mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2323
mod_vvisit_counterHôm Qua13774
mod_vvisit_counterTuần Này53251
mod_vvisit_counterTuần Trước93021
mod_vvisit_counterTháng Này236768
mod_vvisit_counterTháng Trước631548
mod_vvisit_counterTất cả26795841

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - CHA VUONG PDF Print E-mail

phung phung

Thánh Pancratiô (c. 304), tử đạo trẻ tuổi

Chúc 1 ngày thật mạnh mẽ trong đức Tin, bền vững trong đức Cậy, dồi dào trong đức Mến nhé. Hãy cầu nguyện cho nhau. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Pancratiô (c. 304), tử đạo trẻ tuổi. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương,

Thứ 5: 12/05/2022

Thánh Pancratiô là vị tử đạo thời tiên khởi mà chúng ta biết rất ít về ngài. Truyền thuyết nói rằng ngài sinh vào cuối thế kỷ thứ ba và được người chú ở Rôma nuôi dưỡng sau khi cha mẹ mất sớm. Sau đó, hai chú cháu theo Kitô Giáo. Trong thời gian cấm đạo của Hoàng Ðế Diocletian, vì không chịu tế thần nên đã Pancratiô bị chặt đầu năm 304, lúc ấy ngài mới 14 tuổi.

Ngài chết vào lúc mới 14 tuổi trong năm 304. Pancras là một thiếu niên rất đẹp trai và khỏe mạnh, luôn thắng các thiếu niên khác trong những trận đô vật. Một hôm Pancratiô thắng một thiếu niên ngoại đạo, người này rất tự phụ tự đắc. Để trả thù, hắn đi tố với hoàng đế rằng Pancratiô là người Công giáo. Thời đó, đạo Công giáo bị luật Rôma cấm đoàn.

Hoàng đế là bạn thân của cha Pancratiô (người cha này đã qua đời), nên muốn tha cho Pancratiô. Ông cố gắng làm mọi cách cho Pancratiô thay đổi ý. Hoàng đế nói: Con chỉ cần dâng vài lời cầu nguyện với các thần của ta, và ta sẽ ban cho quyền bính trong đế quốc ta. Tuy Pancratiô sợ chết lắm, nhưng em không thể chối Chúa Giêsu. Pancratiô đáp lại: Nhờ phép rửa tội, tôi đã nên con Thiên Chúa. Tôi không bao giờ từ chối Chúa Giêsu, cho dù có được cả một đế quốc. Thế là Pancratiô đã bị xử tử hình.

Ngài đã tỏ ra can đảm biết bao khi bị điệu qua các đường phố như một một tên trọng tội. Ngài đã không hề kêu la khi quân lính đánh đòn, và không hề đổi ý khi nghe dân chúng chế nhạo. Trái lại, Pancratiô đã nghĩ đến Chúa Giêsu đang bị điệu qua các ngả đường Giêrusalem đến nơi Ngài bị đóng đinh. Trước khi Pancratiô bị một lưõi gươm chém đầu, Ngài đọc lời kinh này chứng tỏ sự bình an trong tâm hồn và sức mạnh Ngài có : "Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa về đau khổ con sắp lãnh nhận. Con chấp nhận đau khổ này với lòng hân hoan, vì biết rằng cái chết của con sẽ đưa con về Thiên Đàng để ở với Chúa mãi mãi. Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ những kẻ sắp giết con!"

Ngài được chôn trong một nghĩa địa mà sau này mang tên của ngài. Thánh Pancratiô được nước Anh đặc biệt sùng kính vì Thánh Augustine ở Canterbury đã dâng hiến một nhà thờ ở đây cho Thánh Pancratius, và thánh tích của ngài được tặng cho vua xứ Northumberland.

"Chúng sẽ bắt bớ và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và nhà tù, và chúng sẽ điệu anh em đến trước mặt vua quan vì danh Thầy. Ðó là cơ hội để anh em làm chứng. Hãy nhớ rằng, đừng lo nghĩ cách bào chữa, vì chính Thầy sẽ cho anh em tài ăn nói khôn ngoan khiến tất cả các địch thủ không tài nào chống đối hay bắt bẻ được" (Lc 21:12-15).

