mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3201
mod_vvisit_counterHôm Qua8384
mod_vvisit_counterTuần Này50847
mod_vvisit_counterTuần Trước52624
mod_vvisit_counterTháng Này153654
mod_vvisit_counterTháng Trước239272
mod_vvisit_counterTất cả11368343

We have: 176 guests online
Your IP: 54.196.38.114
 , 
Today: Jul 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Newsfeeds
DOI SONG TAM LINH # 81 = BIET LANG NGHE PDF Print E-mail

Bạn đã biết lắng nghe chưa ? - Lm AnMai CSsR
Hong Nguyen
To Me
Jan 25 at 1:26 PM
Bạn đã biết lắng nghe chưa ?

Câu hỏi này có vẻ hơi lạ đối với bạn? Ai mà chẳng biết lắng nghe! Khoan đã, bạn đừng vội bực mình. Lắng nghe là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà mỗi người cần có. Khả năng lắng nghe của bạn có ảnh hưởng rất lớn đến công việc và mối quan hệ với những người chung quanh.

Hãy thử tưởng tượng bạn đang chủ trì một cuộc họp... bạn đang thao thao bất tuyệt, và khi nhìn xuống thì mọi người đang "thả hồn theo mây gió". Người thì đang viết, người đang thảo luận, vài người đang lắng nghe bạn nhưng họ không có biểu hiện gì là hiểu bạn cả... Khi đó bạn cảm thấy thế nào?

Chúng ta nghe được bao nhiêu phần trăm điều người khác nói?

Chúng ta thường lắng nghe vì những mục đích sau: thu thập thông tin, hiểu được điều người khác muốn nói, giải trí và học hỏi.

Với những mục đích trên, bạn nghĩ khả năng lắng nghe của bạn đã tốt lắm rồi. Nhưng các cuộc nghiên cứu mới đây cho biết người ta chỉ có thể nhớ khoảng 25% đến 50% những gì họ đã nghe. Điều đó có nghĩa là khi chúng ta nói chuyện với sếp, đồng nghiệp, khách hàng hay thậm chí với vợ chồng của chúng ta trong vòng 10 phút, thì họ chỉ thật sự nghe được từ 1 đến 5 phút là tối đa.

Ngược lại, điều đó cũng có nghĩa là khi bạn nói chuyện với người khác, bạn cũng không nghe hết những gì họ nói. Bạn chỉ có thể nắm bắt được khoảng 25-50% những điều quan trọng đó.

Vì sao nên lắng nghe?

Rõ ràng lắng nghe là một kỹ năng mà nếu cố gắng trau dồi chúng ta sẽ thu được những lợi ích to lớn. Bằng cách trở thành một người lắng nghe tốt, bạn sẽ cải thiện được năng suất làm việc của mình, gây ảnh hưởng, thuyết phục và thương lượng thành công với người khác. Hơn nữa, bạn cũng sẽ tránh được những mâu thuẫn và hiểu nhầm đáng tiếc.

Để biết lắng nghe?

Cách để trở thành một người lắng nghe tốt là bạn thường xuyên thực hành "lắng nghe chủ động". Để hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề này, hãy thử nghĩ xem bạn có còn đủ hào hứng để tiếp tục câu chuyện nữa không khi bạn nghi ngờ người giao tiếp với bạn không chú ý lắng nghe điều bạn đang nói. Rõ ràng đến một lúc nào đó bạn cảm thấy mình đang nói chuyện với một "bức tường" thì bạn sẽ không còn muốn tiếp tục cuộc nói chuyện nữa.

Để làm được điều này bạn phải quan sát người nói. Đừng để bản thân mất tập trung bởi những việc xảy ra chung quanh hoặc bởi những lý lẽ mà bạn cố tìm để đáp trả ngay khi họ nói xong.

Thể hiện rằng bạn đang lắng nghe

Bạn có thể cho người giao tiếp với mình biết rằng bạn đang lắng nghe bằng cách gật gật đầu hoặc đơn giản chỉ nói "ừ, ồ". Không nhất thiết bạn phải đồng ý với quan điểm của họ, bạn chỉ cần cho họ biết rằng bạn đang lắng nghe họ mà thôi. Hãy sử dụng ngôn ngữ cử chỉ và những dấu hiệu khác để cho họ biết bạn đang lắng nghe.

