mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6639
mod_vvisit_counterHôm Qua10893
mod_vvisit_counterTuần Này26181
mod_vvisit_counterTuần Trước63979
mod_vvisit_counterTháng Này6639
mod_vvisit_counterTháng Trước249791
mod_vvisit_counterTất cả18391126

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THỨ HAI CN21TN-A PDF Print E-mail

Suy Niệm Thứ Hai Tuần XXI Thường Niên A - 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan (Ga 1: 43-51)

Hôm sau, Đức Giê-su quyết định đi tới miền Ga-li-lê. Người gặp ông Phi-líp-phê và nói: "Anh hãy theo tôi".44 Ông Phi-líp-phê là người Bết-xai-đa, cùng quê với các ông An-rê và Phê-rô.45 Ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói: "Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét".46 Ông Na-tha-na-en liền bảo: "Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được?" Ông Phi-líp-phê trả lời: "Cứ đến mà xem!"47 Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: "Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối".48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người: "Làm sao Ngài lại biết tôi?" Đức Giê-su trả lời: "Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi".49 Ông Na-tha-na-en nói: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en!"50 Đức Giê-su đáp: "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa".51 Người lại nói: "Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người".

SỐNG VÀ CHIA SẺ LC

Ngày 15/12/2018, một ngày tràn đầy niềm vui, Đức cha Massimo Camisasca của giáo phận Reggio Emilia Guastalla đã đặt tay truyền chức linh mục cho thầy phó tế Alberto Debbi.

Ơn gọi của cha Alberto Debbi là một hành trình thật đặc biệt. Ở tuổi 42, với bằng cấp bác sĩ, một tương lai tươi sáng đã và đang mở rộng cánh cửa với cha, một mái gia đình êm ấm đang chờ đợi cha, nhưng cha đã quyết định để tất cả sang một bên và long trọng tuyên thệ trở thành linh mục của Chúa Kitô để phục vụ tha nhân hơn nữa.

Hôm nay, Giáo Hội mừng lễ thánh Barthôlômêô - một Tông đồ được Thiên Chúa chọn gọi trong cách thế đặc biệt. Trong khi ông đang cố gắng để tìm hiểu về một Đức Giêsu theo cách diễn đạt của sách Luật Môsê và các ngôn sứ, thì chính Philipphê lại giới thiệu cho Nathanael, tức là Barthôlômêô, một Đức Giêsu khác với suy nghĩ của ông. "Ông Philípphê trả lời: Cứ đến mà xem".

Quả thực, khi gặp Đức Giêsu, Barthôlômêô đã được chinh phục bởi Người. "Đức Giêsu thấy ông Nathanael tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối". Như vậy, Đức Giêsu đã hiểu quá rõ con người thật của Barthôlômêô, một con người lòng dạ thẳng ngay.

Mỗi người chúng ta cũng được Thiên Chúa kêu gọi theo những cách thế và ơn gọi khác nhau, điều quan trọng nơi chúng ta là nội tâm, lòng thành thực và sự khát khao chân thành mà chúng ta dấn thân phục vụ. Thiên Chúa không bao giờ đếm chúng ta có bao nhiêu tài năng hay bao nhiêu yếu đuối, mà Ngài luôn chú ý đến tấm lòng chân thực, tình yêu và sự hy sinh dấn thân cho những giá trị của Tin Mừng.

Lạy Chúa, xin thắp lên trong chúng con lòng nhiệt thành dấn thân cho tình yêu của Chúa. Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường
KÍnh chuyển:
Hồng

-------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THỨ BẢY CN20TN-A PDF Print E-mail

Thứ Bảy Tuần XX Thường Niên A - GKGĐ Giáo Phận Phú Cường

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Mátthêu (Mt 23: 1-12)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng và các môn đệ rằng: "Các luật sĩ và các người Biệt phái ngồi trên toà Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm. Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta: còn chính họ lại không muốn giơ ngón tay lay thử. Mọi công việc họ làm điều có ý cho người ta thấy: vì thế họ nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo. Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là "Thầy". Phần các ngươi, các ngươi đừng muốn được người ta gọi là thầy, vì các ngươi chỉ có một Thầy, còn tất cả các ngươi đều là anh em với nhau. Và các ngươi cũng đừng gọi ai dưới đất là cha: vì các ngươi chỉ có một Cha, Người ngự trên trời. Các ngươi cũng đừng bắt người ta gọi là người chỉ đạo: vì các ngươi có một người chỉ đạo, đó là Đức Kitô. Trong các ngươi, ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi. Hễ ai tự nhắc mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai tự hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".

