mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3450
mod_vvisit_counterHôm Qua9355
mod_vvisit_counterTuần Này3450
mod_vvisit_counterTuần Trước73994
mod_vvisit_counterTháng Này138426
mod_vvisit_counterTháng Trước195218
mod_vvisit_counterTất cả18718131

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - BAI GIẢNG CỦA GM QUY NHÔN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen chuyển

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ NHIỆM VỤ GIẢNG LỄ CỦA LINH MỤC

Trong bài giảng lễ truyền chức linh mục tại nhà thờ Chính tòa Qui Nhơn ngày 07-01-2021 vừa qua, Đức cha Mat-thêu Nguyễn Văn Khôi, Giám mục Chánh tòa Qui Nhơn đã nhắc nhở các tân chức về ba sứ vụ chính yếu của mục tử bao gồm ba nhiệm vụ chính, đó là giáo huấn với tư cách là thầy, thánh hóa với tư cách là tư tế và cai quản với tư cách là mục tử và thủ lãnh. Riêng về nhiệm vụ giáo huấn, ngài đã nhắn nhủ như sau:

Để thi hành nhiệm vụ giáo huấn trong Đức Kitô là Thầy, các con hãy siêng năng đón nhận Lời Chúa bằng việc lắng nghe và suy niệm trong lòng, rồi đem phân phát cho dân Chúa bằng lời giảng dạy. Hãy chuẩn bị bài giảng thánh lễ mỗi ngày thật chu đáo, để có thể làm cho Lời Chúa trở nên lương thực hàng ngày cho dân Chúa. Bài giảng thánh lễ phải ưu tiên tập trung vào Lời Chúa và giáo huấn của Hội Thánh, nếu có đề cập đến giáo huấn của các tôn giáo khác hay tư tưởng của các tác giả đời, như các triết gia, văn thi sĩ, nhạc sĩ hay chính trị gia, thì cũng chỉ để đối chiếu mà thôi.

Không được tục hóa bài giảng bằng những nội dung và lời lẽ không phù hợp với sự thánh thiêng của phụng vụ Lời Chúa. Càng không được dùng tòa giảng để làm nơi phê bình chỉ trích cá nhân. Để cho lời giảng dạy có sức đánh động lòng người, các con cần có gương sáng đời sống thánh thiện đi kèm, vì người ta thích nhìn thấy bài giảng hơn là chỉ nghe bài giảng. Về vấn đề này Hội Thánh đã dạy: "Các con hãy chú tâm tin điều các con đọc, dạy điều các con tin và thi hành điều các con dạy". Ngoài các bài giảng trong thánh lễ, các con cũng hãy tận dụng những dịp khác để trình bày Lời Chúa cho anh chị em tín hữu và cả cho những người lương dân trong những cuộc gặp gỡ hằng ngày. [1]

Sau khi bản tin về nội dung bài giảng này được phổ biến chính thức trên trang nhà Giáo phận Qui Nhơn, nhiều trang mạng Công giáo khác liền đăng tải tin và nội dung bài giảng này với tựa đề "Linh mục không được tục hóa bài giảng". Riêng trang nhà của Gp Qui Nhơn đăng nội dung này đã nhận được 556 lượt người thích. Ngoài ra trên các trang mạng xã hội (FB) Công giáo, nhiều độc giả cũng tỏ ra đồng cảm và thích bài giảng trên. Chẳng hạn trên mạng Facebook của HĐGMVN có 195 người thích (Like) và 39 lượt chia sẻ (Share), Gp Bà Rịa có 415 người thích và 18 lượt chia sẻ...

Điều này chứng tỏ rằng đề tài về mục tử nói chung và chủ đề về chức năng giảng dạy của linh mục, trong đó có việc giảng lễ nói riêng, vẫn luôn là vấn đề "nóng" và hấp dẫn sự quan tâm của đông đảo các tín hữu. Nhân dịp này, qua góc nhìn và cảm nhận của một giáo dân, xin mạn phép cùng nhau chia sẻ một vài suy nghĩ liên quan đến việc giảng lễ của linh mục.

Trong lời giới thiệu của cuốn sách có tựa đề "Thuật giảng lễ" của tác giả M. Phê-rô Kim Ngôn Nguyễn Văn Lâm O.Cist, có đoạn viết như sau:

"Chúng ta dễ dàng nhìn thấy và phàn nàn về tình trạng sa sút trong đời sống đức tin, sự xuống cấp về phong hóa; chúng ta dễ dàng chỉ ra những nguyên nhân ngoại tại. Tuy nhiên, lời của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô buộc chúng ta phải nhìn lại chính mình: "Tội nghiệp dân! Tội nghiệp dân! Chúng ta không cho họ bánh để ăn, chúng ta không cho họ chân lý. Thậm chí biết bao lần, chúng ta cho họ ăn bánh nhiễm độc!" (Chia sẻ trong thánh lễ ngày 16-01-2014).

"Lời chia sẻ có tính cách tĩnh ấy buộc chúng ta phải nhớ lại sứ mạng mà chúng ta, với tất cả ý thức và tự do, đã dấn thân vào sứ mạng đó cũng được chính Đức Thánh Cha Phan-xi-cô long trọng nhắc lại: "Các linh mục phải là người rao giảng Tin Mừng, chủ chăn của Dân Thiên Chúa, chủ sự các sinh hoạt phụng tự, đặc biệt là cử hành hiến tế của Chúa, dạy dỗ giáo lý. Vậy giáo lý của các con phải là lương thực cho Dân Chúa, giáo lý của Chúa chứ không phải của các con và chúng ta phải trung thành với giáo lý ấy. Đối với tín hữu, các con hãy là niềm vui và sự nâng đỡ của Chúa Ki-tô, hương thơm của cuộc đời các con. Bởi vì với lời nói và gương sống, các con xây nhà của Thiên Chúa và Giáo Hội. Hãy kiên trì đọc và suy niệm Kinh Thánh, hãy dạy điều đã học trong đức tin và sống điều mình dạy" (Bài chia sẻ trong Thánh Lễ truyền chức ngày 11-5-2014)". [2]

Xét như vậy ta thấy rằng việc giảng thuyết, giảng dạy nói chung và việc giảng lễ nói riêng của mục tử là nhiệm vụ hết sức đặc biệt quan yếu đối với đời sống đức tin và đức ái của chính ngài cũng như của cộng đoàn và của từng tín hữu.

ĐTC Phan-xi-cô trong Tông huấn "Niềm Vui của Tin Mừng" (Evangelii Gaudium) công bố ngày 26-11-2013 đã nhắc nhở như sau: "Bài giảng là viên đá thử để đánh giá sự gần gũi và khả năng truyền thông của người mục tử với dân chúng. Chúng ta biết các tín hữu rất coi trọng bài giảng và cả các tín hữu lẫn các thừa tác viên có chức thánh đều khổ sở vì các bài giảng: giáo dân vì phải nghe các bài giảng, còn các giáo sĩ vì phải giảng bài! Đây là trường hợp đáng buồn. ...Bài giảng thực ra có thể là một trải nghiệm sâu đậm và vui sướng về Thần Khí, một cuộc gặp gỡ đầy an ủi với lời Thiên Chúa, một nguồn mạch canh tân và tăng trưởng thường xuyên" (số 135). [3]

Quả thực, tín hữu rất coi trọng bài giảng vì đối với họ, bài giảng của linh mục là một "món ăn" không thể thiếu được của bàn tiệc Lời Chúa trong một thánh lễ. Món ăn càng ngon, càng bổ dưỡng, càng thích hợp thì đời sống đức tin và đức ái của người tín hữu càng được tăng trưởng, lớn mạnh.

Chính vì vậy, ĐTC Phan-xi-cô cũng trong Tông huấn "Niềm Vui của Tin Mừng" đã nhấn mạnh như sau: "Bài giảng có tầm quan trọng đặc biệt vì bối cảnh Thánh Thể của nó: nó vượt quá mọi hình thức huấn giáo vì là thời điểm tột đỉnh trong cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa với dân Người, và dẫn tới việc hiệp thông bí tích. Bài giảng một lần nữa tiếp nối cuộc đối thoại mà Chúa đã thiết lập với dân Người. Người giảng thuyết phải biết lòng cộng đoàn của mình, để biết chỗ nào ước muốn của nó về Thiên Chúa đang sống động và cháy bỏng, cũng như chỗ nào mà cuộc đối thoại ấy trước kia rất thân thương nay đã bị thui chột và cằn cỗi" (số 137). [4]

Đối với người tín hữu, thông qua bài giảng, họ được đưa vào cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Thiên Chúa và dân của Người. Linh mục vừa là người hướng dẫn cuộc gặp gỡ, vừa là người khai mở cuộc đối thoại thân mật, vừa là trung gian truyền đạt Lời Chúa một cách hiệu quả. Thực tế cho thấy có nhiều người đã được biến đổi cách kỳ lạ sau một hai bài giảng của linh mục.

Thực vậy, với đức tin và lòng mến của mình, người tín hữu theo dõi, lắng nghe vị linh mục giảng như là đang nghe Chúa nói vậy. Lời nói, dung mạo, cử chỉ, cung cách của ngài sẽ có sức hút đặc biệt nếu ngài đam mê rao giảng Lời Chúa và coi đây là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và nghiêm túc. Có thể khẳng định như sau, "Công việc của linh mục quan trọng nhất trong mọi hoạt động của nhân loại. Ngài sinh ra đời chỉ để làm trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Chức vụ trung gian ấy buộc ngài phải nói và nói có kết quả cho dân mình, truyền cho họ niềm tin và giáo huấn luân lý mà Con Thiên Chúa đã trao cho con người như là phương thế để đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu trên trời". [5]

Sau đây xin được đề cập đến ba vấn đề chính: 1- Tìm hiểu ý nghĩa của việc giảng lễ; 2- Bàn về 3 vai trò của linh mục trong nhiệm vụ giảng lễ; 3- Tín hữu mong đợi gì nơi vị linh mục giảng lễ và bài giảng lễ của ngài.