Lạy Thánh Pancratiô, xin cầu bầu cho con biết luôn luôn kiên trì trong đức tin.

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH DAMIEN PDF Print E-mail

phung phung

Thánh Đamien

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay Giáo Hội Hoa Kỳ mừng kính Thánh Đamien, vị anh hùng của người Hawaii. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương

Cha Đamien của hòn đảo Molokai, Hawaii, tên là Joseph De Veuster sinh tại Tremelo, Bỉ vào ngày 3 tháng 1 năm 1840. Khi anh của ngài vào tu dòng Thánh Tâm, cha của Ngài chuẩn bị để Ngài nối nghiệp buôn bán của gia đình. Tuy nhiên, Ngài quyết định hiến thân mình cho Chúa. Năm 1859, Ngài vào tu tại một chủng viện ở Louvain và lấy tên là Đamien.

Năm 1863, anh của Ngài được sai đi truyền đạo ở quần đảo Hawaii nhưng không may bị bệnh rất nặng. Đamien xin bề trên và được phép đi thay cho anh của mình. Ngài đến Honolulu vào ngày 19 tháng 3 năm 1864 và được phong chức linh mục vào ngày 21 tháng 5 năm 1864. Ngài được sai đến Big Island để bắt đầu công việc của một vị linh mục.

Vào thời gian đó, chính quyền Hawaii quyết định ngăn chặn sự lây lan của bịnh cùi bằng cách trục xuất những người bị nghi ngờ là mắc bệnh cùi tới Kalaupapa trên hòn đảo Molokai – một nơi rất xa xôi và hẻo lánh được bao quanh với núi và biển. Những người bị bỏ rơi này xin được có một bậc tu trì đến để giúp đỡ họ về những nhu cầu tinh thần. Đức Cha Louis Maigret nói cho các cha nghe về vấn đề này và có vài cha xung phong đi trong vòng vài tháng. Cha Đamien là người đầu tiên ra đi vào ngày 10 tháng 5 năm 1873. Với lời xin của Ngài và của những người cùi ở Kalaupapa, Ngài đã ở lại Molokai.

Ngài đã mang những tia hy vọng tới chốn địa ngục đầy thất vọng này. Ngài đã trở thành nguồn an ủi và sự khuyến khích cho đàn chiên của ngài bằng cách trở thành vị bác sĩ cho linh hồn và thể xác của họ không kể sắc tộc và màu da. Ngài đã trở thành tiếng nói của những người câm và xây dựng một cộng đoàn nơi những người cùi tìm ra những lý do mới để sống. Một nơi không luật pháp đã trở thành một nơi thống trị bởi luật yêu thương.

Sau khi Ngài bị nhiễm bệnh cùi vào năm 1885, cha Đamien đã có thể cảm thông hoàn toàn với những bệnh nhân cùi. Ngài thường nói, "Chúng ta, những người cùi". Cha Đamien trở thành một chứng nhân tình yêu của Chúa cho mọi người. Sức mạnh của Ngài đến từ Thánh Thể như chính Ngài đã viết: "Chính nơi chân bàn thờ là nơi chúng ta có thể tìm thấy sức mạnh chúng ta cần khi bị bỏ rơi . . ."

Chính nơi này Ngài đã tìm ra sức mạnh và sự khuyến khích để phục vụ anh chị em cùi. Vì những tia hy vọng và sự âm thầm phục vụ người là "vị truyền giáo hạnh phúc nhất trên thế gian", và là một đầy tớ trung thành của Chúa và nhân loại.

Cha Đamien đã qua đời ngày 15 tháng 4 năm 1889 sau 16 năm sống và phục vụ giữa những bệnh nhân cùi. Xác Ngài đã được chuyển về Bỉ năm 1936 nơi người được chốn cất trong nhà dòng Thánh Tâm tại Louvain. Ngài đã được biết đến khắp thế giới. Năm 1938, quá trình xin phong cho Ngài làm Á Thánh được giới thiệu tại Malines, Bỉ. Đức Giáo Hoàng Phaolô thứ VI đã kí nghị định "anh hùng của sự trinh tiết và thương yêu" vào ngày 7 tháng 7 năm 1977.

