởi lòng mến, bừng cháy lòng nhiệt thành, trong sự khiêm hạ của tâm hồn và bền chí cầu nguyện; bỏ mình và luôn sẵn sàng đảm nhận những công việc khó khăn, tham dự vào mầu nhiệm của Đức Kitô và công bố mầu nhiệm ấy bằng đời sống và lối nói giản dị theo tinh thần Phúc Âm, hầu đem lại ơn Cứu Chuộc chứa chan cho con người (x.HP 20). Nhân đức và lòng nhiệt thành tông đồ của cha Anphong lan tỏa khắp nơi.
>
>
>
> Năm 1762 Cha được bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Thánh Agata dei Goti. Đến năm 1775, vì già cả, bệnh tật, ngài đã từ nhiệm. Năm 1787, ngài được Chúa gọi về trong sự tiếc thương của mọi người: "Chúng ta đã mất một vị thánh." Năm 1839, Anphongsô được tuyên phong hiển thánh và năm 1871, Tòa Thánh tuyên dương ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh vì đã đóng góp hữu hiệu cho nền Thần học Luân lý, và 1950 Đức Thánh Cha Piô XII công bố ngài là "Quan Thầy của tất cả các cha giải tội và của các nhà Thần học Luân lý."
>
>
>
> Thời thánh Anphong, phái Jansenisme chủ trương khắt khe đến nỗi, thay vì rao giảng sự xót thương của Chúa để kêu gọi lòng tín thác, họ lại trình bày khuôn mặt của một vị Thiên Chúa công minh lạnh lùng và hay trừng phạt, khiến người ta không dám xưng tội, vì sợ sẽ phạm tội lại. Cha Anphong, với lương tâm người mục tử, đã viết một tác phẩm mang tựa đề "Thần học Luân lý", mang tính quân bình và có sức thuyết phục giữa các đòi hỏi của lề luật Thiên Chúa, được ghi khắc trong con tim con người, được Đức Kitô mạc khải cách trọn vẹn và được Giáo Hội giải thích một cách có thẩm quyền, với các dạng thức của lương tâm và sự tự do của con người; chính trong việc gắn bó với chân lý và sự thiện mà người ta có thể đạt được sự trưởng thành và kiện toàn chính mình.
>
>
>
> Công trình của thánh Anphong để lại cho Giáo hội một nền tảng vững vàng về Thần học luân lý vẫn còn hữu ích cho đến nay. Ngài thường khuyên các mục tử hãy trung thành với giáo huấn luân lý Công Giáo với thái độ bác ái, cảm thông, dịu dàng để các hối nhân cảm thấy cha giải tội là người đồng hành, nâng đỡ và khích lệ trong đời sống đức tin.
>
>
>
> Thánh Anphong luôn nhắc rằng, các linh mục phải phản ánh dung mạo của lòng Chúa xót thương, là Đấng luôn sẵn sàng tha thứ và kiên trì kêu gọi kẻ tội lỗi hoán cải và canh tân đời sống. Bên cạnh các tác phẩm thần học, Thánh Anphong còn viết rất nhiều sách đạo đức thiêng liêng khác, với văn phong bình dân giản dị, nhằm đào tạo đức tin và lòng sùng mộ cho dân chúng. Đáng kể là các tác phẩm đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau như, "Le Massime eterne" (Các châm ngôn vĩnh cửu), "Le glorie di Maria" (Vinh Quang Đức Maria), "La practica d'amore Gesù Cristo" (Thực hành lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô). Đây là tác phẩm sau cùng vừa tổng hợp những suy tư, vừa nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc cầu nguyện, vì nhờ đó, người ta mở lòng cho Ân Sủng, để chu toàn ý muốn của Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày và đạt đến sự thánh hóa.
>
>
>
> Thánh Anphong còn là tông đồ về cầu nguyện, Ngài viết: "Thiên Chúa không từ chối ơn thánh từ những lời cầu nguyện; với ơn thánh đó người ta được trợ giúp để vượt thắng mọi dục vọng và những cơn cám dỗ. Tôi nói và tôi sẽ còn lặp lại mãi, bao lâu tôi còn sống, rằng tất cả ơn cứu độ của chúng ta là ở nơi việc cầu nguyện." Từ đó có phương châm: "Ai cầu nguyện, sẽ được cứu rỗi."
>
>
>
> Trong số các hình thức cầu nguyện, nổi bật là viếng Thánh Thể. Ngài viết: "Chắc chắn trong tất cả các việc đạo đức thì đứng đầu, sau các Bí Tích, là việc thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, là điều Chúa ưa thích và là điều sinh ích lợi cho chúng ta nhất... Ôi, dịu ngọt biết bao khi hiện diện trước bàn thờ với đức tin... và dâng lên Chúa Giêsu Thánh Thể các nhu cầu của mình, như một người bạn làm với một người bạn với tất cả sự tín cẩn" Mầu nhiệm Nhập Thể và Thương Khó của Đức Giêsu cuốn hút Thánh Anphong trong việc suy niệm và giảng thuyết, vì chính ở điểm này, Đấng Cứu Thế trở nên quà tặng cho nhân loại, và "Ơn Cứu Chuộc nơi Người chứa chan." Đó chính là Linh đạo của Thánh Anphong, tập trung vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Người.
>
>
>
> Từ Tình yêu Chúa và công ơn Cứu Chuộc của Người, với lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Aphongsô đã giải thích vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu độ, với tất cả mọi danh hiệu và tước vị ngày nay người ta có thể thấy trong Kinh cầu Đức Bà. Ngài còn quả quyết, những ai có lòng sùng kính đối với Mẹ Maria sẽ không bị hư mất, vì Mẹ là chốn nương ẩn cuối cùng, là niềm ủi an trong phút lâm chung.
>
>
>
> Đối với Giáo hội nói chung và với Dòng Chúa Cứu Thế nói riêng, Thánh Anphong luôn là một tấm gương sáng về lòng nhiệt thành tông đồ, loan báo Tin Mừng cho mọi người, nhất là những người nghèo khó bị bỏ rơi, chuyên chăm cầu nguyện, sốt sáng cử hành các Bí Tích và một lòng sùng mộ Đức Maria. Không một ai ở ngoài Ơn Cứu Chuộc của Chúa, vì Chúa luôn từ ái một niềm, vì Ơn Cứu Chuôc nơi Người chứa chan (Tv 129,7).
>
>
>
> Lm. Giuse Ngô Văn Kha, DCCT
>
>
>
> __._,_.___