I.- Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIẢNG LỄ

1.1. LM Giuse Huỳnh Văn Sỹ trong bài viết "Bài giảng trong Thánh lễ: Khía cạnh pháp lý và mục vụ" đã nêu ra ý nghĩa và tầm quan trọng của giảng lễ, như sau: [6]

- Ý nghĩa từ ngữ Giảng lễ (Homilia): Trong những hình thức giảng Lời Chúa, giáo luật đặc biệt lưu ý giảng lễ (điều 767) và giảng tĩnh tâm hoặc tuần đại phúc (điều 770). Giảng lễ là một hình thức giảng thuyết nhưng không phải bất cứ sự giảng thuyết nào cũng là giảng lễ. Homilia theo nguyên ngữ Hy lạp để chỉ một sự đàm thoại, cuộc nói chuyện thân mật. Trước đây, homilia còn để chỉ lời cầu nguyện hoặc bài giảng của Giám mục.

Trong một số văn kiện của Giáo Hội, homilia được dùng để chỉ bài giảng trong khung cảnh cử hành phụng vụ nói chung mà đặc biệt để chỉ bài giảng trong thánh lễ, là một phần không tách rời của thánh lễ và cần thiết để nuôi dưỡng đời sống Ki-tô hữu. Ở đây theo mạch văn của điều 767 và nhiều văn kiện khác, chúng ta chỉ giới hạn xét homilia là bài giảng sau khi công bố Tin Mừng trong khung cảnh Thánh lễ và có thể gọi tắt là giảng lễ.

Giảng lễ là gì? Dường như không có một định nghĩa ngắn gọn nào nhưng có những cách diễn tả về giảng lễ. Chẳng hạn theo Hiến chế về Phụng vụ Thánh, "bài giảng căn cứ vào Thánh Kinh để trình bày các mầu nhiệm đức tin và những qui tắc cho đời sống Kitô giáo trong suốt chu kỳ năm phụng vụ, rất đáng được coi như một phần của chính Phụng vụ". Theo Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (Institutio Generalis Missalis Romani), "bài giảng lễ (homilia) là thành phần của phụng vụ và rất được khuyến khích, vì cần thiết để nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu. Bài này phải diễn giải hoặc một khía cạnh nào của các bài đọc Thánh Kinh, hoặc một bản văn khác thuộc phần Thường Lễ hay phần Riêng của Thánh Lễ ngày đó, đồng thời lưu ý đến mầu nhiệm được kính nhớ, hay nhu cầu riêng biệt của thính giả".

Như vậy, bài giảng lễ phải "phản chiếu ý nghĩa của các bài đọc và các lời nguyện của việc cử hành phụng vụ dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua; bài giảng lễ dẫn đưa cộng đoàn đến việc cử hành bí tích Thánh Thể nơi đó mọi người hiệp thông với nhau trong chính mầu nhiệm Vượt Qua".

Dễ thấy vài điểm đặc trưng của giảng lễ so với các hình thức giảng thuyết khác: Giảng lễ là một phần không tách biệt của phụng vụ, được thực hiện trong Thánh lễ sau bài Tin mừng và đồng thời bài giảng lễ phải dựa vào chính các Bài đọc Sách thánh trong cử hành phụng vụ đó.

- Tầm quan trọng của giảng lễ:

Như đã nói bài giảng lễ (Homilia) có một vị trí ưu tiên có lẽ vì tầm quan trọng của nó trong đời sống tín hữu. Thật vậy, chúng ta thấy một số điểm nổi bật như sau:

. Bài giảng lễ là một phần của hành động phụng vụ;

. Bài giảng lễ giúp cộng đoàn hiểu biết Lời Chúa rộng rãi hơn và hữu hiệu hơn trong đời sống;

. Bài giảng lễ làm hiện tại hóa sứ điệp Kinh Thánh, giúp tín hữu khám phá ra sự hiện diện và tính hiệu năng của Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày của họ;

. Bài giảng còn giúp cộng đoàn chuẩn bị tuyên xưng đức tin, cầu nguyện và cử hành phụng vụ Thánh Thể, nhờ đó họ hiểu Mầu nhiệm đang được cử hành đồng thời mời gọi họ dấn thân cho sứ mạng của người Kitô hữu.

1.2. Trong cuốn "Chỉ nam giảng lễ", Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích cũng đã làm rõ thêm vấn đề ý nghĩa của việc giảng lễ, như sau: [7]

"Bài giảng lễ không phải là bài thuyết giảng về một chủ đề trừu tượng: Nói cách khác, đối với vị giảng lễ, Thánh lễ không phải là dịp để trình bầy những điều hoàn toàn xa lạ với cử hành Phụng vụ và các bài đọc, hoặc không tôn trọng các bản văn do Giáo Hội ấn định, qua việc uốn nắn chúng sao cho hợp với định kiến có trước.

"Bài giảng lễ cũng không phải là một bài tập về chú giải Kinh Thánh. Dân Chúa hết sức mong muốn đào sâu Kinh Thánh, và các mục từ phải đưa ra những cơ hội và sáng kiến có thể giúp các tín hữu đào sâu sự hiểu biết Lời Chúa. Tuy nhiên, bài giảng lễ Chúa Nhật không phải là dịp để giới thiệu một bài chú giải chi tiết các bản văn Kinh Thánh: đây không phải là lúc thích hợp để làm tốt việc đó, và điều quan trọng đối với vị giảng lễ là minh chứng rằng Lời Thiên Chúa đang được ứng nghiệm ở đây và bây giờ.

"Bài giảng lễ cũng không phải là một bài dạy giáo lý, cho dù huấn giáo là một chiều kích có tầm quan trọng của bài giảng lễ. Như đối với việc chú giải Kinh Thánh, đây không phải là lúc để trình bầy bài giáo huấn cách phù hợp.. Ta sẽ làm biến thể bài giảng khi trình bầy trong thánh lễ những điều không thật sự gắn kết với chính việc cử hành Phụng vụ.

"Cuối cùng, bài giảng lễ cũng không được xem như thời gian dành cho vị giảng lễ chia sẻ chứng tá cá nhân. Quả thật, nhiều người có thể đánh động sâu xa bởi các chứng tá, nhưng bài giảng lễ phải diễn tả đức tin của Giáo Hội, chứ không phải chỉ là câu chuyện riêng tư của vị giảng lễ. Như Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô nhắc nhở, việc giảng thuyết mà chỉ nhắm dạy đạo đức hay có tính giáo điều, hay trở thành một bài chú giải Kinh Thánh, đều làm giảm sút sự thông giao từ trái tim đến trái tim diễn ra trong bài giảng, sự thông giáo này mang một tính chất gần như bí tích, vì có đức tin là nhờ nghe giảng (x. TH Niềm Vui Tin Mừng, 147)."

Tóm lại, để có thể tóm kết ý nghĩa của việc giảng lễ, ĐGM Phê-rô Nguyễn Khảm trong cuốn "Giảng thuyết - Hồng ân và Trách nhiệm" đã viết như sau: "Không dễ để có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về homilia. Tuy nhiên, dựa vào những gì đã khai triển, có thể đề nghị một định nghĩa tạm thời nhằm hướng dẫn như sau: Homilia là bài giảng gắn liền với Phụng Vụ nhằm công bố mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa trong Thánh Kinh. Homilia gọi mời và giúp người nghe đến với đức tin, tham dự cách sâu xa hơn vào cử hành Thánh Thể, và sống đời môn đệ Chúa Ki-tô cách mạnh mẽ hơn trong Giáo hội". [8]

II.- BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA LINH MỤC TRONG NHIỆM VỤ HƯỚNG DẪN ĐỨC TIN CỦA CỘNG ĐOÀN QUA VIỆC GIẢNG LỄ

Trong phần mở đầu của chương 8 nói về chân dung người rao giảng Lời Chúa, ĐGM Phê-rô Nguyễn Khảm, trong sách đã dẫn trên, đã đưa ra mấy hình ảnh về chân dung linh mục với tư cách là người giảng Lời Chúa, như sau:

"...Đã có nhiều hình ảnh để diễn tả chân dung linh mục như người rao giảng Lời Chúa. Mỗi hình ảnh nói lên một khía cạnh trong sứ mạng rao giảng Lời Chúa của linh mục, đồng thời khắc họa những đòi hỏi của sứ mạng đó. Thiết nghĩ khai triển những hình ảnh này vừa là cơ hội chiêm ngắm chân dung người rao giảng, lại vừa là dịp để soi bóng chính mình trong trách nhiệm rao giảng Lời Chúa. Theo đó, những hình ảnh sau đây sẽ được vận dụng để phần nào khắc họa chân dung người rao giảng Lời Chúa: (1) Phát ngôn viên; (2) Giáo viên; (3) Thông dịch viên; (4) Chứng nhân; (5) Ngôn sứ." [9]

Riêng trong phạm vi bài chia sẻ ngắn này, người viết mạn phép trình bầy vấn đề này theo chiều kích mục vụ, xét linh mục như là người hướng dẫn đời sống tâm linh và đức tin của cộng đoàn, để bàn về vai trò, nhiệm vụ của của các ngài trong nhiệm vụ người giảng lễ.

Khi nói về linh mục, người ta đã dùng nhiều khái niệm để diễn tả chân dung của ngài, chẳng hạn: Vị mục tử, người cha tinh thần, nhà truyền giáo, thầy cả, nhà giảng thuyết, nhà giáo dục, hướng đạo viên, vị linh hướng, đấng làm thầy, vị chủ chăn, Đức Ki-tô khác (Alter Christus) vv. Riêng với tư cách linh-mục-nhà-giảng-thuyết, chúng ta thấy nổi bật nơi ngài ba vai trò quan trọng. Đó là vai trò: Nhà lãnh đạo – Nhà giáo dục – Nhà tư vấn.

2.1. Linh mục: nhà lãnh đạo

Vị linh mục khi lãnh đạo cộng đoàn cũng như khi giảng dạy, luôn có một sức hút và vị thế đặc biệt. Ngoài sức mạnh thiêng liêng do Chúa ban, ngài còn có những ưu thế của một nhà lãnh đạo. Giáo dân vẫn thường nói với nhau: "Cha bảo, cha nói, cha giảng, cha dạy, cha khuyên răn...'.