Suy niệm/SỐNG VÀ LÀM THEO

Những câu nói như: "Cán bộ là đầy tớ nhân dân", "Lương y như từ mẫu", đã một thời, được nói lên một cách trân trọng. Nhưng hôm nay, khi nói lên những câu này, người ta cười nhạo mỉa mai, vì thực tế trong cuộc sống hoàn toàn trái ngược.

Chúng ta thường nghe lương dân than thở, tôi lầm vì tin vào người có đạo. Những câu lưu truyền trong dân gian: "Tin đạo chứ đừng tin người có đạo", ngày càng phổ biến như một lời răn dạy con người hãy biết khôn ngoan, đề phòng. Thật xót xa! "Chiếc áo không làm nên thầy tu", nên mang danh người có đạo, nhưng chưa chắc là người có đạo. Vì đạo là sự sống chứ không phải là chiếc áo khoác bên ngoài mà lừa dối người khác. Điều này đòi hỏi chúng ta phải tra xét mình, tôi có đạo thực sự không? Nếu tối có đạo, nghĩa là tôi chọn Chúa là lẽ sống, tôi theo luật Tin Mừng mà cư xử, chắc chắn gia đình tôi sẽ an bình, lối xóm và cộng đoàn tôi sẽ yêu thương nhau hơn, sẽ tốt lành hơn.

Sống đạo là nhìn ngắm Chúa mà theo, nghe Lời Chúa dạy mà thực hành, chứ không phải so sánh với người khác. Cũng không thần tượng hóa ai cả. Vì "anh em chỉ có một Cha là Đấng ngự trên Trời, và một vị chỉ đạo là Đức Kitô", nên chúng ta không vấp phạm vì lầm lỗi người khác, dù là những người thế giá. Cũng không ngừng lại nơi người tốt lành, để không còn biết vươn cao hơn. Nhưng mỗi ngày tập sống hoàn thiện theo mẫu gương Cha trên Trời: "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên Trời là Đấng toàn thiện". Mỗi người, mỗi tạo vật đều có thể phản ảnh sự tốt lành của Chúa, nhưng không phải là Chúa, nên chúng ta đừng ngạc nhiên hay thất vọng khi thấy những thiếu sót lầm lỗi của những người quyền cao chức trọng. Vì tất cả chúng ta là con người. Nhân vô thập toàn. Điều mà Chúa dạy chúng ta, hãy ghi nhớ là: "Trong anh em, ai làm lớn, phải là người phục vụ".

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con cách sống đạo, là lắng nghe Lời Chúa, tuân giữ lề luật Chúa, bắt chước đời sống yêu thương phục vụ của Chúa, chứ không phải bắt chước con người. Xin giúp chúng con biết cách làm cho mình được lớn lên, đó là biết khiêm nhường phục vụ mọi người. Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường
Kính chuyển:
Hồng

 
-ĐÀO TẠO MÔN DỆ - TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI PDF Print E-mail

Thứ Năm 20/08/2020 – Thứ Năm tuần 20 . – Thánh Bênađô, viện phụ, tiến sĩ Hội Thánh. Lễ nhớ. 

Lời Chúa: Mt 22, 1-14: TÔI CẦN SỐNG XỨNG ĐÁNG DỰ TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI

Khi ấy, Chúa Giêsu lại phán cùng các đầu mục tư tế và kỳ lão trong dân những dụ ngôn này rằng: "Nước Trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến. Vua lại sai các đầy tớ khác mà rằng: "Hãy nói cùng những người đã được mời rằng: Này ta đã dọn tiệc sẵn rồi, đã hạ bò và súc vật béo tốt rồi, mọi sự đã sẵn sàng: xin mời các ông đến dự tiệc cưới". Nhưng những người ấy đã không đếm xỉa gì và bỏ đi: người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán, những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi. Khi vua nghe biết, liền nổi cơn thịnh nộ, sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó, và thiêu huỷ thành phố của chúng. Bấy giờ vua nói với các đầy tớ rằng: "Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới". Các đầy tớ liền đi ra đường, gặp ai bất luận tốt xấu, đều quy tụ lại và phòng cưới chật ních khách dự tiệc.