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH ANPHONGSO MARIA LIGUORI PDF Print E-mail

Hong Nguyen

Suy niệm Lời Chúa, ngày 1.8.2020
Thánh Alphongsô Maria Liguori, giám mục, tiến sĩ

LỜI CHÚA: Rm 8, 1-4; Mt 5, 13-19

BẠN VÀ TÔI CẦN NÊN MUỐI MEN CHO ĐỜI NHƯ CHA THÁNH ANPHONGSÔ

Hôm nay mồng 1 tháng 8 Dòng Chúa Cứu Thế trên Toàn Cầu Mừng Lễ Thánh Tổ Anphongsô Maria Liguori: Thánh Anphongsô sinh tại Marianella ngày 27-12-1696. Vào đại học hoàng gia năm 12 tuổi, nhận thanh kiếm hiệp sĩ lúc lên 14 tuổi, đậu hai bằng tiến sĩ luật đạo và đời năm 16 tuổi, làm luật sư và chánh án khi 20 tuổi,

"Hãy bỏ thế gian và hiến toàn thân cho Ta". Ngày 19 tháng 8 năm 1723 người rút thanh gươm nhà quý tộc thường đeo, đặt trước bàn thờ Đức Mẹ; rời bỏ pháp đình để đi theo tiếng Chúa "Hỡi thế gian, ta đã biết ngươi rồi!" Ngày 21-12-1726, Anphongsô được thụ phong linh mục. Ngài thường nói: "Chính Đức Mẹ đã cứu tôi khỏi thế gian và đưa tôi vào hàng giáo sĩ".

Tháng 11 năm 1732, Anphongsô ngồi trên lưng một con lừa, từ biệt thủ đô Naples để lên đường đi lập Dòng và ngày 9 thánh 11 năm 1732, trong chính ngày lễ Chúa Cứu Thế, tại Scala, Dòng Chúa Cứu Thế được chính thức thành lập với năm Tu Sĩ đầu tiên....

Ngày 1 tháng 8 năm 1787, trong khi chuông nhà thờ Pagfani báo hiệu Kinh Truyền Tin thì Anphongsô qua đời, trong tay cầm mẫu ảnh Đức Mẹ, nguồn hy vọng. Theo truyền thống của Dòng, ngày một anh em qua đời là ngày nghỉ, ngày vui, ngày sinh nhật của Anphongsô trên trời. Thánh Anphongsô hưởng thọ 91 tuổi, và ngài được tôn phong hiển thánh năm 1839 và Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1871.

Sống trong một thế giới, trong một xã hội mà con người đua đòi, chạy theo con đường ăn chơi, xa xỉ, phung phí tiền của. Sống trong một giai đoạn mà ngay cả giới nhà tu cũng tranh nhau qui tụ về chốn đô thị để hưởng thụ, thỏa hiệp và sống dễ dãi. Đời sống đạo đức ở nhiều nơi bị sa sút trầm trọng, bè rối hoành hành giữa lòng Hội Thánh. Con người tưởng chừng không đâu tìm ra lối thoát giữa một xã hội xem ra bị chìm lỉm, ngụp lặn trong tội lỗi. Anphongsô đệ Liguoriô xuất hiện.