Chính vì vậy, linh mục Thomas V. Liske, giáo sư hùng biện, đã chứng minh các mặt thuận lợi của linh mục khi ngài đứng trên bục giảng, như sau:

- Cử tạo đầy lòng kính trọng;

- Mọi người đều chú ý lắng nghe;

- Linh mục thường hiểu biết hơn nhiều giáo dân về các vấn đề, nhất là về Thần học...;

- Ngài nắm được chân lý nên tự tin và không lúng túng;

- Thế đứng của linh mục khi giảng đầy thuận lợi, dù đứng trên tòa giảng hay tại bàn thờ đi nữa thì ngài vẫn ở trong tư thế điều khiển. Ngài đứng đúng trong tầm nhìn của giáo dân. Họ luôn phải nhìn lên, còn ngài thì đập ngay vào mắt họ. [10]

Với tư cách người đứng đầu cộng đoàn, những ưu thế trên của ngài nếu được tận dụng, khai thác tối đa thì nhà lãnh đạo tinh thần sẽ có đủ sức mạnh và sự thuận lợi đặc biệt để hoàn thành vai trò, nhiệm vụ quan trọng của mình. Tuy nhiên, dù có nhiều ưu thế như vậy, nhưng linh mục giảng lễ không thể không quan tâm đến cử tọa, tức là những người đang ngồi nghe thuộc cộng đoàn của mình xem họ là ai, thuộc những thành phần xã hội nào, hoàn cảnh sống ra sao, có những ưu tư, băn khoăn, thắc mắc gì vv.

Chúng ta biết rằng, "Giảng luôn là giảng cho ai chứ không chỉ nói với bản thân mình; vì thế, cử tọa đóng vai trò tối quan trọng. Đối với những diễn giả ngoài đời, phải thuyết trình cho nhiều cử tọa khác nhau, việc nghiên cứu cử tọa là đòi hỏi không thể bỏ qua. Đối với các linh mục, thông thường linh mục giảng tại nhà thờ giáo xứ của mình. Đây là điều thuận lợi của linh mục, vì có thể nắm bắt cử tọa quen thuộc. Tuy nhiên, hàm trong thuận lợi, lại có thể bất lợi, vì linh mục dễ nghĩ rằng mình hiểu rõ cử tọa, đang khi vẫn có những khác biệt ta không nghĩ đến. Vì thế, vẫn cần quan tâm nghiên cứu nghiên cứu về cử tọa của mình..." [11]

2.2. Linh mục: nhà giáo dục

Với cương vị là người có nhiệm vụ giảng dạy tín hữu, linh mục đích thực là một nhà giáo dục. Công tác giáo dục, đào tạo nhất là qua truyền thông, bao giờ cũng nhắm đến mục đích tăng cường sự hiểu biết đồng thời làm thay đổi thái độ, hành vi của đối tượng được hướng dẫn.

Qua việc giảng dạy nói chung và giảng lễ nói riêng, linh mục phải nói, phải chỉ đàng dẫn lối, phải diễn giải trình bày, phải khai mở tín hữu từ chỗ không hiểu biết đến chỗ hiểu biết, từ chỗ hiểu biết đến chỗ nhận ra mình phải thay đổi như thế nào và phải làm gì để từng bước trưởng thành trong đức tin và lòng mến.

Bên cạnh đó, ngoài việc truyền thông kiến thức về Chúa hay kinh nghiệm sống đức tin của mình, linh mục – nhà giáo dục – còn có thể nói bằng gương sống của mình nữa. Khi xuất hiện trên giảng đài hay giữa đám đông, vị mục-tử-nhà-giáo-dục cũng là tấm gương phản chiếu tất cả những gì ngài nói, ngài dạy, ngài mời gọi. Điều này rất đúng với Lời Chúa: "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời." (Mt 5, 14-16)

Giảng dạy bằng lời nói cần nhưng chưa đủ. Vai trò rao giảng của linh mục không chỉ gói gọn trong bài giảng thuyết hay giảng lễ, mà còn phải lan tỏa qua đời sống chứng tá của chính những thầy dạy. ĐTC Phao-lô VI đã từng nói: "Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là những chứng nhân".

Là một nhà giáo dục, linh mục phải lấy tình thương và sự đồng cảm để cư xử với những người được Chúa trao phó cho mình hướng dẫn, dạy dỗ, chỉ bảo. Các ngài phải biết lắng nghe dân chúng. ĐTC Phan-xi-cô trong Tông huấn "Niềm Vui của Tin Mừng" số 154 đã nhắc nhở như sau:

"Người giảng thuyết cũng cần để tai nghe dân và tìm xem các tín hữu cần nghe những gì. Người giảng thuyết phải nhìn xem thế giới, nhưng cũng phải nhìn xem người dân. Bằng cách này họ học biết được về 'những ước vọng, những nguồn lực và những giới hạn, những cách cầu nguyện, yêu thương, quan niệm về cuộc đời và thế giới, là những cái tạo sự khác biệt giữa một cuộc gặp gỡ này với một cuộc gặp gỡ khác,' trong khi chú ý 'tới những con người cụ thể, sử dụng ngôn ngữ của họ, các ký hiệu và biểu tượng của họ, trả lời các câu hỏi họ đặt ra'.

"Họ phải có khả năng liên kết sứ điệp của bản văn Kinh Thánh với một tình huống nhân loại, với một kinh nghiệm kêu gào ánh sáng của lời Chúa. Sự quan tâm này không có chút gì là mánh lới hay tính toán; nó mang tính chất tôn giáo và mục vụ sâu xa. Cơ bản nó là một 'sự nhậy cảm thiêng liêng đối với việc đọc sứ điệp của Thiên Chúa qua các biến cố', và đây là điều có giá trị hơn là chỉ tìm xem có cái gì hay để nói. Cái chúng ta tìm là 'Chúa muốn nói gì trong hoàn cảnh cụ thể này hay hoàn cảnh cụ thể kia'. Thế nên chuẩn bị giảng trở thành một việc luyện tập phán đoán theo Tin Mừng, ở đó chúng ta nhận ra—trong ánh sáng của Thần Khí—'một tiếng gọi mà Thiên Chúa cho dội lên trong chính hoàn cảnh lịch sử. Trong hoàn cảnh này, và cũng qua hoàn cảnh này, Thiên Chúa kêu gọi người có lòng tin.' " [12]

2.3. Linh mục: nhà tư vấn

Ngay từ trang đầu cuốn "Thành công trên tòa giảng", tác giả Thomas V. Liske đã viết như sau: "Ngài (tức LM) có thể giải đáp những vấn nạn và bí nhiệm của cuộc sống. Do đó, ngài phải nắm được sự tinh túy nghề nghiệp qua việc truyền đạt chân lý một cách hiệu nghiệm mỗi khi phát biểu..." [13]

Quả vậy, đối với tín hữu, các mục tử cũng có vai trò như một nhà tư vấn đáng tin cậy nữa. Tư vấn, hay tham vấn, hay cố vấn, là cho biết ý kiến về những vấn đề đang thắc mắc hay được hỏi đến. Tất nhiên, trong tư vấn, người được hỏi không cho lời giải đáp chính xác, cụ thể nhất hoặc đưa ra những quyết định dùm cho người khác. Nhưng ít ra, người ấy cũng là một chỗ nương tựa cần thiết để người ta có thể tâm sự, chia sẻ, thổ lộ tâm tình. Nhờ được động viên khích lệ, được lắng nghe, được hiểu và đồng cảm, tín hữu sẽ yên tâm, tin tưởng để tự tin bước đi trong cuộc hành trình Ki-tô hữu của mình.

Qua bài giảng, linh mục sẽ có nhiều cơ hội thực hiện vai trò tư vấn của mình một cách hiệu quả. Dù nội dung giảng là gì đi nữa, cuối cùng thì cũng hàm chứa một lời khuyên nhủ, một lời khích lệ, một lời đề nghị... Do lòng tin tưởng và trân trọng vị giảng dạy của mình, người tín hữu sẽ dễ dàng nghe theo và chấp nhận đề nghị của ngài.

Trái với cung cách dịu dàng, tế nhị, bao dung, thấu cảm của một nhà tư vấn, trên thực tế, nhiều vị giảng lễ tỏ ra gắt gỏng, nóng nảy, không thiện cảm với những người đang nhiệt tình chăm chú nghe mình giảng dạy, khuyên lơn.

Thực vậy, "Một thực trạng đáng báo động là có vị giảng lễ dùng tòa giảng như 'tòa án', tức là dùng để lên án, kết án, bài bác, phê bình, chỉ trích ai đó, hoặc có khi trút cơn giận của mình bằng những từ ngữ khó nghe, không xứng hợp với người có chức thánh. Điều này gây tổn thương rất lớn không chỉ đối với người bị 'kết án' (họ không thể biện hộ!) mà còn cho cộng đoàn nữa.

"Cũng có trường hợp bài giảng toàn nhiều câu chuyện hay sự việc có tính tiêu cực gợi lên sự sợ hãi, lo âu, buồn bực hay tức giận. Bài giảng cần ưu tiên nêu những gương sáng lành thánh gợi lên niềm vui, bình an và sự hăng say dấn thân. Bài giảng phải làm sao đem đến cho người nghe một sự thôi thúc thực hiện những việc tốt tích cực thay vì chỉ thụ động tìm cách tránh những việc xấu mà thôi. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc rằng, trong bài giảng 'bất luận thế nào... cũng phải cố gắng vạch ra một giá trị tích cực và hấp dẫn, nếu không nó sẽ bị mắc kẹt giữa những lời phàn nàn, than vãn, phê bình và trách móc. Giảng tích cực luôn luôn cống hiến hi vọng, vạch ra tương lai, không để chúng ta mắc kẹt trong tiêu cực'." [14]

Trong vai trò tư vấn của mình, linh mục phải nói và nói nhiều vì nhu cầu mục vụ và phục vụ đòi buộc. Điều này, tác giả Thomas V. Liske đã nói rất chí lý như sau: "Ngài không chỉ thuyết phục dân chúng về chân lý trong lời giảng dạy của Đức Ki-tô để họ sống theo giáo thuyết ấy, mà còn phải hướng dẫn các linh hồn cải biến dần theo ân sủng của Chân lý thiêng liêng bằng lời giảng huấn sáng sủa của mình nữa. Ngài phải dạy dỗ trẻ em trong các lớp học, phải nói năng vắn gọn và hữu hiệu để thuyết phục các tội nhân trong tòa giải tội thay đổi đời sống, phải cống hiến những lời khuyên bảo sáng suốt cho những người chạy đến vấn kế với mình, phải giảng dạy cho các hội đoàn, ngài phải nói hầu như suốt cả đời linh mục của mình!..." [15]

III.- TÍN HỮU MONG ĐỢI GÌ NƠI BÀI GIẢNG LỄ CỦA LINH MỤC

Vừa qua trên trang Facebook của mình, một linh mục, hiện đang là giáo sư Đại Chủng viện, đã có bài viết ngắn tựa "Bảy nguyên tắc cần nhớ khi giảng Lời Chúa". Ngay trong phần mở đầu, ngài đã viết như sau:

"Là một linh mục, có bao giờ chúng ta được nghe sự phàn nàn ta thán của giáo dân về bài giảng của mình không?