Đoạn vua đi vào quan sát những người dự tiệc, và thấy ở đó một người không mặc y phục lễ cưới. Vua liền nói với người ấy rằng: "Này bạn, sao bạn vào đây mà lại không mặc y phục lễ cưới?" Người ấy lặng thinh. Bấy giờ vua truyền cho các đầy tớ rằng: "Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng!" Vì những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít".

SUY NIỆM : MẶC ÁO CƯỚI

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Thiên Chúa yêu thương luôn ngỏ lời với con người, kết ước với con người. Con người lại luôn phản bội, làm ngơ trước lời mời gọi yêu thương của Chúa. Nhưng Thiên Chúa không thể ngừng yêu thương, nên cuối cùng đã sai Con Một xuống trần gian để mời con người vào dự tiệc tình yêu hạnh phúc với Chúa.

Bữa tiệc cưới hết sức yêu thương vì Chúa Giêsu, Con Một yêu dấu của Chúa Cha đã xuống trần ở với nhân loại, mặc lấy thân xác nhân loại, kết duyên với nhân loại. Hai bản tính hòa hợp làm một trong Chúa Giêsu. Đó là bữa tiệc cưới hạnh phúc. Thế nhưng dân nhiều người chối từ tình yêu của Thiên Chúa vì say mê trần gian. "Kẻ thì đi thăm nông trại, người thì đi buôn, còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết".

Chúa đành phải từ bỏ khách mời cũ để dành chỗ cho những khách mời mới, thuộc đủ mọi chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ, giai cấp khác nhau. Chỉ với một điều kiện: Phải mặc áo cưới. Vào dự tiệc cưới thì phải mặc áo cưới. Đó là tự nhiên và hợp lý. Áo cưới là gì? Là con người mới. Là từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa.

Thủ lãnh Ghíp-tắc đã là người mặc áo cưới. Ở nhà thân phụ, ông là con một khách làng chơi. Khi thân phụ qua đời, ông bị các anh em loại trừ. Khi Ít-ra-en bị quân Am-mon đàn áp, Ghíp tắc nhận lời lãnh đạo kháng chiến với điều kiện "Chúa ở với ông". Chúa đã ở với ông, và ông trở thành một người mới. Ông chiến thắng quân Am-mon. Và hơn thế nữa, ông giữ lời đã thề hứa với Chúa là dâng chính con một của mình cho Chúa. Ông đã trở thành người lãnh đạo nêu gương cho dân vì trung tín giữ lời giao ước. Ghíp-tắc đã bị loại trừ nay lại được mời gọi vào Nước Chúa. Vì ông bỏ ý riêng và trung tín làm theo ý Chúa.

Tiên tri Ê-de-kien cho biết con người mới mặc áo cưới là con người có trái tim mới, một trái tim bằng thịt biết rung động trước tình yêu của Chúa, chứ không còn là trái tim chai đá chỉ biết chạy theo những gian dối của trần gian. Trái tim mới cũng là trái tim trong sạch vì được tẩy rửa trong nước thánh, sạch mọi thần tượng trần gian ô uế và gian tà để xứng đáng đón tiếp tình yêu của Chúa.

Trái tim mới là trái tim sống theo Thần Khí, biết đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Lời Chúa và đem ra thực hành. Chứ không còn sống theo xác thịt với những đam mê dục vọng của nó.
Con người mới có trái tim mới đó chính là con người mặc áo cưới mới, xứng đáng với bàn tiệc hạnh phúc Chúa dọn cho nhân loại.
Kính chuyển:
Hồng

-------------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ- TÔI ĐANG Ở NƠI NÀO? PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

TÔI ĐANG Ở NƠI NÀO ?

Đối với niềm tin vào Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, người ta thường có ba thái độ:

Thứ nhất là thái độ cứng lòng tin:
· Chẳng có Thiên Đàng, cũng chẳng có Luyện Ngục hay Hỏa Ngục như Giáo Hội Công Giáo dạy ! Có chăng là có Thiên Đàng nơi trần thế này mà thôi! Chết là hết, là kết thúc, xuôi tay nhắm mắt xong là hết đau khổ, hết lo lắng và hết ... nợ đời !
Chính vì không tin vào thực tại của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục ở đời sau, cho nên họ như những con thiêu thân chỉ biết lao đầu vào ăn chơi, hưởng thụ, trác táng, hút xách, phạm pháp, làm những việc vô luân thường đạo lý... Và cuối cùng khi chán ngán cuộc đời này, khi họ chán sống rồi thì ... tự tử và thế là chấm hết..... !