Chàng Anphongsô có mặt như vị anh hùng của thế kỷ. Với bầu nhiệt huyết sẵn có, với lòng đạo đức, thánh thiện, với thiện chí và lòng tin sắt đá, Anphongsô đã như hừng hực lửa Thánh Thần, bằng những tác phẩm giá trị và qua những lời giảng đầy lửa, đanh thép, Anphongsô đang vực dậy cả một Giáo Hội đang lâm nguy. Con người của Anphongsô sở dĩ có được tinh thần ấy và cảm nghiệm ấy bởi Anphongsô đã say mến Thiên Chúa. Ngài đã say mê Thiên Chúa với tất cả con người, với tất cả con tim rực cháy của mình. Mà chúng ta không xem Ngài như một con người kỳ diệu sao được khi Ngài có đủ điều kiện, đủ tài đức để sống vinh thân phì gia trong đất nước Ý Đại Lợi lúc đó: nhà giầu, cha mẹ quí phái, có chức có quyền trong triều đình, Anphongsô lại học giỏi mau chóng thành đạt với tuổi rất trẻ, mới 16 tuổi đời, Anphongsô đã đậu cả hai bằng tiến sĩ đời và đạo. Với một tương lai rực sáng như thế, Anphongsô quả có đầy đủ tất cả để hưởng thụ một đời sống xa hoa, phú quí với nhà lầu, danh vọng, vợ đẹp, con khôn...

Thánh Anphongsô quả là ngọn lửa say mến Chúa Giêsu và từ ngọn lửa say mến ấy, Ngài đã đốt lên, đốt mãi không ngừng trong tâm hồn các sĩ tử của Ngài và cũng ngọn lửa ấy luôn được thắp lên trong mọi tâm hồn những người thành tâm tìm kiếm Chúa.

Thánh Anphongsô dù đã là Giám Mục, Ngài vẫn luôn sống khó nghèo và nơi Ngài luôn tỏa sáng ngọn lửa say mến Thiên Chúa. Thánh Anphongsô có lòng yêu mến Đức Mẹ, Ngài đã thực hành và truyền lệnh cho các sĩ tử của Ngài luôn phải sùng kính Đức Mẹ và rao truyền về Đức Mẹ. Ngài đã làm gương cho các sĩ tử và mọi người về việc lần chuỗi Mân Côi, Ngài nói:"Chuỗi Mân Côi là giây bền đỗ...".

Quan đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phải trở nên muối ướp và đèn soi. Bằng hai hình ảnh cụ thể này, Ngài phác hoạ một luật sống mà các môn đệ phải tuân theo khi Ngài gởi họ đi vào đời.

Muối là vật dụng thường thức dùng trong việc nấu nướng. Không có muối, đồ ăn thiếu hương vị và lạt lẽo. Nhưng người Do Thái còn dùng muối làm phân bón. Vì vậy mà Ngài bảo: Các con là muối đất. Trong Kinh Thánh, muối là hình ảnh được nhắc lại nhiều lần. Từ vụ vợ ông Lót nhìn lại đàng sau mà biến thành tượng muối, đến chút muối mà thánh Phaolô căn dặn nên đặt vào trong lời ăn tiếng nói cho có hương vị khi giao tiếp với anh em.

Các con là muối, nghĩa là chúng ta hãy sống đạo dức, thực thi những điều Ngài dạy, để thánh hoá bản thân, nêu gương sáng cho người khác, hâm nóng những cõi lòng đã nguội lạnh. Nếu chúng ta không sống Lời Chúa trọn vẹn, thì chúng ta như muối đã nhạt, không ích lợi gì, chỉ đáng đem đổ ra ngoài đường cho người ta dày đạp. Người Do Thái ngày xưa đổ rác cả ra đường phố cho khách qua lại dẫm lên.

"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian"(Mt 5,13). Đây là lời mời gọi tuyệt vời dành cho người Kitô, bởi lẽ chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga 1,5). Chỉ Chúa Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8, 12). Vậy ta muốn trở thành ánh sáng như Chúa Giêsu, ta phải ở gần Ngài: gần đèn thì ta được toả sáng.

Ánh sáng không thiên vị một ai, không thích người này và cũng không chê người kia. Ánh sáng của mặt trời lan tỏa khắp nơi, chiếu sáng mọi người và mọi nhà. Ánh sáng của người Kitô cũng vậy,"ánh sáng của anh em phải ở trên cao, vượt trên mọi danh vọng, tiền tài, lạc thú. Không phải để khoe khoang, tự kiêu, nhưng là để tôn vinh Cha, Đấng ngự trên trời" (Mt 5, 16).

Ánh sáng của cây nến tuy nhỏ bé nhưng cũng đủ toả sáng cả một căn phòng, làm cho bóng tối phải lùi bước. Một khi ánh sáng của ngọn nến bừng lên, đó cũng là lúc ngọn nến bị đốt cháy, bị tan biến đi. Người Kitô cũng vậy, phải mất đi cho chính mình, phải tan biến đi để "Ánh Sáng Chúa Kitô" được loan toả khắp nơi, khắp mọi nhà, khắp mọi tâm hồn.

*NHỜ ơn Chúa, qua lời chuyển cầu của Thánh Anphongsô để mỗi người chúng con QUYẾT TÂM trở nên muối cho đời và ánh sáng cho trần gian như lòng Chúa mong muốn.