"Có bao giờ chúng ta hiểu cảnh hàng trăm người thuộc mọi địa vị xã hội, ngồi đó để cho một người trên bục cao với micro trên tay tuôn ra những lời xỉ vả, đay nghiến hoặc lời thâm ý độc thay vì Lời của Tin Vui, lời của Sự Sống không?

"Đã bao giờ chúng ta là nạn nhân của một buổi giảng lễ vừa dai, vừa dài, vừa dở, lại thêm âm điệu đều đều buồn tẻ, với những câu văn sáo rỗng chưa?

"Có khi nào ta rơi vào cảnh bị ngồi nghe và nghĩ rằng ông cha này không chuẩn bị bài giảng? Ông cha này chộp được bài trên internet vv... Và có bao giờ chúng ta muốn hét lên bởi ta đến nhà thờ để nghe Lời Chúa chứ không muốn nghe "ba hoa chích chòe" chưa? Có bao giờ chúng ta cảm được sự khó chịu của giáo dân đến mức họ tự hỏi không biết họ có thể chịu đựng đến cuối thánh lễ không? ... [16]

Có lẽ những lời chia sẻ thực tình trên cũng đã phản ánh khá trung thực tâm trạng của phần đông giáo dân khi tham dự thánh lễ và có cơ hội được nghe những bài giảng lễ kém chất lượng, khiến họ phải trăn trở, băn khoăn rất nhiều. Bởi vì đại đa số giáo dân khi đến tham dự Thánh lễ đều chú tâm về bài giảng của linh mục. Một Thánh lễ mà không có bài giảng thì như một bữa ăn ngon nhưng còn thiếu một món gì đó! Và như những thực khách "sành điệu", người giáo dân ngày nay luôn kỳ vọng các vị linh mục, các vị giảng lễ sẽ cung cấp cho họ những món ngon, mới, lạ, thích hợp...

Tuy nhiên, trên thực tế không phải bất kỳ linh mục hay vị giảng lễ nào cũng ban tặng cho cộng đoàn những món ăn ngon mà họ luôn mong đợi. Thỉnh thoảng chúng ta có dịp nghe người này người kia nhận xét, chẳng hạn: "Cha giảng dài quá, nghe mệt và chẳng hiểu cha muốn nói gì...", hoặc "Bài giảng rườm rà mà cha thì nói nhỏ, nhanh, khó nghe lại khó hiểu, chẳng nhớ được gì...", hoặc "Cha giảng như đọc, nghe buồn ngủ quá, chẳng sinh động gì cả, chán!" vv...

Đây là một thực tế rõ ràng, cụ thể. Và còn hơn thế nữa, như một vị giám mục đã chia sẻ: "...Bài giảng lễ thì lòng thòng và chủ yếu là mắng mỏ, hăm dọa, khiển trách, thậm chí bôi bác giáo dân giữa nhà thờ. Bài giảng không dọn nói mãi không kết được khiến cha giống như máy bay không tìm được phi trường. Người nói thường không cảm thấy dài nhưng đối với người nghe là cả một sự chịu đựng. Nhất là nếu chúng ta không có lợi khẩu, chúng ta làm khổ giáo dân, biến họ thành nạn nhân hơn là nâng tâm hồn họ lên. Diễn đàn Lời Chúa là diễn đàn tình thương nhưng rất nhiều cha lợi dụng để trút hết căm hờn lên đầu giáo dân. Không gì mâu thuẫn bằng linh mục lại là thủ phạm gây chia rẽ trong giáo xứ bằng chính lời nói của chủ chăn. Chúng ta tìm cách trừng trị triệt hạ những người đối lập. Không làm được thì chúng ta đem ra giữa nhà thờ để bêu diếu bôi bác". [17]

Quả vậy, nếu giáo dân không hài lòng về bài giảng của linh mục, thì đó không phải là họ không muốn nghe giảng trong Thánh lễ, mà vì họ cảm thấy việc giảng ấy không đem lại hứng thú và lợi ích gì. Cảm giác không-hứng-thú sẽ dẫn đến việc buồn ngủ, lơ là, lo ra...và nhất là cảm giác bị-tra-tấn bởi phải nghe một diễn giả nói dài, nói dai và...nói dở! Tội nghiệp cho cử tọa khi phải rơi vào tình huống "khó chịu" như thế.

Để có tiếng nói góp ý cho bài giảng của linh mục, sau đây xin mạn phép đưa ra mấy đề nghị sau:

3.1. Về thời lượng của bài giảng

Đa số giáo dân rất sợ bài giảng dài, nhất là đó lại là "bài giảng 3 D" (dài – dai – dở!). Khi phải nghe "bài giảng 3 D" thì ai cũng ngao ngán, buồn ngủ, chỉ muốn giảng viên kết thúc càng sớm càng tốt. Thực ra, bài giảng dài ngắn cũng tùy đối tượng nghe và tùy hoàn cảnh, nhưng theo các nhà chuyên môn về giảng lễ thì nên giới hạn từ 10 đến 12 phút.

Về vấn đề này, ĐTC Phan-xi-cô đã dạy như sau: "Bài giảng không thể mang một hình thức giải trí giống như những bài giảng trên các phương tiện đại chúng, nhưng bài giảng phải ban sức sống và ý nghĩa cho cuộc cử hành. Nó là một thể loại đặc trưng, vì việc giảng dạy được đặt trong khung cảnh một cuộc cử hành phụng vụ; thế nên bài giảng phải ngắn và tránh mang dáng dấp của một bài diễn văn hay thuyết trình. Một giảng viên có thể thu hút sự chú ý của người nghe trong suốt một giờ đồng hồ, nhưng lúc ấy các lời giảng của họ trở thành quan trọng hơn việc cử hành đức tin. Nếu bài giảng quá dài, nó sẽ ảnh hưởng tới hai yếu tố đặc trưng của cử hành phụng vụ: sự cân bằng và nhịp độ" (số 137). [18]

Đây cũng là một yêu cầu liên quan việc tôn trọng thời gian giảng và tập trung đề tài trình bày. "Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum nói rằng: Giáo Hội khuyên làm bài giảng ngắn, vào ngày Chúa Nhật đừng bao giờ giảng tới 20 phút hoặc lâu hơn nữa, nhưng cũng đừng dưới 6 (sáu) phút. Như vậy, thời lượng bài giảng cho các Chúa Nhật thông thường nên khoảng 8-10 phút hay hơn một chút. Vì thời lượng ngắn, nên hãy hết sức tập trung vào trọng tâm bài giảng. Người nghe sẽ cảm thấy thú vị và nhẹ nhõm khi nghe một linh mục giảng thuyết cách tự tin, mạch lạc về một đề tài, bằng không họ sẽ rất tức bực, cảm thấy nặng nề khi phải nghe một bài giảng với những từ ngữ dao to búa lớn nhưng vô hồn. Một bài giảng ngắn gọn, cô đọng, với một vài điểm nhấn gây xúc động bằng các câu chuyện đời thường sẽ luôn có tác động tốt. Một bài giảng hay nhưng dài quá và khi trời nóng bức sẽ dần dần trở thành thảm họa, trừ khi đó là dịp rất đặc biệt, và người nghe đã được chuẩn bị tinh thần." [19]

2.2. Về cấu trúc bài giảng

Một vị giám mục quan tâm nhiều tới việc giảng thuyết đã chia sẻ kinh nghiệm như sau: "Một bài giảng được dàn dựng cách khoa học với các tư tưởng đã được chọn lựa về Thiên Chúa và về con người sẽ làm cho người nghe cảm thấy dễ chịu bởi vì thính giả thấy mình được kính trọng do được phục vụ bởi những tư tưởng có chất lượng và cách sắp xếp có khoa học". [20]

Một bài giảng được soạn thảo một cách cẩn thận sẽ không bỏ qua việc dàn dựng thiết kế bố cục sao cho ăn khớp với chủ đề và thời lượng cần có. Cử tọa sẽ được dẫn dắt từng bước vào lộ trình của bài giảng thông qua lời dẫn nhập, rối đến phần triển khai đề tài, sau cùng là kết thúc bằng việc nhắc lại ý chính, chủ điểm của bài giảng.

Trên thực tế có nhiều vị giảng lễ, vì không đầu tư nhiều cho bài giảng nên bắt đầu giảng là bắt đầu đi lòng vòng, kể hết chuyện này đến chuyện kia, trong khi cử tọa kiên nhẫn chờ đợi xem ngài sẽ nói gì, vấn đề gì là trọng tâm, điều gì là quan trọng trong sứ điệp của bài giảng. Cuối cùng, vị giảng thuyết đã đi trật đường rầy lúc nào không biết, vì một bài giảng không mở, không dẫn, không triển khai và không kết thúc.

Quả thực, khi nghe giảng, giáo dân mong đợi một bài giảng có chủ đích, có chủ điểm. Họ muốn diễn giả luôn xoáy vào trọng tâm vấn đề để họ có thể nắm bắt được ý hướng Phụng vụ của Thánh lễ đang tham dự. Nếu khi soạn bài giảng, linh mục biết mình sẽ nói gì, nói như thế nào, thì giáo dân khi nghe giảng cũng muốn rằng họ đang được nuôi dưỡng bằng lương thực nào, chất lượng ra sao. Nhiều diễn giả thích nói lời mình hơn Lời Chúa, trong khi giáo dân rất đói khát Lời Chúa.

Trong bài viết tựa "Mười sai lầm không nên phạm khi giảng lễ", tác giả lưu ý về hai vấn đề cơ bản, đó là:

"Thiếu chủ đề trọng tâm: Sự thiếu chuẩn bị này thường kéo theo việc bài giảng không có chủ đề trọng tâm, mà khổ thay, đây cũng là vấn đề lớn xảy ra ngay cho cả bài giảng đã được chuẩn bị. Một trong các vấn đề thường gặp nơi người đi giảng là trước khi giảng, họ không ngồi xuống tịnh tâm tự hỏi: 'Trong vài chữ, đâu là chủ đề tôi sẽ nói với tín hữu vào Chúa nhật sắp tới?'. Nếu người giảng không có một ý chính nào trong đầu, thì chắc chắn sau bài giảng, người nghe cũng không biết người giảng muốn nói gì.