Thứ hai là có tin vào Chúa nhưng tin một cách lệch lạc:

· Tin vào Thiên Chúa và chỉ tin có Thiên Đàng mà thôi! Luyện Ngục và Hỏa Ngục không thể có được bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4:16), Ngài không bao giờ dựng nên những thứ khủng khiếp ấy để trừng phạt hay hành hạ con cái của Ngài. Luyện Ngục và Hoả Ngục là những thứ mà Giáo Hội dựng nên để hù dọa người ta mà thôi !
Vì không tin có Luyện Ngục và Hoả Ngục cho nên họ chẳng quan tâm gì đến việc đọc kinh xin lễ, và làm việc hy sinh, hãm mình ... để cầu nguyện cho những người đã qua đời. "Tất cả những ai tin vào danh Đức Giê-su và chịu phép Rửa Tội thì chắc chắn được cứu rỗi, vậy cầu nguyện, đọc kinh, tham dự Thánh Lễ, hy sinh cho người quá cố để làm gì ?
Vô ích! Tốn thời giờ" Họ dùng Thánh Kinh để lý luận như vậy !

Thứ ba là thái độ tin nhưng lờ mờ:

· Những người thuộc nhóm này thì tin vào những lời giáo huấn của Giáo Hội về sự sống đời sau, tin chắc chắn có Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, nhưng chẳng bao giờ họ hiểu rõ và hiểu đúng về thực trạng của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục cả. Họ cũng chẳng hiểu Giáo Hội Công Giáo gồm có BA THÀNH PHẦN và sự liên đới chặt chẽ, và mối liên quan mật thiết giữa ba thành phần này trong Giáo Hội.
Còn bạn ? Bạn thuộc nhóm nào vậy ?

Tôi hy vọng là bạn không thuộc vào nhóm thứ nhất và thứ hai! Nếu bạn thuộc vào một trong hai nhóm này thì... Amen! Chỉ có Chúa Thánh Thần mới giúp bạn được thôi !
Còn nếu bạn thuộc vào nhóm thứ ba thì trong ngày lễ Các Thánh và lễ Các Linh Hồn hôm nay, mời bạn hãy cùng với tôi học hỏi và tìm hiểu sâu hơn về thực trạng của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, về BA THÀNH PHẦN của Giáo Hội và sự liên đới chặt chẽ, và mối liên quan mật thiết giữa ba thành phần này.
Rất nhiều người, trong đó có tôi, và không chừng có cả bạn nữa, đã từng nghĩ hay vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục là những nơi chốn (places):
·Thiên Đàng là một nơi trên trời cao, ở đó không có đau khổ, không có nước mắt mà chỉ có vui vẻ, hạnh phúc, hoan lạc, bình an và yêu thương. Ở trên Thiên Đàng các Thánh và các Thiên Thần suốt ngày suốt đêm chỉ ca hát, tán tụng và ngợi khen Thiên Chúa...
· Luyện Ngục là một trại chuyển tiếp, một nơi tạm giam,* nơi đây người ta phải chịu nóng nảy, chịu đau khổ, có cả cực hình nữa để chờ hễ mãn hạn thì được chuyển lên Thiên Đàng.
· Hỏa Ngục là một nơi sâu thẳm trong lòng đất, ở đó là nơi giam giữ đời đời những kẻ ác, những người không có vé vào Thiên Đàng hay Luyện Ngục. Nơi đây Sa-Tan và ma quỷ tha hồ dùng lửa diêm sinh để thiêu đốt và trừng phạt những tội nhân ở trong vương quốc của chúng.
Nếu bạn đã từng nghĩ như tôi hoặc vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục là những nơi chốn thì sai rồi! Bạn cứ mở cuốn Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo do Đức Giáo Hoàng Benedictô đương kim soạn thảo ra mà xem thì sẽ thấy quan niệm về NƠI CHỐN của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục như là những NƠI CHỐN là sai !

· Thiên đàng là tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào, sẽ được qui tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các thiên thần và các thánh ... được chiêm ngắm Thiên Chúa "mặt giáp mặt" ( 1 Cr 13,12) ... sống trong sự hiệp thông tình yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển cầu cho chúng ta (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 209).