Qua Cha Đamien, Giáo Hội có một tâm gương cho những người tìm được ý nghĩa trong Kinh Thánh và cho những người mong ước đem Tin Mừng của Chúa đến cho người nghèo. Năm 1955, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Cha Đamien làm Á Thánh tại Burssels. Vào ngày 11 tháng 10 năm 2009, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI phong thánh cho Ngài. Ngày mừng kính thánh Đamien là ngày 10 tháng 5 hằng năm.

Hai Phép lạ đã được Tòa Thánh công nhận là do lời cầu xin của Chân Phước Damien:

(1) Ngày 13 tháng sáu, 1992, ĐGH Gioan Phaolô II công nhận Phép lạ xẩy ra năm 1895 cho một Nữ tu người Pháp, tên là Simplicia Hue, nằm chờ chết vì bịnh ruột. Nhờ làm tuần 9 ngày cầu xin Cha Damien cứu chữa, nên qua một đêm, liền hết bịnh.

(2) Phép lạ thứ hai xẩy đến cho một phụ nữ người Hawai'i bị ung thư, tên là Audrey Toguchi. Năm 1997, bà được Bác sĩ Walter Chang cho biết: chứng ung thư tế bào đã lan khắp chân, và phổi. Không thể chửa lành được. Và hồ sơ bệnh trạng được lưu trữ tại"Hawai'i medical Journal, October 2000".

Toà Thánh đã công nhận là hai phép lạ thật, và cần thiết để ĐGH Benêđitô XVI tuyên bố Chân Phước Damien lên bậc Hiển Thánh.

-------------------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - TẤM LÒNG MỤC TỬ - THỨ HAI CN4PS PDF Print E-mail

Chi Tran

10/05/22 THỨ BA TUẦN 4 PS
TIN MỪNG Ga 10,22-30: TÔI VÀ CHÚA CHA LÀ MỘT

TẤM LÒNG MỤC TỬ

"Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi... Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi." (Ga 10,27-28)

Suy niệm: Một lần nữa Chúa Giê-su củng cố niềm tin và khơi lên nhiệt huyết dấn thân cho các môn đệ là những con chiên trong ràn chiên của Ngài qua lời khẳng định: "Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi" và cũng không ai cướp được họ "khỏi tay Chúa Cha" bởi vì Ngài và Chúa Cha là một (x. Ga 10,30). Quả thật, với tấm lòng của người mục tử tốt lành, Chúa Giê-su đã tinh tế căn dặn họ từ trước.

Nhờ đó, dù phải trải qua thời khắc khủng hoảng khi Thầy chịu tử nạn, các môn đệ như đàn chiên tan tác, người chối Thầy, người bỏ trốn, nhưng các ông không bị mất niềm tin; để giờ đây Ngài phục sinh và hiện đến gặp gỡ các ông, quy tụ họ lại để "những người Chúa Cha trao cho, Ngài không để mất người nào" (x. Ga 18,9).

Mời Bạn: Trong cuộc sống bạn gặp phải biết bao khó khăn thách đố, điển hình là trong cơn dịch bệnh Covid-19, nhiều người rơi vào cơn khủng hoảng của những âu lo, căng thẳng, hoang mang, rồi trầm cảm, thất vọng...

Giữa lúc khó khăn dường như không nơi bám víu ấy, mời bạn đến với Đức Giê-su. Với tấm lòng của người mục tử nhân lành không bao giờ muốn bạn phải hư mất, Ngài luôn kêu gọi, tìm kiếm bạn.

Chỉ cần bạn đáp lại tiếng gọi của Ngài, sẵn lòng để Ngài đưa bạn về đoàn tụ trong đoàn chiên của Ngài.

Sống Lời Chúa: Dành thời gian mỗi ngày đọc và suy niệm Lời Chúa để được sống và sống dồi dào với Ngài.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su phục sinh, Ngài là Chúa và Thiên Chúa của lòng con. Con cao rao danh Ngài trên khắp cả địa cầu. Chúc tụng Ngài! Amen.

gpcantho

-------------------------------------------

 
ĐAò tạo môn đệ - TGM VŨ VĂN THIÊN - TGM HANOI PDF Print E-mail

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – NĂM C

ĐẤNG QUY TỤ MUÔN DÂN - CẦU NGUYỆN CHO ƠN THIÊN TRIỆU

Để loan báo Chúa Phục sinh, trước hết các tông đồ tìm đến những người Do Thái, với hy vọng họ sẽ dễ dàng nhận ra Đức Kitô là Đấng Thiên sai mà họ mong đợi. Quả thật là có nhiều người Do Thái tin vào lời chứng của các tông đồ. Tuy vậy, có nhiều người lại chống đối và tìm cách gây khó dễ cho việc giảng dạy của các ông.