"Bài giảng quá dài: Một sai lầm thường gặp trong các bài giảng thiếu chuẩn bị là quá dài, thậm chí có thể nói là "dài quá đáng", các bài giảng được chuẩn bị ít dài hơn nhưng nhiều khi cũng dài. Trong thời gian tập sinh, các chủng sinh Dòng Tên được dạy: 'Ngày Chúa nhật không dài quá 10 phút, trong tuần không dài quá 5 phút'. Người ta còn nói: "Năm phút đầu tiên, chúng ta lay động tâm hồn, thời gian còn lại thì những người ngồi sau lúc lắc!. Người ta còn ví von: 'Bài giảng phải như chiếc váy ngắn: đủ dài để che cái cần phải che, nhưng khá ngắn để tạo hấp dẫn'. [21]

Thiết nghĩ một bài giảng được dàn dựng một cách khoa học, được thiết kế với cấu trúc rõ ràng, thì sẽ tránh được sự nhàm chán, thất vọng nơi người nghe. Vì quả thực, giáo dân muốn linh mục khi giảng nên đi thẳng vào trọng tâm bài giảng và chỉ nói những gì cần phải nói mà thôi. Lạc đề là điều mà cử tọa dễ nhận ra. Nguyên tắc mong đợi, đó là "Diễn giả phải làm chủ đề tài của mình" (Albert J. Beveridge).

2.3. Về ý hướng bài giảng

Khi xưa, thánh Phê-rô cũng đã dạy: "Ai giảng, hãy giảng Lời Thiên Chúa" (1Pr 4,11). Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều vị giảng thuyết lại mê man nói lời mình hơn là chia sẻ Lời Chúa. Có nhiều bài giảng chỉ toàn kể những tin tức giật gân, kể những câu chuyện riêng tư vụn vặt, nhất là lại đi sâu vào những câu chuyện tiếu lâm, hài hước không ăn nhập gì tới sứ điệp Lời Chúa cần truyền đạt. Giáo dân không quan tâm những chuyện bên lề bên ngoài đó. Họ đến nhà thờ, tham dự thánh lễ, nghe giảng là để được biến đổi nhờ ơn Chúa Thánh Thần và nhờ tác động của Lời Chúa.

ĐTC Phan-xi-cô trong Tông huấn "Niềm Vui của Tin Mừng" cũng đã nhắc nhở các mục tử, như sau:

"Ai muốn giảng thì trước tiên phải để cho lời Thiên Chúa lay động mình một cách sâu xa và thấm nhập vào trong đời sống hằng ngày của mình. Như vậy, giảng chủ yếu là ở hoạt động quá sâu xa và hiệu quả ấy, đó là "thông truyền cho người khác điều mình đã chiêm ngắm". Vì tất cả các lý do trên, trước khi sửa soạn những gì mình sẽ thực sự nói ra khi giảng, chúng ta cần để cho lời thâm nhập chúng ta, cũng là lời sẽ thâm nhập người khác, vì đó là một lời sinh động và sắc bén, như thanh gươm "xuyên thấu chỗ phân cách tâm linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người" (Dt 4:12). Đây là điều rất quan trọng trong hoạt động mục vụ. Ngày nay cũng vậy, người ta thích nghe những chứng nhân hơn: họ "khát sự chân thực" và "đòi có những người rao giảng Tin Mừng nói cho họ về một vị Thiên Chúa mà mình biết và thân quen, như thể đang nhìn thấy Người". (số 150)

ĐTC nói thêm, "Người giảng có nhiệm vụ tuyệt vời nhưng khó khăn là kết nối những trái tim yêu thương, trái tim của Chúa và của dân Người. Đối thoại giữa Thiên Chúa với dân của Người kiện cường giao ước giữa họ và củng cố tình bác ái. Trong bài giảng, lòng các tín hữu giữ thinh lặng để nghe Chúa nói. Chúa và dân Người trực tiếp nói chuyện với nhau bằng vô vàn cách thức mà không cần đến trung gian. Nhưng trong bài giảng, họ muốn có người làm trung gian và bày tỏ tình cảm của mình sao cho sau bài giảng, mỗi người có thể quyết định mình sẽ tiếp nối cuộc đối thoại theo cách nào mình thích". (số 143) [22]

2.4. Về cách thức giảng

Nhiều vị giảng lễ khi vừa bước lên giảng đài, vội lật cuốn sổ tay ra và bắt đầu thao thao bất tuyệt, như một máy ghi âm, cho đến khi kết thúc một cách đột ngột, nhạt nhẽo, không một lời chào chấm dứt bài giảng cùng với lời nhắn nhủ nào đó mà cử tọa đang mong đợi.

Về điều này, tác giả Thomas V. Liske, linh mục - giáo sư hùng biện, đã viết như sau: "...Có nhiều vị đọc thuộc lòng trên tòa giảng. Nếu vô tư quan sát, ta sẽ thấy tình trạng ấy thật kỳ cục: diễn giả đọc bài do mình soạn hay người khác viết hay bài mình tóm tắt, trong khi cộng đoàn bị giọng đọc buồn tẻ ấy ru ngủ, chán chường trước cảnh thiếu vắng quen thuộc với sự tiếp cận tươi mát những chân lý của cuộc sống và tôn giáo...nên chỉ còn biết nhẫn nại chịu đựng, lơ đãng nhìn các hình ảnh trên tường hoặc trên bàn thờ để chờ đợi, chờ đợi cái kết thúc ảm đạm. Trên tòa giảng cũng như dưới hàng ghế đều một cảnh nhẫn nại chịu đựng để rồi cùng thở ra nhẹ nhõm khi kết thúc." [23]

Một bài giảng tốt, ngoài nội dung hàm chứa trong đó, cũng cần được người giảng vận dụng những cách thức cần thiết để truyền đạt sao cho người nghe được thấm vào tận bên trong tâm hồn mình. Những cách thức đó, nói cách chuyên môn, đó là những kỹ năng truyền thông. Giảng cũng thuộc về một dạng truyền thông đại chúng. Vì thế vị giảng lễ không thể không quan tâm tới những yếu tố có tầm ảnh hưởng khá lớn tới việc truyền đạt thông điệp. Như cử điệu, giọng nói, ánh mắt, nụ cười, ngôn ngữ cơ thể, sự tương tác giữa người nói và cử tọa vv. ĐTC Phan-xi-cô thì cho đó là sự gần gũi của giảng viên, sự ấm áp của âm giọng, sự đơn sơ không phô trương trong cách nói, và sự vui vẻ trong các điệu bộ của giảng viên (TH. NVTM số 140).

Quả thực, việc giảng thuyết của linh mục trên tòa giảng đích thực là một "nghề" nói trước công chúng, nó đòi hỏi diễn giả phải có bản lãnh nghiệp vụ, thật tự tin, bình tĩnh và nhạy bén. Nếu không, việc truyền thông trên tòa giảng sẽ gặp trở ngại không nhỏ. Linh mục giáo sư hùng biện Thomas V. Liske đã khẳng định: "Không có nghề nào phải nói nhiều hơn nghề linh mục. Ta có thể nói không ngoa chút nào rằng linh mục sống để nói. Bên cạnh ảnh hưởng mạnh mẽ của gương sống và kinh nghiệm, lời giảng thuyết của linh mục là sức mạnh, hay phương thế chủ yếu giúp cho sứ vụ của ngài được thành công." [24]

Aug. Trần Cao Khải

-----------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THỨ TƯ 13-1-2021 PDF Print E-mail

Suy Niệm Thứ Tư Tuần I Thường Niên B - GKGĐ Giáo Phận Phú Cường

Tin Mừng theo Thánh Mac-cô (Mc 1: 29-39):HÃY ĐI RAO GIÀNG TIN MỪNG KHẮP NƠI

29 Vừa ra khỏi hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Có ông Gia-cô-bê và ông Gio-an cùng đi theo.30 Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Người biết tình trạng của bà.31 Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.32 Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người.33 Cả thành xúm lại trước cửa.34 Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.35 Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó.36 Ông Si-môn và các bạn kéo nhau đi tìm.37 Khi gặp Người, các ông thưa: "Mọi người đang tìm Thầy đấy! "38 Người bảo các ông: "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó."39 Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ.

SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

"Người chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật". Chữa lành mọi bệnh tật thể lý của nhiều người là một trong những hoạt động rất thường ngày của Chúa Giêsu mà Tin Mừng hôm nay thuật lại nhằm cho mọi người chúng ta hiểu được lòng xót thương vô bờ bến của Chúa.

Quả thế, từ việc chữa lành người mù từ khi mới sinh tại Giêrikhô, hay chữa lành bệnh bại liệt của một người đàn ông mà người ta phải thả xuống nóc nhà, hoặc chữa lành bệnh cảm sốt của bà nhạc gia ông Phêrô... là những hoạt động không chỉ biểu lộ uy quyền của một Đức Chúa, nhưng còn là một biểu lộ của lòng xót thương nơi một Thiên Chúa hạ cố làm người, "để cho con người được sống và sống dồi dào". Chính những nghĩa cử đầy xót thương ấy của Chúa đã lôi kéo biết bao con người đi tìm Chúa như Tin Mừng hôm nay mô tả "Mọi người đều đi tìm Thầy". Để được chữa lành, một điều duy nhất Chúa cần nơi người bệnh là lòng tin: Tin vào Chúa là Đấng Cứu Độ.

Hôm nay cũng thế, biết bao người chúng ta vẫn khao khát được Chúa chữa lành khi họ mắc những chứng bệnh nan y mà các bác sỹ bất lực. Người ta đã chạy đến với Chúa qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria, của các thánh, tại các trung tâm Thánh Mẫu hay đền thánh kính các thánh. Họ đã không quảng ngại đường xa, khó khăn và gian khổ để chạy đến kêu xin Chúa trong niềm tín thác. Họ đến với Chúa không chỉ khát khao được Chúa chữa lành bệnh tật thể xác, nhưng còn khát khao xin Chúa chữa lành bệnh tật trong tâm hồn. Với lòng khát khao và tin tưởng mạnh mẽ, biết bao người đã được ơn Chúa chữa lành.