Lm. Huệ Minh
Kính chuyển:
Hồng

-----------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH NỮ MAC-TA-NGHE LỜI CHÚA PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

Chiêm Niệm Và Hoạt Ðộng.

29/07 – Thứ tư tuần 17 thường niên – Thánh nữ Mácta. Lễ nhớ.

"Mát-ta đã đón Chúa vào nhà mình, Maria đã chọn phần tốt nhất".

* Mácta là chị của cô Maria và ông Lagiarô ở Bêtania. Trong sách Tin Mừng, thánh nữ xuất hiện ba lần: lần thứ nhất trong bữa ăn ở Bêtania, khi cùng với cô em là Maria tiếp đãi Đức Giêsu; lần thứ hai khi ông Lagiarô được Chúa cho phục sinh, lúc đó thánh nữ đã tuyên xưng lòng tin vào Chúa Giêsu; và lần cuối trong bữa tiệc đãi Chúa Giêsu sáu ngày trước lễ Vượt Qua.

Trong cả ba câu chuyện, ta luôn thấy thánh nữ đóng vai trò chủ nhà.

Lời Chúa: Lc 10, 38-42: LẮNG NGHE LỜI CHÚA LÀ QUAN TRONG NHẤT

Khi ấy, Chúa Giêsu vào một làng kia, và có một phụ nữ tên là Mát-ta rước Người vào nhà mình. Bà có người em gái tên là Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người.

Mát-ta bận rộn với việc thết đãi khách. Bà đứng lại thưa Người rằng: "Lạy Thầy, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với". Nhưng Chúa đáp: "Mát-ta, Mát-ta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi: Maria đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị ai lấy mất".

SUY NIỆM 1: Đón Người vào nhà

Trong bài Tin Mừng hôm nay, khuôn mặt Maria khá nổi bật.

Chúng ta dễ thấy là Thầy Giêsu nghiêng về cô em hơn.

Mácta đón Thầy vào nhà trong tư cách là chị.

Còn Maria sau đó là người tiếp Đức Giêsu.

Maria thanh thản, lặng lẽ ngồi bên chân Thầy để lắng nghe.

Còn chị Mácta thì ngược lại.

Hẳn là chị phải xuống bếp ngay để lo bữa ăn.

Cuộc viếng thăm của Thầy Giêsu và các môn đệ là khá bất ngờ.

Làm sao để đãi một số vị khách như thế?

Đó là mối lo chính đáng của chị Mácta.

Mácta là người đảm đang, thạo việc, nhanh nhẹn.

Nhưng trong tình thế này, chị thấy rất cần sự giúp đỡ của cô em.

Rõ ràng là Mácta bị cuống lên vì thấy mình có nhiều việc phải làm gấp.

Chị không muốn khách phải chờ đợi lâu,

và chị cũng muốn đãi khách một bữa ăn tương đối thịnh soạn.

"Xin Thầy bảo em giúp con một tay!"

Đó là ước mơ của Mácta, rất đỗi bình thường.

Tiếc thay, Thầy Giêsu lại đang kể chuyện cho Maria,

và cô này đang lắng nghe một cách thích thú (c. 39).

Nhờ Thầy kêu em xuống bếp là phá vỡ câu chuyện còn dang dở của Thầy.

Mácta bị mối lo về bữa ăn chi phối khiến chị quên cả lịch sự cần có.

Chị quên rằng Thầy Giêsu không chỉ cần bữa ăn, mà còn cần tình bạn.

Và tiếp khách cũng là một cách phục vụ không kém giá trị.

Thầy Giêsu nhìn thấy sự căng thẳng, lúng túng của Mácta.

và nhận ra lòng tốt của chị, khi chị muốn dọn một bữa ăn xứng đáng.

Thầy gọi tên chị hai lần cách trìu mến: Mácta, Mácta.

Ngài nhẹ nhàng trách chị vì đã lo lắng băn khoăn về nhiều chuyện quá.

"Chỉ cần một chuyện thôi. Maria đã chọn phần tốt hơn" (c. 42).

Thầy Giêsu không bảo rằng điều Mácta làm là điều không tốt.

Chắc chắn Thầy và trò đều cần bữa ăn ngon sau những ngày rong ruổi.

Nhưng ngồi nghe Thầy vẫn là điều tốt hơn, cần hơn.

Vì thế Thầy sẽ không kêu cô em xuống bếp để phụ giúp cô chị.

Điều mà Maria đã chọn, chẳng ai có thể lấy đi.

Chị Mácta là thánh nữ được tôn kính trong Giáo Hội.

Chúng ta phải bắt chước chị qua công việc tận tụy và đầy trách nhiệm.

Nhưng chúng ta phải làm một cách an bình, khiêm tốn, vui tươi,

không coi việc mình làm là quan trọng hơn việc người khác.

Cuộc sống hôm nay dễ làm ta trở nên Mácta, bị đè nặng bởi công việc.

Nhưng phải cố dành giờ để làm Maria mỗi ngày.