· Luyện ngục là tình trạng của những người chết trong tình thân với Thiên Chúa, nhưng, dù đã được đảm bảo ơn cứu độ vĩnh cửu, họ còn cần thanh luyện trước khi được hưởng hạnh phúc thiên đàng (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 210).

· Hoả ngục là [tình trạng] xa cách đời đời khỏi Thiên Chúa.... Đức Kitô diễn tả thực tại hoả ngục bằng những lời này: "Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời" (Mt 25:41) (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 212).
Hy vọng bạn sẽ không bao giờ nghĩ rằng Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục như là những NƠI CHỐN nữa!

Bây giờ chúng ta tiếp tục tìm hiểu về mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành phần trong Giáo Hội ! Nói về BA THÀNH PHẦN trong Giáo Hội: Giáo Hội Chiến Thắng, Giáo Hội Ðền Bù và Giáo Hội Lữ Hành, sách Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 195 dạy rằng:

· Một số còn lữ hành trên trần gian; một số khác, đã rời bỏ đời này, hiện đang được thanh luyện, và cũng được trợ giúp bằng lời cầu nguyện của chúng ta; sau hết, một số khác nữa, đã được hưởng vinh quang Thiên Chúa và đang chuyển cầu cho chúng ta. Tất cả cùng nhau làm thành một gia đình duy nhất trong Đức Kitô, là Hội thánh, để ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi.
Bạn thấy mối quan hệ rất chặt chẽ và tình liên đới mật thiết giữa chúng ta với các linh hồn nơi Luyện Ngục và với các Thánh ở trên Thiên Đàng chưa ?
· Các linh hồn thuộc Giáo Hội Đền Bù hoàn tất giai đoạn thanh luyện chậm hay mau là nhờ vào sự cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, thánh lễ, Kinh Mân Côi... của những người thuộc về Giáo Hội Lữ Hành, tức là chúng mình, những người còn sống ở trần gian.
· Sau khi hoàn thành quá trình thanh luyện, các linh hồn được vào Thiên Đàng, lúc này các Ngài thuộc Giáo Hội Chiến Thắng sẽ cầu bầu, giúp đỡ cũng như chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta.

Nếu hôm nay bạn đã hiểu đúng về Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục và nhận ra mối liên hệ chặt chẽ và mật thiết giữa ba thành phần trong Giáo Hội thì tôi đề nghị với bạn hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục, bằng cách dâng lời cầu khẩn, đặc biệt là Thánh lễ, và cả những việc bố thí, ân xá và những việc hãm mình để cầu cho họ (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 211).

Bạn có muốn con cháu, bạn bè, thân thuộc và tha nhân làm những việc như hy sinh, xin lễ, đọc kinh, lần hạt Mân Côi, Viếng Thánh Thể, cầu nguyện ... cho bạn sau khi bạn nhắm mắt từ giã cõi đời này và nhất là khi bạn bị kẹt ở trong trại chuyển tiếp (luyện ngục) không? Nếu muốn thì tôi mạn phép đề nghị với bạn những công việc nhỏ bé sau:

· Xin lễ, tham dự Thánh Lễ, xưng tội, rước Lễ, lần hạt Mân Côi, Chầu Thánh Thể ... để cầu nguyện cho các linh hồn đã ra đi trước chúng ta ...
· Hy sinh, hãm mình, không mua những đồ xa xỉ phẩm, một gói thuốc lá, một chai rượu, một két bia, một bữa ăn ở nhà hàng... để dành tiền giúp cho các cơ quan từ thiện, trại cùi, các trẻ em khuyết tật...
· Hy sinh không cãi lại cha mẹ, không nóng giận và kiên nhẫn với những người chung quanh.
· Chăm sóc, quan tâm đến ông bà, cha mẹ hoặc đi thăm viếng người già, những người đau yếu, tật nguyền, kém may mắn...

"Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy" (Lc 6:31). Hy sinh, xin lễ, đọc kinh, lần hạt Mân Côi, Viếng Thánh Thể, cầu nguyện ... cho các linh hồn là chúng mình đang làm cho chính chúng ta đấy ! Hãy làm ngay vì các linh hồn đang chờ chúng ta đấy !