Lạy Chúa Giêsu, bệnh tật thể xác là một trở ngại lớn để ngăn cản mọi hoạt động, mọi tương quan của con với Chúa và với người khác. Đáng sợ hơn là thứ bệnh tật tinh thần là tội lỗi. Nó phá huỷ phẩm giá của chính con là người con của Chúa. Xin Chúa ban ơn chữa lành mọi đau khổ xác hồn, đển con được sống và làm chứng cho tình yêu Chúa nơi anh chị em con. Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường
Kính chuyển:
Hồng

--------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - DỨC KHIÊM NHƯỜNG PDF Print E-mail

nguyenthi leyen chuyễn
Sat, Jan 9 at 12:38 AM

Đức Khiêm Nhường

1. Bản chất của Đức Khiêm Nhường

Khiêm nhường là nhân đức giúp ta chấp nhận sự thật về chính mình và sống đúng với thân phận thụ tạo. Điều rất căn bản mà những người khiêm nhường xác tín: "tất cả những gì mình có hoặc hay hơn người khác, là ơn Chúa ban, chứ tự mình thì chẳng có gì và còn kém hơn những người khác, để biết cảm tạ và tin cậy nơi Chúa".

Khiêm nhường là chấp nhận mình như "mình là". Chấp nhận điều tốt mình có, để tạ ơn Chúa; chấp nhận điều xấu như mình là, để phấn đấu khắc phục, không buồn phiền, không dằn vặt, không oán trách hay ca thán con người hay Thiên Chúa. Nếu mình có gì hay, và có thể hay hơn người khác, hãy nhận thực rằng, nhờ ơn Chúa mà mình có được điều đó. Nếu nhờ ơn Chúa mà mình có được như vậy, thì đâu có gì để vênh vang tự hào!

Giỏi không kiêu, kém không thất vọng! Đó là thái độ của người khiêm nhường. Nhận thấy mình giỏi, hoặc được người khác khen mình, hãy tạ ơn Chúa. Trong trường hợp này, Chúa được tôn vinh. Con người nhận ra hồng ân Thiên Chúa ban cho mình.

Khiêm nhường là khiêm tốn, khiêm hạ, nhún nhường, trái ngược với ngạo mạn, kiêu ngạo, kiêu căng, tự mãn. Người khiêm nhường không bướng bỉnh, không ương ngạnh, không ích kỷ, sẵn sàng quên mình vì người khác.

Ta rất dễ chê người khác là ngu khi thấy họ kém hơn mình, vì cái mầm mống kiêu ngạo luôn muốn trỗi dậy trong ta. Trong khi ấy, ta không nhận ra ơn Chúa ban cho để cám ơn Ngài và để thông cảm với họ. Có những giáo dân buồn phiền vì bị Cha xứ chửi là ngu, không biết gì. Và có thực như vậy. Cha quên đi rằng mình đã được học, được đào tạo hơn họ. Có nhiều lãnh vực người giáo dân họ giỏi hơn chúng ta khi họ có cơ hội được học hành.

2. Tầm quan trọng của Đức Khiêm Nhường

Đức khiêm nhường rất quan trọng và cần thiết trên đường thánh thiện. Nó như chìa khóa mở được kho tàng ơn thánh Chúa và là phương thế tuyệt hảo để bảo toàn và phát triển các nhân đức.

Trong kinh Cải Tội Bảy Mối Có Bảy Đức thì Đức "Khiêm Nhường" được nhắc tới đầu tiên để đối lại với cái mối tội đầu tiên là "kiêu ngạo". Trong Hai Mươi Mầu Nhiệm Kinh Mân Côi thì ngay nơi Mầu Nhiệm Thứ Nhất (mầu nhiệm thứ nhất Mùa Vui), Giáo hội dạy chúng ta xin cho được ở khiêm nhường.

Chúa hằng rộng lượng ban các ơn lành cho kẻ khiêm nhường kêu xin Người, nhưng lại khước từ lời cầu xin của kẻ kiêu căng, tự phụ. Dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện cho thấy điều này. Người thu thuế khiêm nhường được Chúa tha thứ tội lỗi và trở nên công chính còn người biệt phái thì không.

Người khiêm nhường còn được phúc hiểu biết mầu nhiệm Nước Trời, như lời nguyện của Chúa Giê-su: "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, Con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết khôn ngoan biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mạc khải những điều ấy cho kẻ bé mọn".(Mt 11,25).

Thánh Phê-rô và thánh Gia-cô-bê cùng đã quả quyết: "Chúa chống lại kẻ kiêu căng và ban ơn cho người khiêm nhường" (1Pr 5,5 ; Gac 4,6).

Sống khiêm nhường rất có lợi vì ta có thể học hỏi mọi thứ từ bất kì ai, bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Vua Salomon, một người khôn ngoan và thông thái tuyệt vời đã nói: "Sự kiêu hãnh đi liền với ô nhục, còn khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường" (Cn 1,2). Thông tin không hẳn sẽ thành tri thức, tri thức không hẳn sẽ thành sự khôn ngoan, nhưng chỉ có sự khiêm nhường mới giúp chúng ta đạt tới sự khôn ngoan đích thực.

Khiêm nhường giúp ta biết sống hiền lành, nhu mì. Có thể sự khiêm nhường có phần nào đó liên quan "sự yếu đuối" – vì phải chịu lụy và nhịn nhục. Nhưng thực ra, khiêm nhường lại có sức mạnh kỳ lạ, có thể đem lại sự bình an và an toàn nội tâm: "Lòng tự cao dẫn đến suy sụp, đức khiêm tốn đem lại vinh quang" (Cn 18,12).

Nguyên tổ loài người kiêu căng bất tuân phục đã tiêu diệt công trình yêu thương của Chúa, mất quyền làm con cái Chúa và gây họa cho con cháu. Đức khiêm nhường tuân phục của Chúa Ki-tô đã tái lập công trình đó, phục hồi quyền làm con cái Chúa và mang lại ơn cứu độ cho cả nhân loại. Nếu sự kiêu ngạo là nguyên nhân phá hủy mọi nhân đức thì lòng khiêm nhường lại là phương thế bảo toàn và phát triển các nhân đức.

Thánh Augustin quả quyết: "Không gì cao trọng bằng đức kính mến, nhưng duy chỉ có Đức Khiêm nhường mới duy trì được đức kính mến". Ngài còn nhắn nhủ: Bạn muốn lên cao ư? Bạn hãy bắt đầu bằng sự tự hạ thẳm sâu. Bạn muốn xây cất một tòa nhà chọc trời ư? Bạn hãy thiết lập nó trên nền tảng của Đức Khiêm Nhường. Nhà càng cao, nền móng càng phải đào sâu và vững chắc".
Sự khiêm nhường là cội nguồn của những điều tốt đẹp.

3. Phương thế sống khiêm nhường

Ở đây, con chỉ xin đề cập tới một điều căn bản để thực hành sống khiêm nhường đó là sự từ bỏ: từ bỏ cái tôi ích kỷ, kiêu căng, nóng giận, tự mãn. Xin được chia sẻ việc này qua câu chuyện sau:

Trong một tu viện nọ, luật dòng đòi buộc các tu sĩ hằng ngày phải luyện tập đức khiêm nhường. Sống thoát ly, diệt trừ tự ái, chết cho chính mình để sống cho Chúa Giêsu là lối tu hành của Dòng.

Số là có một tập sinh hằng ngày ước ao luyện tập đức khiêm nhường, nhưng không biết làm thế nào cho phải cách. Thầy đến hỏi một vị linh mục khôn ngoan lão thành trong dòng về cách thức tập luyện đức khiêm nhường. Thầy nài xin cha chỉ giáo cách từ bỏ cái tôi tự ái. Vị linh mục thánh thiện hỏi:

- Này con, con có hứa sẽ tuyệt đối vâng lời cha hay không? Nếu con vâng lời, cha sẽ dạy cho con biết thế nào là từ bỏ chính mình.

Thầy đáp:

- Thưa cha, con xin hứa vâng lời cha tuyệt đối.

- Thế thì tối nay con hãy làm một việc này cho cha.

- Vâng thưa cha, bất cứ điều gì cha dạy bảo, con cũng sẽ cố gắng làm hết sức.

- Này con, đằng sau tu viện của chúng ta có một cái nghĩa địa. Tuần vừa qua, thầy An-tôn dòng chúng ta được Chúa gọi về, vừa mới được chôn cất ở đó.

Đêm nay, con hãy ra ngoài đất thánh đến quỳ trước mộ thầy, suy niệm về cái chết. Con hãy làm như thế này: trong lúc suy niệm về cái chết của thầy An-tôn, con hãy nhớ lại mọi điều tốt lành nhất của thầy để khen ngợi. Con hãy khen ngợi thầy trước nấm mộ ấy. Đến khi nào con không còn lời để khen, con hãy tưởng tượng ra những điều hay điều tốt mà thầy không có để ca tụng thầy. Cha cho phép con tâng bốc, kể cả nịnh hót thầy nữa. Xong sáng mai, con hãy trở lại gặp cha.

-Vâng, thưa cha, con sẽ làm theo ý cha.

Tối hôm ấy, thầy tập sinh vâng lời bề trên ra ngoài nghĩa địa quỳ trước nấm mộ của thầy An-tôn quá cố, suy niệm về cái chết. Thầy làm y như lời của cha linh hướng. Tìm mọi lời hay ý đẹp, kiếm những gương lành gương sáng của thầy An-tôn mà khen ngợi. Cuối cùng, không còn tìm được lời khen, thầy bịa đặt ra những điều hay điều tốt mà thầy An-tôn không có để tâng bốc. Đêm tàn, bình minh đến, người tập sinh trở về lại tu viện, đến trình diện cha linh hướng. Lúc ấy, cha hỏi:

- Này con, đêm qua con có làm theo lời cha chỉ bảo không?

Thầy đáp:

- Vâng, thưa cha, con đã làm y như lời cha chỉ dạy. Con đã tìm tất cả những điều hay nhất, tốt nhất của thầy An-tôn để mà ca tụng thầy. Rồi đến khi hết những điều hay để nói thì con đã bịa đặt ra những gương lành gương sáng thầy không có để khen ngợi thầy.