Phải thu xếp để khỏi phải ở dưới bếp quá lâu, để có người thay mình.

Đời sống của người Kitô hữu là kết hợp của Mácta và Maria.

Vừa đón, vừa tiếp; vừa làm việc của Chúa, vừa gặp gỡ chính Chúa;

nhưng dù hoạt động hay cầu nguyện, lúc nào cũng hướng về Chúa.

Cầu nguyện VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN:

Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, NHỜ ƠN CHÚA

con QUYẾT TÂM tìm được những phút giây thinh lặng.

Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc,

Con LUÔN quý chuộng những lúc

được an nghỉ trước nhan Chúa.

Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo,

Con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa

để nghe lời Người.

Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng,

Con QUYẾT TÂM thoát được lên cao

nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.

Lạy Chúa,

ước gì tinh thần cầu nguyện

thấm nhuần vào cả đời con.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

SUY NIỆM 2: Chiêm Niệm Và Hoạt Ðộng: LẮNG NGHE LỜI CHÚA - KHÔNG GHEN TỴ

"Mácta, con lo lắng chi nhiều việc chỉ có một điều cần mà thôi. -Maria đã chọn phần tốt nhất rồi". ĐÓ LÀ CÔ LẮNG NGHE LỜI CHÚA! Câu trả lời của Chúa Giêsu cho Mácta đáng cho chúng ta suy nghĩ thêm. Các nhà chú giải đề ra hai điểm:

Trước hết Chúa Giêsu không có ý định giảm giá trị của việc đón rước Chúa mà Mácta đang làm, nhưng Ngài trực tỉnh Mácta về nguy hiểm mà chị đang lao vào đó là thái độ ganh tị. Kế đến Chúa Giêsu làm nổi bật một điểm tốt mà Maria đã rút ra từ hoàn cảnh, đó là đến ngồi bên chân Chúa, lắng nghe Người nói.

Việc lắng nghe có ưu tiên hơn "vì con người không chỉ sống nguyên bởi bánh mà thôi nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. Vì thế hãy tìm Nước Thiên Chúa trước, rồi mọi sự khác sẽ được ban cho dư đầy" (Mt 4,4). Tuy nhiên, Chúa Giêsu không đề ra một sự chọn lựa giữa một trong hai điều hoặc thái độ làm việc của Mácta hoặc thái độ chiêm niệm của Maria để rồi chỉ chấp nhận có một thái độ duy nhất của Maria thôi.

Không có sự đối nghịch giữa hoạt động và chiêm niệm trong đời sống của người Kitô, bởi vì cả hai đều phát xuất từ một nguồn mạch là Lời Chúa và cùng hướng đến một việc, một mục tiêu là phục vụ Nước Chúa. Việc lắng nghe Lời Chúa được hướng đến hành động và hành động cần được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa. Ðây là hai khía cạnh của mối phúc thật "lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa". Ðó là khi trả lời cho người phụ nữ trong dân chúng cất tiếng chúc tụng Mẹ Chúa cũng như khi trả lời cho những kẻ báo tin cho Chúa biết là có Mẹ và anh em Chúa đang chờ, nhưng Chúa trả lời "những kẻ nghe Lời Chúa mà đem ra thực hành, kẻ đó mới là Mẹ Ta và anh em Ta" (Mt 12, 50).

Hai chị em Mácta và Maria nhắc nhở cho cộng đoàn Kitô cũng như cho mọi người Kitô qua mọi thời đại về hai thái độ luôn bổ túc cho nhau. Ðể tiếp nhận Lời Chúa hiện diện nơi chính Chúa Giêsu Kitô không phải chỉ cầu nguyện chiêm niệm mà thôi, cũng không phải chỉ có hoạt động vì hoạt động. Nhưng chiêm niệm và hoạt động phải là hai chiều kích luôn được kết hợp với nhau của cùng một chức vụ, đây là hai yếu tố không thể nào thiếu vắng đi được trong việc theo Chúa.

Trong những hoàn cảnh cụ thể và tùy theo hoàn cảnh ấy, người đồ đệ Chúa có thể hòa hợp việc làm một cách cụ thể giữa cầu nguyện và hoạt động theo một chương trình riêng. Nhưng thật là sai lầm nếu chúng ta muốn canh tân Giáo Hội mà không cầu nguyện, nghĩa là không lắng nghe Lời Chúa, không đối thoại với Ngài, ngõ hầu để hoạt động của chúng ta có thể trổ sinh kết quả. Người đồ đệ của Chúa cần dành thời giờ im lặng để lắng nghe Lời Chúa và đối thoại với Ngài. Trong ý nghĩa này chiêm niệm là phần tốt nhất mà Maria đã chọn, nhưng không phải tách rời ra khỏi việc làm. Ðức tin phải có sức tác động qua đức bái ái. Ðàng khác, cầu nguyện không làm cho người đồ đệ xa lạ với cuộc sống và những vấn đề của con người, nhưng ngược lại cầu nguyện làm cho người đồ đệ có thêm sức mạnh hoạt động biến đổi xã hội, ngõ hầu Thiên Chúa được tôn vinh và con người được hạnh phúc.