Bạn cũng nên khéo léo trong việc trả lời, làm sao để câu trả lời của bạn khuyến khích người nói tiếp tục mạch trình bày của họ, nhờ đó bạn sẽ có được thông tin bạn cần. Trong khi việc gật đầu và nói "ừ nhỉ" thể hiện sự quan tâm của bạn đến người nói, thì việc thỉnh thoảng đưa ra một câu hỏi hoặc một lời bình luận để tóm lại những gì họ đang nói cho thấy bạn hiểu rất rõ thông điệp họ muốn đưa ra.

Hãy ý thức tầm quan trọng của lắng nghe, và bạn sẽ tạo được ấn tượng tốt và lâu dài với mọi người xung quanh. Nếu bạn cảm thấy cực kì khó khăn để tập trung vào những gì người khác đang nói, hãy cố nhẩm lại những gì họ nói – điều này sẽ củng cố thêm thông điệp của họ và giúp bạn kiểm soát được ý nghĩ của mình.

Hy vọng rằng suy nghĩ "Lắng nghe và trả lời là hai việc cỏn con, bẩm sinh con người đã có rồi." của bạn sẽ không còn sau khi bạn đọc những phân tích trên. Hãy suy ngẫm thêm về vấn đề này bạn nhé!

Lm Anmai, CSsR st

Chuyển từ muoichodoi.com

Kính chuyển

Hồng

 
DOI SONG TAM LINH # 80 = CO DON PDF Print E-mail

Nước Mắt và Hạnh Phúc (Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện của Linh Mục
Hong Nguyen
Jan 24 at 9:25 PM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

- 10 -

Cô Ðơn

Cô đơn là cho đi mà không có người nhận, muốn nhận mà chẳng có ai cho. Cô đơn là chờ đợi, mà cái mình chờ đợi chẳng xẩy đến. Như hai bờ sông nhìn nhau mà vẫn nghìn trùng cách xa bởi dòng sông, nên cô đơn là gần nhau mà vẫn cách biệt. Không phải cách biệt của không gian mà là cách biệt của cõi lòng. Bởi đó, vợ cô đơn bên chồng, con cái cô đơn bên cha mẹ.

Càng gần nhau mà vẫn cách biệt thì nỗi cô đơn càng cay nghiệt. Ðã cay nghiệt mà vẫn phải gần nhau thì lại càng cô đơn hơn.

Người ta gần nhau mà vẫn có thể xa nhau, vì trong cuộc đời, mỗi người đều có hai thế giới. Thế giới riêng trong cõi lòng tôi và thế giới ngoài vũ trụ. Thế giới tâm hồn tôi sụp đổ thì thế giới bên ngoài thành hoang vắng, vô nghĩa. "Lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Vì thế, tôi có thể cô đơn giữa đám đông. Cả vườn hoa chẳng có nghĩa gì nếu không có loài hoa tôi kiếm tìm. Người đưa thư trở thành thừa thãi nếu không có cánh thư tôi đang chờ mong. Chỉ một cánh hoa của lòng tôi thôi cũng đủ làm cho cả khu đồi thành dễ thương. Chỉ một cánh thư thôi cũng đủ làm cho bầu trời xanh thăm thẳm. Làm gì còn cô đơn nếu đã có bắt gặp.

Tôi cô đơn khi tôi bị vây bọc bởi những con sông thờ ơ, những mây mù ảm đạm. Tôi có thể cô đơn vì tôi không đến với người khác. Tôi cũng có thể cô đơn vì người khác không muốn đến với tôi. Cô đơn nào thì cũng là một hải đảo. Nhưng nỗi cô đơn bị người khác thờ ơ thì cay đắng hơn nỗi cô đơn tôi muốn sống lẻ loi một mình. Khi tôi tự chọn cho mình những giây phút cô lập thì tôi cũng có thể tự phá vỡ hàng rào cô đơn đó. Còn nỗi cô đơn bị người khác thờ ơ thì đưa tôi vào nỗi buồn mà có khi đau đớn hơn tù đầy, u ám hơn sự chết, vì đây là nỗi cô đơn tôi muốn chạy trốn mà chẳng trốn chạy được. Tôi thương, nhưng người khác có thương tôi không đấy là tự do của họ. Cho đi phần đời của mình mà không được đáp trả vì thế mới có xót xa.