- Thế thì con tâng bốc ca tụng thầy An-tôn, con thấy thầy có phản ứng gì không? Thầy có vui mừng thích chí không? Hay thầy có nói gì không con?

- Thưa cha, phản ứng làm sao được? Thầy An-tôn đã chết rồi mà!

- Tốt lắm! Vậy con hãy làm theo ý cha một lần nữa. Đêm nay, con hãy trở lại nghĩa địa, đến trước nấm mộ thầy mà suy niệm về cái chết. Nhưng lần này con hãy nhớ lại những điều xấu xa tồi tệ nhất của thầy. Con hãy cho thầy An-tôn biết những điều con ghê tởm, gớm ghét nhất về thầy. Nếu con không tìm ra những điều xấu về thầy, con hãy dùng trí tưởng tượng mà bày ra những chuyện xấu xa của thầy mà nói với thầy. Thậm chí, cha cho phép con nguyền rủa thầy!

Thế rồi, đêm hôm ấy, người tập sinh trẻ lại ra thăm mộ thầy An-tôn một lần nữa. Lần này, trong khi suy niệm về cái chết, thay vì nói những điều tốt lành của thầy An-tôn, người tập sinh kia lại suy về những tội lỗi, những điều tồi tệ của thầy. Rồi buông lời mắng chửi thậm tệ. Đến khi hết lời chửi mắng, người tập sinh kia phải phịa ra những điều xấu xa tội lỗi nhất để mà nguyền rủa thầy. Suốt cả đêm mặc sức mà mạt sát chửi rủa cho đến tảng sáng. Tiếng gà vừa gáy, người tập sinh chỗi dậy trở về nhà dòng tìm gặp cha linh hướng trình bày đầu đuôi sự việc. Thấy thầy, cha linh hướng hỏi:

- Này con, đêm qua con có làm theo lời cha chỉ bảo không?

Người tập sinh đáp:

- Vâng, thưa cha, con đã làm y như lời cha chỉ dạy. Con đã tìm những lời độc địa xấu xa nhất thiên hạ để hạ nhục thầy An-tôn trước nấm mộ của thầy. Con còn bịa thêm nhiều chuyện để mắng nhiếc thầy như cha đã dạy con.

- Thế thì khi nghe con buông lời mắng nhiếc, thầy An-tôn có phản ứng gì không con? Thầy có buồn, có giận không con? Hay thầy có nói gì không?

- Thưa cha, làm sao thầy An-tôn buồn giận mà đáp lại được? Thầy ấy đã chết rồi mà!

- Tốt lắm! Vậy thì, con hãy sống như thầy An-tôn đang nằm dưới nấm mồ ấy. Hãy sống như một người đang chết, con hãy coi như mình đã chết, bởi vì người chết sẽ không còn biết phản ứng gì trước những lời tâng bốc khen ngợi hay lăng mạ mắng chửi. Khi con xem mình như kẻ đã chết, con sẽ tìm được bình an vô tận. Con sẽ từ bỏ được chính bản thân con.

Đức khiêm nhường nền tảng cho đời sống trọn lành, là phương thế tất yếu để xây dựng mối liên hệ tốt đẹp và mật thiết với Thiên Chúa và tha nhân. Muốn sống nhân đức này cần biết hy sinh từ bỏ. Xin cho các mục tử của Chúa và Giáo hội luôn lưu tâm để sống nhân đức này.

LM NGUYỄN NGỌC TUYÊN

--------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - ĐỨC CÔNG CHÍNH CỦA THÁNH GIUSE PDF Print E-mail

ĐỨC CÔNG CHÍNH CỦA THÁNH GIUSE

Suy niệm trong Năm Thánh của Ngài

Trần Mỹ Duyệt

Qua Tông Thư "Patris corde" (Với Trái Tim của Người Cha), kỷ niệm 150 năm ngày Thánh Giuse được Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX công nhận là Quan Thày của Giáo Hội, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố "Năm Thánh Giuse" bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 năm 2020, đến ngày 8 tháng 12 năm 2021.

Năm Thánh Giuse đã được khai mạc trong không khí vui mừng của hồng ân Giáng Sinh, chúng ta hãy cùng chiêm ngắm vai trò của ngài qua biến cố Truyền Tin. Đặc biệt, chú tâm vào lời này trong Thánh Kinh: "Giuse chồng bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, đã quyết định bỏ bà cách kín đáo" (Mat 1:19).

Giuse là người công chính. Tại sao Thánh Kinh đã ca ngợi ngài là người công chính? Thế nào là một người công chính dưới cái nhìn Thánh Kinh trong trường hợp của Thánh Giuse?

GIUSE LÀ NGƯỜI CHỒNG

Những lời giải nghĩa về công chính thông thường nhất mà chúng ta vẫn nghe qua câu Thánh Kinh trên, đại khái cho rằng thoạt đầu Giuse cũng cảm thấy bối rối, nghi ngờ và hoang mang. Khi thấy Maria vị hôn thê của mình tự nhiên có thai, theo lẽ thường thì nó phải có một nguyên nhân. Ngài không hiểu, nhưng cũng không muốn làm tổn thương vị hôn thê của mình. Và đây là lý do ngài đã âm thầm định bỏ Maria.

Theo ý nghĩa của câu Thánh Kinh, những lời này còn được giải thích thêm rằng một người đã đính hôn đồng nghĩa đã thuộc về nhau, đã là vợ chồng. Bất trung trong thời gian này, là hành động ngoại tình – một người công chính chắc chắn không muốn nhận một người phụ nữ về với mình trong tình trạng này. Nhưng hoàn cảnh của Maria lại không có đủ lý lẽ để suy nghĩ như vậy. Thế nên, Giuse chỉ còn cách tránh cho mình những khó xử, cũng như tránh cho Maria khỏi bị kết án và bị ném đá. Vì thế, ngài đã đi tới quyết định là âm thầm rút lui! Đây cũng là lời giải thích nổi tiếng của Thánh Gioan Chrysostom và đã được chú giải trong Thánh Kinh Tân Ước. Nhưng câu hỏi ở đây là, điều đó có thật sự như vậy không? Làm sao giải thích được đức công chính của Giuse?

GIUSE LÀ NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Trước hết, chúng ta phải suy nghĩ tại sao Thánh sử Matthêu lại phải đưa ra lời giải thích: "Maria chịu thai bởi phép Chúa Thánh Thần" (Mt 1:20)? Nếu Matthêu kể lại câu truyện theo quan điểm của Giuse, thì tại sao ông không nói thêm chi tiết về việc này, mô tả phản ứng của Giuse, mà chỉ viết "Giuse thấy bà có thai"?

Tại sao thiên thần lại nói với Giuse, "Đừng sợ nhận Maria vợ ông về nhà mình" (Mt 1:20). Sự sợ hãi không có nghĩa lý gì đối với quyết định của Giuse. Vì là người công chính, nên qua điềm báo mộng này đã nói lên quyết tâm của ngài là chỉ tìm và thực hiện Thánh Ý Chúa. Thế nên, khi tỉnh giấc, Giuse không "ngần ngại" hoặc "sợ rằng", Maria đã phạm tội ngoại tình – ngài tin chắc chắn rằng Maria vô tội, và đã vui mừng đón Maria về làm vợ.

Vì tin tưởng vào sự thánh thiện của Maria, và vì thế Giuse không có cơ sở gì để nghi ngờ Maria. Quyết định rút lui âm thầm trước đó chỉ nói lên thái độ cân nhắc giữa sự thánh thiện, vô tội của Maria và lý trí tự nhiên của một người. Kết quả là sự thánh thiện của Maria và đức công chính của Giuse đã thắng, vì mầu nhiệm Thiên Chúa luôn cao cả vượt xa trí hiểu biết của con người.

Ngay cả các Kitô hữu ngày nay, một số đôi khi cũng có ý nghĩ rằng hành động ngoại tình trong trường hợp Maria cũng rất có thể, nhưng hầu hết lại cho rằng hành động này không bao giờ xảy ra, vì cả Giuse và Maria đều biết nhau, đặc biệt, trường hợp của Maria thì không có lý do gì để việc này xảy ra. Maria không thuộc loại rượu chè, lẳng lơ, và không bị thu hút bởi những cám dỗ của xã hội chung quanh. Maria cũng không ở một mình với bất cứ người đàn ông nào. Mối liên hệ giữa Maria và Giuse không có động lực dẫn đến hành vi dục vọng tội lỗi. Cả hai đã đồng ý sống đồng trinh ngay cả sau khi kết hôn. Nên biết rằng Nazareth thời đó là một thành phố nhỏ vỏn vẹn hơn chục căn nhà trên sườn đồi. Như vậy mọi việc to nhỏ của nhau đều không lọt khỏi con mắt quan sát của người trong làng.

Thứ đến, để nói lên tình yêu trong hôn nhân, chúng ta buộc phải tin tưởng lẫn nhau. Không thể có một trọng tội xảy ra cho một người mà người đó có một tình yêu trung thành, trong sáng và thánh thiện như tình yêu của Maria dành cho Giuse.

Trường hợp người "đang có thai!" – với chứng cớ rõ ràng, thì người ngay lành cũng không nghĩ khác về việc ăn ở vợ chồng và thai nghén theo chiều hướng tự nhiên. Giuse không có những dấu hiệu bất thường giữa những con người bình thường. Ngài cũng "không có kinh nghiệm về đàn bà". Một người trong sáng, không có những liên quan giữa hành động sinh lý và việc thai nghén. Như vậy, không gì sai trái nếu Giuse suy nghĩ như một người bình thường.

Tuy nhiên, một người chồng tốt, mà lại ghen tương nghi ngờ khi mới chỉ thấy một số dấu hiệu khác thường với sự thánh thiện của vợ mình, người ấy có tội với vợ mình. Nếu Giuse tin rằng Maria đã phạm tội ngoại tình, ngài cũng có lỗi với Maria, và cần thiết phải xin lỗi chứ chưa nói đến việc công bố hành động ấy của vợ; và càng không có lý bỏ vợ một cách kín đáo viện dẫn sự thánh thiện của mình. Đối với Giuse, ngay cả việc quyết tâm lìa bỏ Maria âm thầm cũng là một hành động có lỗi với Maria, nếu như quyết tâm ấy không đem lại sự thánh thiện cho cả hai.