Lm Ansgar Phạm Tĩnh

------------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH ALPHONG-SÔ PDF Print E-mail

Kim Vu

>
>
>
> THÁNH ANPHONGSÔ, CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH
>
>
>
> Thánh Anphong Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế. Tiến Sĩ Hội Thánh. Bổn mạng các nhà luân lý Công giáo. Bổn mạng các cha giải tội.
>
>
>
> Anphong Maria de Liguori sinh năm 1696 trong một gia đình quý tộc và giàu có ở Napoli. Cha ngài, Don Giuseppe là sĩ quan Hải quân Hoàng gia đầy nghị lực, ý chí và trách nhiệm. Mẹ ngài là bà Anna Catarina Cavalieri danh giá và thùy mị. Gia đình được tám người con, Anphong là con cả.
>
>
>
> Với trí thông minh đặc biệt, lại được giáo dục trong một môi trường thuận lợi để phát triển mọi khả năng trong mọi lãnh vực triết học, toán học, khoa học, văn chương và nghệ thuật. Vì vậy, khi chỉ mới 16 tuổi, Anphong đã xuất sắc đạt được cả hai bằng tiến sĩ ưu hạng về Giáo luật và luật dân sự.
>
> Cả kinh thành Napoli ngưỡng mộ vị luật sư trẻ trung tài hoa với kỳ tích, trong vòng tám năm, từ năm 1715 đến 1723 ngài đã thắng tất cả các vụ kiện.
>
>
>
> Con đường công danh trải thảm mượt mà dưới chân vị luật sư trẻ đầy tài năng, dẫn ngài đi tới hết vinh quang này tới vinh quang khác. Nhưng Thiên Chúa đã có một kế hoạch khác cho ngài. Với những ân sủng Thiên Chúa ban, cộng với tinh thần đạo đức sốt mến và lòng yêu thương người nghèo, nhất là những người nghèo bị bỏ rơi hơn cả, Anphong đã mau chóng nhận ra thánh ý Chúa định cho cuộc đời mình, và ngài đã cương quyết thi hành.
>
>
>
> Năm 1723 trong một vụ kiện lịch sử, Anphong, với lương tâm trung thực và thanh liêm, nghĩ tưởng công lý nằm trong lẽ phải, nhưng ngài bàng hoàng khi thấy đồng tiền bẻ cong công lý, quyền lực giày đạp luật pháp dưới chân. "Hỡi thế gian, ta biết ngươi rồi... Vĩnh biệt pháp đình" là câu nói cuối cùng của vị luật sư trẻ khi nhìn ra được bộ mặt gian xảo của thế gian.
>
>
>
> Cắt hết mọi mối tương quan, chìm đắm trong cô tịch để làm lại cuộc đời, nhưng vẫn duy trì nếp sống đạo đức và viếng thăm bịnh nhân. Ngày kia, một câu nói xoáy vào tâm hồn: "Hãy để thế gian lại đó và hiến mình cho Ta," Anphong tỉnh ngộ chạy đến nhà thờ Đức Maria Chuộc Kẻ Làm Tôi, rút thanh gươm quý tộc đặt dưới chân Đức Maria và thưa: "Vĩnh biệt thế gian và của cải phù vân. Lạy Chúa, đời con nay thuộc về Chúa. Chức tước và của cải gia đình, con xin dâng làm lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa và cho Mẹ Maria."
>
>
>
> Dù người cha phản đối kịch liệt và làm mọi cách lôi kéo Anphong về lại thế gian, nhưng ngài vẫn quyết tâm trở thành tôi tớ của Đức Kitô. Được thụ phong linh mục vào năm 1726 tại Tổng giáo phận Napoli, lúc ấy còn nhập nhằng lem luốc với hàng giáo sĩ xa hoa và các vị thánh, những tu sĩ dốt nát, sân si bên cạnh những vị dấn thân cho việc thăng tiến con người, cho những giá trị Kitô giáo, những cha giải tội phóng khoáng bên cạnh những linh mục nghiêm khắc, phản ánh đàng sau đó là sự đối chọi của hai nền luân lý khắt khe của phái Jansenisme, và phóng khoáng của phái Laxisme.
>
>
>
> Cha Anphong gia nhập Hội Tông Đồ Thừa Sai của Giáo Phận để rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lý cho những người nghèo khổ, bần cùng, đa phần bị nhiễm các thói hư tật xấu, bị cả Giáo hội lẫn xã hội bỏ rơi ở Napoli. Ngài nhiệt thành xây dựng đời sống đức tin cho họ, khích lệ họ cải thiện lối sống, và nhẫn nại dạy họ cầu nguyện.