Lạy Chúa,

Xin giúp chúng con hiểu và thành công hòa hợp được hai yếu tố không thể tách rời của đời sống Kitô đích thực là làm việc và cầu nguyện. Ước chi việc chúng con làm đều phát xuất từ lời cầu nguyện là việc lắng nghe Lời Chúa và được nâng đỡ bởi sức mạnh của Chúa, sức mạnh trao ban trong những giây phúc chúng con trở về lắng nghe Chúa nói.

(Trích trong 'Mỗi Ngày Một Tin Vui')

----------------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ -THÁNH GIACOBE- THỨ BÀY CN16TN-A PDF Print E-mail

Thứ Bảy Tuần XVI Mùa Thường Niên Năm chẵn
THÁNH GIACÔBÊ, TÔNG ĐỒ

Mt 20, 20-28

ĐỪNG ĐAM MÊ QUYỀN LỰC

Thánh Giacôbê, quê quán tại Bethsaida, là con ông Giêbêđê và là anh em với thánh Gioan. Ngài là một trong ba Tông đồ, ngoài những biến cố quan trọng trong cuộc đời công khai của Chúa, còn được phúc chứng kiến sự kiện biến hình trên núi Tabor và thảm cảnh trong vườn Cây Dầu. Lòng nhiệt thành của hai anh em đã khiến Chúa đặt cho cái tên là 'Con Sấm Sét'.

Thánh Giacôbê đã tiến hành công cuộc tông đồ tại Giuđêa và Samaria. Theo truyền tụng, thánh nhân đã đến rao giảng Phúc Âm tại Tây Ban Nha. Khi trở lại Palestine vào năm 44, ngài đã trở thành vị Tông Đồ đầu tiên được phúc tử vì đạo dưới thời vua Hêrôđê Agrippa. Thi hài thánh nhân được cải về Santiago de Compostela bên Tây Ban Nha, và nơi đây đã trở thành một trong những nơi hành hương nổi tiếng thời Trung Cổ, và là một đền thánh đức tin cho toàn thể Châu Âu.

Khi đang đi dọc theo bờ biển Galilê, Chúa Giêsu nhìn thấy Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, đang vá lưới, Người đã gọi họ, và đặt cho tên là Boannerges, nghĩa là "con của sấm sét".

Mọi sự bắt đầu khi một số ngư phủ trên biển hồ Tibêria được Chúa Giêsu thành Nazarét mời gọi theo Người. Họ đã đáp lời mời gọi của Chúa Giêsu, đi theo, và sống với Người gần ba năm trời. Họ đã chia sẻ đời sống thường nhật của Chúa Giêsu, làm chứng nhân cho những lời cầu nguyện, cũng như lòng nhân lành và quyền năng của Người dành cho các tội nhân và những người đau khổ. Họ chăm chú lắng nghe lời Chúa, những lời họ chưa từng bao giờ được nghe.

Suốt ba năm chung sống với Chúa, các Tông Đồ cảm nghiệm một thực tại rồi ra sẽ chiếm đoạt họ mãi mãi, đó là cuộc sống với Chúa Giêsu. Đó là một kinh nghiệm phá vỡ nếp sống trước kia của họ; họ phải từ bỏ mọi sự – gia đình, nghề nghiệp, và tài sản của họ – để đi theo Người. Tóm lại, họ đã được dẫn vào một con đường sống hoàn toàn mới mẻ.

Một ngày nọ, Chúa Giêsu mời gọi Giacôbê đi theo Người. Giacôbê là anh của Gioan, và là con của bà Salômê, một phụ nữ đã dùng tài sản để giúp Chúa Giêsu và sau cùng cũng có mặt trên núi Canvê. Giacôbê đã biết Chúa Giêsu trước khi được Chúa gọi. Cùng với Phêrô và em trai mình, Giacôbê được Chúa Giêsu yêu thương cách riêng. Ngài là một trong ba vị được chứng kiến biến cố Biến Hình trên núi Tabor. Ngài cũng có mặt khi Chúa cho con gái ông Giairô sống lại, và là một trong ba Tông Đồ cùng đi với Chúa Giêsu vào vườn Cây Dầu lúc khởi đầu cuộc Thương khó.

Theo các trình thuật Phúc Âm, như các Tông đồ, Giacôbê cũng có những khuyết điểm rõ ràng và không thể chối cãi. Tuy nhiên, bên cạnh những khiếm khuyết ấy, thánh nhân cũng có một tâm hồn và một con tim vĩ đại. Chúa Giêsu lúc nào cũng nhẫn nại với Ngài cũng như với các Tông đồ khác. Thầy Chí Thánh cho các ngài thời gian để hấp thụ những bài học mà Người đã dùng sự khôn ngoan và tình thương để truyền dạy cho họ.