Chắc chắn Thánh Giuse cũng có một đức tin như các vị thánh khác, mà trổi vượt nhất là đức tin của tổ phụ Abraham. Qua đòi hỏi hiến tế Isaac, đức tin của tổ phụ Abraham được thử thách vì một mặt Thiên Chúa đã hứa với ông rằng qua Isaac, ông sẽ là cha của các dân tộc, mặt khác Ngài lại đòi hỏi Abraham phải giết Isaac để tế lễ Ngái. Thánh Phaolô đã ca ngợi đức tin của Abraham trong khi ông tin vào hai điều này cùng một lúc. Theo Thánh Phaolô, tổ phụ Abraham đã giải quyết sự trái ngược bằng cách tin rằng Thiên Chúa phải có chương trình của Ngài (Heb 11:19).

Đức tin của Giuse cũng giống như của Abraham. Phải chăng Thiên Chúa đã đem lại cơ hội này để thử thách đức tin của ngài khi một mặt bảo ngài nhận Maria về làm vợ, mặt khác Maria lại "có thai" trước khi cả hai về chung sống với nhau. Đòi hỏi "trái nghịch" ấy đã khiến Giuse phải dừng lại suy nghĩ. Nhưng như Abraham, Giuse đã đón nhận thánh ý của Thiên Chúa. Đức công chính của ngài đã thể hiện đầy đủ qua sự tin tưởng hoàn toàn tuyệt đối vào lời Chúa.

Sau cùng, đức công chính của Thánh Giuse cho chúng ta biết thêm điều này, ngài chắc chắn cũng đọc, biết và tin vào Thánh Kinh, trong đó có lời tiên tri rằng, "Một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con." (Isaiah 7:14). Trong thời gian của ngài, dân Do Thái mong chờ Đấng Cứu Tinh xuất hiện, và cặp vợ chồng nào cũng mong Đấng Messiah sinh ra trong gia đình của mình. Đó cũng là lý do tại sao thiên sứ đã nhắc lại với ngài trong giấc mộng lời tiên tri này. Và chắc chắn không nghi ngờ, Giuse tin tưởng rằng Maria chính là người trinh nữ ấy.

Tóm lại, vì Thánh Giuse là người công chính, và vì đức công chính của ngài sáng tỏ, do đó, tuy rất khiêm tốn, ngài đã không hoảng sợ, không mặc cảm, nhưng vui mừng được làm chồng của Đức Maria. Theo Thánh Giêrônimô, "Đây có thể là một thử thách cho Maria, rằng Giuse, tin tưởng ở sự trong trắng, trinh nguyên của Maria, và lo sợ rằng chuyện gì đó đã xảy ra, đảo ngược sự yên lặng màu nhiệm mà ông không thể giải thích. Cũng vậy, Rabanus giải thích thêm: "Ngài biết Maria mang thai, nhưng là người thanh khiết, và vì ngài cũng đã đọc, 'Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai,' nên ngài không nghi ngờ gì lời tiên tri này sẽ được thực hiện nơi Maria," Đó cũng là lý do "Ngài nên tránh khỏi Maria," Còn Origen thì viết, "bởi vì ngài nhìn thấy một bí tích cực trọng trong Maria, và ngài không xứng đáng để đến gần".

PHỤ CHÚ

Theo Sắc Lệnh về các ơn xá trong Năm Thánh Giuse của Tòa Ân Giải Tối Cao:

Ơn Toàn Xá được ban cho những tín hữu nào đọc Kinh Cầu Thánh Giuse (đối với truyền thống Latinh),

hoặc hát Thánh Ca kính Thánh Giuse, toàn bộ hoặc ít nhất một phần (đối với truyền thống Byzantine),

hoặc đọc một số kinh nguyện với Thánh Giuse khác, phù hợp với truyền thống phụng vụ của mình, cầu xin cho Giáo hội đang bị bách hại cả bên trong và ngoài thế giới, và cầu xin cho tất cả các Kitô hữu đang chịu mọi hình thức bách hại.

KINH ÔNG THÁNH GIUSE BẦU CỬ

Lạy ơn Ông Thánh Giuse. Chúng con chạy đến cùng Người, trong cơn gian nan chúng con mắc phải. Chúng con đã kêu van cùng Rất Thánh Đức Bà là Đấng đã làm Bạn cùng Người, phù hộ gìn giữ chúng con, thì chúng con cũng lấy lòng trông cậy cho vững vàng, mà xin Ông Thánh Giuse bầu cử cho chúng con như vậy.

Chúng con xin vì nhân đức kính mến, mà Người làm Bạn cùng Rất Thánh Đồng Trinh là Mẹ Chúa Trời, và là Đấng chẳng mắc phải tội tổ tông truyền, cùng vì lòng thương Người đã ẵm lấy Đức Chúa Giêsu, thì chúng con xin Ông Thánh Giuse ghé mặt lại mà thương đến Hội Thánh, là phần sản nghiệp Đức Chúa Giêsu đã lấy Máu Thánh mình mà chuộc. Lại xin Người dùng sức mạnh thiêng liêng và quyền phép Người, mà giúp đỡ những sự chúng con còn thiếu thốn.

CẦU NGUYỆN/SỐNG VÀ QUYẾT TÂM THỰC HÀNH:

Lạy Đấng đã coi sóc Đức Chúa Giêsu cùng Đức Bà cho cẩn thận, thì chúng con xin Người bênh vực con cái Đức Chúa Giêsu đã chọn.

Lạy Cha rất thương yêu! Chúng con xin Người cất mọi sự dối trá cùng mọi tội lỗi, cho chúng con khỏi mắc phải những sự ấy.

Lạy Đấng rất mạnh đang ở trên trời hay gìn giữ chúng con, xin Người dủ lòng thương mà che chở chúng con đang khi chiến trận cùng kẻ thù tối tăm là các ma quỉ.

Như xưa Người đã gìn giữ Đức Chúa Giêsu cho khỏi cơn hiểm nghèo thế nào, thì rầy chúng con cũng xin Người cứu chữa lấy Hội Thánh, cho khỏi các mưu kế giặc thù, và các sự gian nan khốn khó như vậy.

NHỜ ƠN CHÚA GIÚP chúng con QUYẾT TÂM bắt chước Người, và trông cậy vì quyền thế Người, cho được giữ đạo cho trọn, cùng được chết lành, và được hưởng phúc vô cùng trên thiên đàng. Amen.

Ite ad Joseph. Chúng ta hãy sốt sắng chạy đến cùng Thánh Cả Giuse.

---------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH BASILIO-THỨ BẢY 02-1-2021 PDF Print E-mail


Suy Niệm Thứ Bảy Trước Lễ Hiển Linh B - GKGĐ Giáo Phận Phú Cường

LỄ THÁNH BASILIÔ, LỄ NHỚ

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thanh Gioan (Ga 1: 19-28)

19 Và đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông: "Ông là ai?"20 Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: "Tôi không phải là Đấng Ki-tô".21 Họ lại hỏi ông: "Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Ê-li-a không?" Ông nói: "Không phải". - "Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?" Ông đáp: "Không".22 Họ liền nói với ông: "Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông?"23 Ông nói: Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.24 Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu.25 Họ hỏi ông: "Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông Ê-li-a hay vị ngôn sứ?"26 Ông Gio-an trả lời: "Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết.27 Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người".28 Các việc đó đã xảy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa.

SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Người Kitô hữu ngày nay đang bước đi trong một thiên niên kỉ với những biến đổi và xáo trộn liên tục từ lượng lớn thông tin, từ ảnh hưởng bởi những trào lưu hấp dẫn, có khi ngược với niềm tin Kitô giáo. Chúng như những đợt sóng khiến người ta không thể định hình được con thuyền đời họ đang bị trôi dạt về đâu.

Chính vì thế, cuộc khủng hoảng căn tính là mối lo ngại cho những người môn đệ của Chúa. Chúng ta sống trong một thế giới ảo và thường tự nhận mình với một hình ảnh, một vị thế nào đó, khác xa với thực tế và sự thật về bản thân. Nếu câu hỏi "Ông là ai" khi xưa người ta hỏi Gioan Tẩy Giả, thì hôm nay sẽ chất vấn mỗi người chúng ta. Và hình ảnh ảo tưởng về chính mình có xóa mờ chính vị trí của Đức Giêsu trong cuộc sống chúng ta hay không?

Gioan Tẩy Giả đã sống đúng với căn tính của mình, căn tính được Chúa mời gọi trong cuộc đời: "tôi là tiếng kêu trong hoang địa". Dù là tiếng kêu, là hình ảnh mờ nhạt, nhưng chính lúc đó hình ảnh Chúa được tỏ hiện rõ nét trong cung cách sống của Gioan.

Như thế, càng để cho Chúa lớn lên thì chính bản thân mỗi người lại càng rõ nét hơn ý nghĩa của cuộc đời, niềm vui trong cuộc sống, khi nhận thức những gì là đáng giá mà Chúa đang đặt để và kì vọng.

Trong một buổi tiếp kiến chung, khi nói về gương tử đạo của thánh Stêphanô, Đức Thánh Cha nói rằng, không phải những bài diễn văn hay mới chứng tỏ căn tính con Thiên Chúa của chúng ta, mà chỉ có sự phó thác cuộc sống của mình vào trong tay Chúa Cha và sự tha thứ cho những người xúc phạm chúng ta, giúp chúng ta nhận ra phẩm chất đức tin của mình.

Thật ngoài sự tưởng tượng khi Gioan đã loan báo về một Đấng "đến sau" mà "có trước" nhưng thánh nhân đã biết phó thác đời mình vào Đấng ấy, phó thác trong chính những lời rao giảng đầy xác quyết: "tôi không đáng cởi dây giày cho Người". Cả đời rao giảng cho chân lý và phó thác trong niềm tin vào Đấng Thiên Sai, đến nỗi phải chịu cái chết oan khiên, thánh nhân trở nên tấm gương cho chúng ta trong việc sống đúng với căn tính của mình với sự phó thác tin yêu.

CẦU NGUYÊN VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ơn nhận biết Chúa mỗi ngày một hơn và nhờ ơn đó, chúng con xác tín hơn về những gì chúng con đang được mời gọi trong Tin Mừng và hết lòng sống với những xác tín ấy giữa một thế giới đang đổi thay. Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường
Kính chuyển:
Hồng

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 69