>
>
>
> Chính sự gần gũi với đoàn chiên không người chăn dắt, Giáo hội qua cha Anphong đã đến vùng ngoại vi của việc chăm sóc mục vụ, làm sáng lên vẻ đẹp vốn có của Giáo hội, phải lem luốc trên đường phố với người nghèo chứ không ẩn mình trong sự an toàn giả tạo. Sáng kiến mục vụ và sự dấn thân của Cha Aphongsô đã đạt kết quả rất đáng khích lệ.
>
>
>
> Trong những khu "ổ chuột" nơi đầy rẫy "những bọn cặn bã" của thành phố, hình thành những nhóm người đêm đêm qui tụ nhau trong các tư gia để cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, hình thành nên "những nguyện đường về đêm." Dưới sự hướng dẫn của ngài và những thiện nguyện viên, việc giáo dục đức tin, luân lý và sự tương thân tương ái vừa cải hóa tâm hồn con người, vừa giúp cải tạo môi trường xã hội, vừa đẩy lùi những tệ nạn xã hội.
>
>
>
> Hành trình của vị mục tử đi tìm những con chiên lạc còn khám phá ra những vùng đất như thể "Đức Kitô chưa bao giờ đặt chân đến" trong vương quốc Napôli, khiến tâm hồn ngài rúng động trước những đám đông nghèo khó bị bỏ rơi, gồm những nông dân và những mục đồng còn chưa biết sống người cho ra người, nói gì đến việc sống đời Kitô hữu. Năm 1732, sau bao khó khăn phải vượt qua, nhưng với xác tín mãnh liệt và được Thánh Thần soi sáng thúc đẩy, cha Anphong lập Dòng Chúa Cứu Chuộc Rất Thánh.
>
>
>
> Các tu sĩ, dưới sự hướng dẫn của Cha Anphongsô, trở thành những vị thừa sai của Chúa Cứu Thế với con tim tràn ngập niềm vui, mạnh mẽ trong đức tin, phấn khởi trong đức cậy, sốt sắng bởi lòng mến, bừng cháy lòng nhiệt thành, trong sự khiêm hạ của tâm hồn và bền chí cầu nguyện; bỏ mình và luôn sẵn sàng đảm nhận những công việc khó khăn, tham dự vào mầu nhiệm của Đức Kitô và công bố mầu nhiệm ấy bằng đời sống và lối nói giản dị theo tinh thần Phúc Âm, hầu đem lại ơn Cứu Chuộc chứa chan cho con người (x.HP 20). Nhân đức và lòng nhiệt thành tông đồ của cha Anphong lan tỏa khắp nơi.
>
>
>
> Năm 1762 Cha được bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Thánh Agata dei Goti. Đến năm 1775, vì già cả, bệnh tật, ngài đã từ nhiệm. Năm 1787, ngài được Chúa gọi về trong sự tiếc thương của mọi người: "Chúng ta đã mất một vị thánh." Năm 1839, Anphongsô được tuyên phong hiển thánh và năm 1871, Tòa Thánh tuyên dương ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh vì đã đóng góp hữu hiệu cho nền Thần học Luân lý, và 1950 Đức Thánh Cha Piô XII công bố ngài là "Quan Thầy của tất cả các cha giải tội và của các nhà Thần học Luân lý."
>
>
>
> Thời thánh Anphong, phái Jansenisme chủ trương khắt khe đến nỗi, thay vì rao giảng sự xót thương của Chúa để kêu gọi lòng tín thác, họ lại trình bày khuôn mặt của một vị Thiên Chúa công minh lạnh lùng và hay trừng phạt, khiến người ta không dám xưng tội, vì sợ sẽ phạm tội lại. Cha Anphong, với lương tâm người mục tử, đã viết một tác phẩm mang tựa đề "Thần học Luân lý", mang tính quân bình và có sức thuyết phục giữa các đòi hỏi của lề luật Thiên Chúa, được ghi khắc trong con tim con người, được Đức Kitô mạc khải cách trọn vẹn và được Giáo Hội giải thích một cách có thẩm quyền, với các dạng thức của lương tâm và sự tự do của con người; chính trong việc gắn bó với chân lý và sự thiện mà người ta có thể đạt được sự trưởng thành và kiện toàn chính mình.
>
>
>