Thánh Gioan Kim khẩu viết: "Chúng ta hãy xét Chúa đặt câu hỏi tương tự như một lời mời gọi và một lời kích lệ như thế nào. Chúa không nói: 'Ngươi có thể chịu thất bại được không? Ngươi có dám chịu đổ máu không?' nhưng Chúa lại hỏi: 'Ngươi có thể uống...' Để khích lệ họ, Chúa còn thêm: '... chén Ta sẽ uống hay không?' Tưởng nghĩ đến việc uống chính chén của Chúa đã đưa các Tông đồ đến sự đáp ứng quảng đại hơn. Chúa Giêsu gọi cuộc Khổ nạn của Người là 'phép rửa' để nhấn mạnh những đau khổ của Người sẽ là nguyên nhân cho cuộc thanh tẩy toàn thế giới."

Xu hướng tự nhiên khiến con người thích được người khác phục vụ. Những ai càng được nhiều người phục vụ, cung phụng thì càng có thế giá, cao trọng và được kính nể. Còn những ai nai lưng ra phục vụ người khác thì chẳng có giá trị bao nhiêu; Họ bị xem là những kẻ thấp hèn.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đem lại cho chúng ta cài nhìn rất mới mẻ. Cái nhìn đó cho thấy người cao trọng, người đáng ca ngợi là người biết phục vụ người khác. Có thể nói đây là một cái nhìn làm thay đổi toàn bộ tương quan của con người với nhau. Tương quan của con người giờ đây được xây dựng bằng sự phục vụ lẫn nhau chứ không phải bằng sự áp đặt. Giá trị của con người giờ đây không căn cứ trên quyền lực hay chức quyền nữa nhưng căn cứ trên sự phục vụ. Ai càng phục vụ nhiều thì càng trở nên người cao trọng.

Cám dỗ lớn nhất của con người là đam mê quyền lực, ai cũng mong muốn được ăn trên ngồi trốc, được mọi người tung hô kính trọng... để rồi từ đó làm mọi cách (cho dù là đê tiện thấp hèn) để đạt được mục đích chức quyền...

Các môn đệ Chúa Giêsu trước Phục Sinh cũng thế, các ngài mang trong mình tư tưởng quyền lực, các ngài từng hỏi khéoThầy Giêsu xem ai được làm quan to nhất trong Nước Người. Còn "hai vị kia" thì lo lót chạy trước hai cái ghế nhị tam ở bên tả và bên hữu Thầy.

Khi suy niệm về cuộc đời thánh Giacôbê tông đồ, chúng ta được lợi rất nhiều khi nhìn thấy những khuyết điểm của Thánh nhân cũng như của các Tông đồ khác. Các Ngài không can trường, không khôn ngoan, mà cũng chẳng đơn sơ. Chúng ta thấy các ngài đôi khi rất ham hố, hay tranh cãi, và thiếu đức tin. Tuy nhiên, thánh Giacôbê là vị Tông đồ đầu tiên được tử đạo.

Như thế, hiển nhiên là sự phù trợ của Thiên Chúa cũng có thể thực hiện những phép lạ nơi chúng ta. Ngày nay trên thiên quốc, thánh Giacôbê ắt phải tri ân Thiên Chúa rất nhiều vì đã hướng dẫn ngài trên con đường khác với con đường ngài đã mơ tưởng trước đó. Thiên Chúa là Đấng tốt lành, vô cùng khôn ngoan, và đầy yêu thương vượt quá trí tưởng của chúng ta. Trong nhiều trường hợp, Người không ban cho chúng ta những điều chúng ta xin, nhưng đó lại là điều thích hợp và lợi ích nhất cho chúng ta.

Lm. Huệ Minh
Kính chuyển:
Hồng

----------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - LE ANH- CN17TN-A PDF Print E-mail

Anh Le chuyển

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu: MAT 13, 44-52: TÌM KIẾM NƯỚC TRỜI

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước trời giống như kho tàng chôn giấu trong ruộng, người kia tìm được, vội chôn vùi xuống, vui mừng trở về bán tất cả những gì anh có mà mua thửa ruộng ấy. Nước trời cũng giống như người buôn nọ đi tìm ngọc quý. Tìm được một viên ngọc quý, anh về bán mọi của cải mà mua viên ngọc ấy.

{"Nước trời lại giống như lưới thả dưới biển, bắt được mọi thứ cá. Lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi đó mà lựa chọn: cá tốt thì bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì ném ra ngoài. Trong ngày tận thế cũng vậy: các thiên thần sẽ đến mà tách biệt kẻ dữ ra khỏi người lành, rồi ném những kẻ dữ vào lò lửa, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng. Các ngươi có hiểu những điều đó không?" Họ thưa rằng: "Có".

Người liền bảo họ: "Bởi thế, những thầy thông giáo am tường về Nước trời cũng giống như chủ nhà kia, hay lợi dụng những cái mới, cũ trong kho mình
"Tiền nhiều để làm gì?"