Tác giả sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể về việc các tông đồ rao giảng tại miền Antiôkia và Pixiđia, cách xa Giêrusalem. Sau khi nghe các ông rao giảng, vào ngày Sa-bát, người đến nghe đông theo cách diễn tả của tác giả là "gần như cả thành tụ họp nghe Lời Thiên Chúa". Tin mừng về Chúa phục sinh đã lan rộng và cộng đoàn tín hữu phát triển nhanh chóng.

Trước những hành động ngăn cản và quấy rối của người Do Thái, hai tông đồ Phaolô và Barnaba đã có một quyết định quan trọng: đó là các ông đi đến với dân ngoại. Đây là một hướng đi mới, đồng thời cũng diễn tả tính hoàn vũ của ơn cứu độ được thực hiện qua Đức Giêsu thành Nagiarét. Quả vậy, Đức Giêsu không chỉ cứu độ người Do Thái, như nhiều người ngộ nhận. Người là Đấng Thiên Sai, là Ánh sáng của muôn dân như lời ngôn sứ Isaia đã loan báo. Người đến để quy tụ muôn người về một mối.

Tác giả Tin mừng thứ bốn đã hiểu điều này qua câu nói của thượng tế Caipha: "Điều đó ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giêsu sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ cho dân (Do Thái) mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát khắp nơi về một mối" (Ga 11, 51-52).

Việc quy tụ muôn người được diễn tả qua hình ảnh chủ chiên và đàn chiên. "Tôi là mục tử tốt lành. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi". Đức Giêsu đã diễn tả cộng đoàn những người tin vào Người, giống như một đàn chiên, mà Người chính là Mục tử của đàn chiên ấy. Mục tử và đàn chiên là hình ảnh rất quen thuộc ở đất nước Do Thái, thời xưa cũng như ngày nay.

Đây cũng là cách so sánh đơn sơ dễ hiểu đối với người bình dân. Như người mục tử hy sinh sự sống mình để bảo vệ đàn chiên trước sự tấn công của sói dữ và của quân trộm cướp, Đức Giêsu hy sinh mạng sống mình để đem lại sự sống cho đàn chiên. Người đã tuyên bố: "Khi nào tôi được giương cao khỏi đất, tôi sẽ kéo mọi người đến với tôi". Cái chết và sự phục sinh của Chúa là điểm quy tụ muôn dân. Hai mươi thế kỷ sau biến cố ấy, danh Đức Giêsu được loan truyền khắp thế giới, nơi mọi quốc gia và mọi vùng lãnh thổ.

Đấng chịu đóng đinh đã quy tụ muôn dân. Đấng đã sống lại đang chuyển tải cho các tín hữu sự sống và niềm vui. Ai đến với Chúa sẽ tìm thấy hạnh phúc, vì Chúa là Mục tử dẫn đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc, như mục tử dẫn chiên đến đồng cỏ xanh tươi và suối nước mát lành.

Khía cạnh hoàn vũ của ơn Cứu độ còn được diễn tả qua thị kiến của thánh Gioan tông đồ. Vị thánh này đã ghi lại trong sách Khải Huyền: "Tôi thấy một đoàn người thật đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ". Đức tin Kitô giáo đã làm thay đổi quan niệm về ơn Cứu độ nơi người Do Thái, mở ra một nhãn quan mới. Thiên Chúa là Cha của gia đình nhân loại. Ngài muốn cho mọi người được hạnh phúc và được cứu rỗi.