> Công trình của thánh Anphong để lại cho Giáo hội một nền tảng vững vàng về Thần học luân lý vẫn còn hữu ích cho đến nay. Ngài thường khuyên các mục tử hãy trung thành với giáo huấn luân lý Công Giáo với thái độ bác ái, cảm thông, dịu dàng để các hối nhân cảm thấy cha giải tội là người đồng hành, nâng đỡ và khích lệ trong đời sống đức tin.
>
>
>
> Thánh Anphong luôn nhắc rằng, các linh mục phải phản ánh dung mạo của lòng Chúa xót thương, là Đấng luôn sẵn sàng tha thứ và kiên trì kêu gọi kẻ tội lỗi hoán cải và canh tân đời sống. Bên cạnh các tác phẩm thần học, Thánh Anphong còn viết rất nhiều sách đạo đức thiêng liêng khác, với văn phong bình dân giản dị, nhằm đào tạo đức tin và lòng sùng mộ cho dân chúng. Đáng kể là các tác phẩm đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau như, "Le Massime eterne" (Các châm ngôn vĩnh cửu), "Le glorie di Maria" (Vinh Quang Đức Maria), "La practica d'amore Gesù Cristo" (Thực hành lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô). Đây là tác phẩm sau cùng vừa tổng hợp những suy tư, vừa nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc cầu nguyện, vì nhờ đó, người ta mở lòng cho Ân Sủng, để chu toàn ý muốn của Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày và đạt đến sự thánh hóa.
>
>
>
> Thánh Anphong còn là tông đồ về cầu nguyện, Ngài viết: "Thiên Chúa không từ chối ơn thánh từ những lời cầu nguyện; với ơn thánh đó người ta được trợ giúp để vượt thắng mọi dục vọng và những cơn cám dỗ. Tôi nói và tôi sẽ còn lặp lại mãi, bao lâu tôi còn sống, rằng tất cả ơn cứu độ của chúng ta là ở nơi việc cầu nguyện." Từ đó có phương châm: "Ai cầu nguyện, sẽ được cứu rỗi."
>
>
>
> Trong số các hình thức cầu nguyện, nổi bật là viếng Thánh Thể. Ngài viết: "Chắc chắn trong tất cả các việc đạo đức thì đứng đầu, sau các Bí Tích, là việc thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, là điều Chúa ưa thích và là điều sinh ích lợi cho chúng ta nhất... Ôi, dịu ngọt biết bao khi hiện diện trước bàn thờ với đức tin... và dâng lên Chúa Giêsu Thánh Thể các nhu cầu của mình, như một người bạn làm với một người bạn với tất cả sự tín cẩn" Mầu nhiệm Nhập Thể và Thương Khó của Đức Giêsu cuốn hút Thánh Anphong trong việc suy niệm và giảng thuyết, vì chính ở điểm này, Đấng Cứu Thế trở nên quà tặng cho nhân loại, và "Ơn Cứu Chuộc nơi Người chứa chan." Đó chính là Linh đạo của Thánh Anphong, tập trung vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Người.
>
>
>
> Từ Tình yêu Chúa và công ơn Cứu Chuộc của Người, với lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Aphongsô đã giải thích vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu độ, với tất cả mọi danh hiệu và tước vị ngày nay người ta có thể thấy trong Kinh cầu Đức Bà. Ngài còn quả quyết, những ai có lòng sùng kính đối với Mẹ Maria sẽ không bị hư mất, vì Mẹ là chốn nương ẩn cuối cùng, là niềm ủi an trong phút lâm chung.
>
>
>
> Đối với Giáo hội nói chung và với Dòng Chúa Cứu Thế nói riêng, Thánh Anphong luôn là một tấm gương sáng về lòng nhiệt thành tông đồ, loan báo Tin Mừng cho mọi người, nhất là những người nghèo khó bị bỏ rơi, chuyên chăm cầu nguyện, sốt sáng cử hành các Bí Tích và một lòng sùng mộ Đức Maria. Không một ai ở ngoài Ơn Cứu Chuộc của Chúa, vì Chúa luôn từ ái một niềm, vì Ơn Cứu Chuôc nơi Người chứa chan (Tv 129,7).
>
>
>
> Lm. Giuse Ngô Văn Kha, DCCT
>
>
>
> __._,_.___

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 68