Trong vụ tranh chấp tài sản và cuộc ly hôn nghìn tỷ của vợ chồng "vua cà phê" Trung Nguyên đã thu hút sự chú ý của công chúng rất nhiều. Một trong những câu nói được quan tâm nhất của ông Đặng Lê Nguyên Vũ tại phiên tòa là: "Tiền nhiều để làm gì, để hôm nay phải ngồi thế này" đã trở thành chủ đề "gây bão" khiến nhiều người đau đáu, suy ngẫm tìm câu trả lời. Và hôm nay chúng ta có thể tổng hợp lại rất nhiều quan điểm, cách nhìn nhận riêng về câu hỏi "siêu hot" này!

- Khi tôi còn trẻ tôi thường nghĩ tiền là một thứ quan trọng nhất trong cuộc sống. Và giờ khi về già, tôi biết điều đó vân luôn đúng.

- Có tiền hô mưa gọi gió, không tiền mưa gió dội vào nhà

- Sống trên đời phải có tiền mới làm phiền được người khác

- Tiền không là gì cả...nhưng không có nó ta chẳng là gì cả!!!

- Đối với tôi, việc anh giàu hay nghèo không quan trọng, miễn là... anh có tiền

- Tiền đi có nhớ ví không
Ví thì há miệng ngóng trông tiền về
Tiền đi chẳng giữ lời thề
Đi rồi đi mãi có về nữa đâu.

Tiền là cần thiết nhưng có khi vì tiền mà mất tất cả. Mất gia đình. Mất nhân phẩm và mất cả hạnh phúc. Đồng tiền luôn là con dao 2 lưỡi. Nó có thể mang lại bình yên nhưng cũng có thể vì nó mà gặp biết bao thị phi.

Vì thế, cuộc sống không ngừng đòi hỏi chúng ta chọn lựa. Chọn lựa để có cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn. Có chọn lựa là có khước từ, có loại bỏ. Và chọn lựa nào cũng đòi hỏi hy sinh. Kẻ bắt cá hai tay vẫn luôn là người thua thiệt nhiều nhất. Vì không ai có thể 2 tay bắt 2 con cá, mà phải chấp nhận chọn một con để rồi dùng cả nghị lực và đôi tay mà nắm bắt con cá trong tầm tay.

Hôm nay, Chúa đòi hỏi các môn đệ phải dứt khoát chọn Chúa hay tiền bạc. Nếu chọn Chúa thì phải can đảm : "Hãy đi bán tất cả gia tài, rồi đến theo Ta". Hoặc là ở lại với của cải vật chất, tiện nghi sung túc, hoặc là theo Đức Kitô với hai bàn tay trắng, nghèo nàn thiếu thốn. Quả là một đòi hỏi gắt gao!

Từ chọn lựa tiền hay chọn Chúa sẽ dẫn tới một đòi hỏi quyết liệt cho đời sống đức tin của chúng ta. Chúa đòi hỏi chúng ta phải dứt khoát: "Không ai có thể làm tôi hai chủ" và trong sách Khải Huyền, Chúa cũng nói với chúng ta rằng: "Thà ngươi thật nóng, thà ngươi thật lạnh, nếu người không nóng không lạnh, nhưng cứ dở dở ương ương, ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta."

Của cải là thứ không thể thiếu khi còn ở trần gian nhưng ham mê nó lại là một tai hại: Tai hại vì nó dễ làm cho con người vô cảm và ích kỷ, không biết đến lòng nhân ái, như ngươi giàu có trong Phúc Âm đối xử tệ với Lazarô nghèo khó. Tai hại vì nó dẫn đưa ta đến chỗ làm nô lệ cho nó, quên sĩ diện và có thể phạm tội ác, như Giuda bán Thầy vì mê 30 đồng bạc. Tai hại vì nó dẫn đưa ta đến chỗ ham hưởng khoái lạc vật chất và không kịp ăn năn như người phú hộ trong dụ ngôn Lagiaro.

Của cải là phương tiện Chúa ban để cải thiện đời sống cho tốt và hạnh phúc hơn, nên tự nó là tốt. Đó là hồng ân của Chúa. Người có tiền cần phải biết tạ ơn vì Chúa đã ban cho chúng ta lương thực hàng ngày cùng những phương tiện chính đáng cho cuộc sống hạnh phúc hơn. Của cải chỉ trở nên xấu khi ta quá mê nó, biến nó thành ông chủ và coi nó hơn Thiên Chúa. Biết kiếm tiền bằng làm ăn chân chính và biết dùng của cải như là phương tiện thì đồng tiền là đầy tớ tốt, nhưng nếu kiếm tiền bằng sự gian dối và coi nó như là cứu cánh để bán rẻ nhân phẩm như các cô hoa hậu bán diêm 700 triệu một đêm thì có tiền nhưng nỗi nhục cũng rất lớn.

Ước gì lời cam kết ngày Rửa Tội là chết cho tội và sống cho Chúa luôn mãi là chọn lựa đến cùng của người ky-tô hữu chúng ta. Xin Chúa giúp sức để chúng ta vượt qua sự yếu hèn và bản tính ham mê danh lợi thú để sống trung thành với Chúa. Xin Chúa ban thêm sức mạnh để chúng ta được theo Chúa trọn vẹn suốt đời con. Amen!

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

-----------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 69