Nhờ bí tích Thanh tẩy, người Kitô hữu được kết nạp vào đàn chiên của Chúa, tôn nhận Đức Giêsu là lý tưởng cuộc đời, là Đấng dẫn dắt và chở che. Như người mục tử dẫn dắt và chăm sóc đàn chiên thế nào, Đức Giêsu cũng dẫn dắt và chăm sóc người tín hữu như vậy. Những ai xác tín vào lòng nhân hậu và tình thương của Chúa, sẽ được Người xót thương và sẽ tìm thấy bình an hạnh phúc.

Chúa nhật hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho ơn Thiên triệu. Chúng ta vẫn có thói quen gọi những người sống bậc tu trì là "được Chúa gọi – Thiên triệu". Xin cho nhiều bạn trẻ biết lắng nghe tiếng Chúa để quảng đại đáp lại lời Người.

Chúa gọi chúng ta nhiều cách. Có thể qua cha mẹ, qua bạn bè hoặc qua một sự kiện nào đó đánh động tâm hồn. Khi cầu nguyện, phân định và nhận ra ý Chúa, chúng ta sẽ trung tín theo Người, và như thế, chúng ta sẽ trở nên thành viên của đàn chiên có Chúa Giêsu là Mục tử.

+TGM Giuse Vũ Văn Thiên
Kính chuyển:
Hồng

-----------------------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH PHILLIPHE VÀ GIACOBE PDF Print E-mail

phung phung CHUYỂN

Thánh Philipphê và thánh Giacôbê

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay 3/5 Giáo Hội mừng kính

trọng thể 2 thánh Tông Đồ Philipphê và Giacôbê. Mừng bổn mạng đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 03/05/2022

Thánh Philipphê là người xứ Bethsaida. Ông là một trong những người đầu tiên được Đức Giêsu kêu gọi. Chính ông đã mách cho Nathanael Tin mừng lớn lao này: "Đấng mà sách luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng ta đã gặp. Đó là ông Giêsu, người Nazareth". Thấy bạn mình còn hoài nghi, ông đã giục: "Cứ đến mà xem". Nathanael sau khi đã gặp Đức Giêsu và nghe Ngài nói thì đã tin. Philipphê đã xuất hiện nhiều lần trong Phúc âm: Lúc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều; làm trung gian cho những người ngoại giáo muốn gặp Đức Giêsu. Philipphê cũng là người đã xin Đức Giêsu: "Lạy Ngài, xin chỉ cho chúng con thấy Cha, thế là đủ cho chúng con". Người ta nghĩ rằng ông đã đem Tin mừng đến cho người Scythen sau ngày lễ Ngũ tuần và chết rất thọ ở Hiérapolis, tại Phrygie.

Còn thánh Giacôbê mà chúng ta mừng kính hôm nay là Giacôbê hậu, con ông Alphê. Gọi là Giacôbê hậu để phân biệt với Giacôbê tiền, là con của ông Dêbêđê. Phân biệt này không mang ý nghĩa gì khác ngoài việc tránh sự nhầm lẫn. Khoa Thánh Kinh còn nghi ngờ không biết có phải Giacôbê hậu này có phải là "anh em của Đức Giêsu" và là tác giả của lá thư Giacôbê hay không?

Nhưng Phụng vụ Rôma lại có sự đồng hoá và xác nhận. Trước khi các Tông đồ tản mác mỗi người một nơi, thì họ chỉ định thánh Giacôbê làm Giám mục Giêrusalem. Ngài là linh hồn của cộng đoàn Giêrusalem. Vì ngài đã làm cho nhiều người trở lại với Đức Giêsu nên bị bản án ném đá.

Ngài đã chịu tử đạo đang khi quỳ gối cầu nguyện cho tên lý hình đang kết thúc đời Ngài bằng một thanh sắt giáng xuống trên người, trong thời điểm mừng lễ Vượt Qua. (Theo "Tự điển các thánh", trang 268-269 và trang 159).

Noi gương thánh Philipphê và thánh Giacôbê, bạn có thể trở thành tông đồ của Chúa qua lối sống hằng ngày của mình hôm nay, bằng cách làm những việc nhỏ với một con tim chân thành, với một thái độ cởi mở. Đây là một minh chứng hùng hồn và cụ thể nhất cho đức tin của mình đó.

Xin thánh Philipphê và thánh Giacôbê, cầu cho chúng con.

From: Đỗ Dzũng

--------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 91