Nỗi cô đơn của Chúa là nỗi cô đơn này. Ngài không lựa chọn cho mình sống cô đơn vì Ngài luôn muốn đến với người khác. Ngài đến với kẻ khác nhưng bị kẻ khác chối từ, gọi mà không có tiếng đáp trả. Do đấy, Ngài mới thấy cõi lòng tan nát trong vườn Cây Dầu. Bởi cõi lòng tan nát nên Ngài mới phải than thở: "Linh hồn Thầy buồn đến chết mất" (Mt 26,38).

Làm gì có cô đơn nếu có lời đáp trả. Không có lời đáp trả nên mới cứ phải chờ đợi. Ðợi chờ là khởi điểm của cô đơn. Ðợi chờ càng lâu thì nỗi cô đơn càng dài. Chờ đợi mà chẳng bao giờ xẩy tới thì nỗi cô đơn càng héo hắt.

Làm gì có cô đơn nếu không có kiếm tìm. Làm gì phải kiếm tìm nếu đã đầy đủ. Vì thiếu vắng nên mới phải đi tìm. Khi sự thiếu vắng quá cay đắng thì nỗi cô đơn dẫn đến sự chết.

Sự thiếu vắng không hệ tại im lặng của không gian hoặc vắng bóng người mà hệ tại sự trống vắng của con tim. Có những quãng đời cô tịch, tôi đi một mình, nhưng càng lặng lẽ tôi càng nghe thấy niềm vui nhiệm mầu trong hồn. Có những khúc đời chung quanh tôi tấp nập bước chân, rộn rã lời cầu chúc mà tôi vẫn nghe hiu hắt. Chúa cũng vậy, những đêm dài ở sa mạc chỉ có trăng và cỏ cây, chỉ có núi đồi và gió thổi, nhưng Chúa không cô đơn. Chiều thứ sáu ở Jerusalem tấp nập chân người mà cõi lòng Chúa thì hoang vắng. Trong vườn Cây Dầu có các môn đệ đi theo mà Chúa vẫn thấy lẻ loi.

Kẻ cô đơn là kẻ đi tìm niềm cảm thông nhưng chẳng gặp. Vì không gặp nên họ đành trở về thế giới nội tâm cô lẻ của riêng mình. Vì thế giới nội tâm đó đang heo hút trống vắng, nên họ chỉ bắt gặp sự thiếu thốn ở đó mà thôi. Sống trong thiếu thốn để rồi nhìn kẻ khác đầy đủ vì thế mới có nước mắt xót thương cho đời mình.

Ai cũng có lúc cô đơn vì chẳng ai đầy đủ. Ai cũng phải đi tìm vì ai cũng thiếu vắng. Nhưng có những thiếu vắng dễ tìm thấy. Có những thiếu vắng như mênh mông vô hạn. Khi Chúa mất hết tình thân, Chúa tìm đến với Chúa Cha: "Eli, Eli, lema sabakthani. Ôi! Cha cũng bỏ con sao" (Mt 27,46). Khi lòng tôi tan nát, khi đời tôi đắng cay, tôi cũng vẫn còn hy vọng là Chúa. Nếu tôi mất Chúa thì đây mới là sự thiếu vắng hoang tàn nhất. Ðây là cô đơn không còn lối thoát.

Trong nỗi cô đơn của tôi hôm nay, khi mà tôi không còn tìm đâu được niềm vui, tôi cũng sẽ nói với Chúa: - Ôi! Cha cũng bỏ con sao. Tôi tin là Chúa hiểu cõi lòng tôi vì đây chính là lời nguyện của Ngài, lời nguyện của kẻ cô đơn trong giờ cô đơn nhất. Chỉ có ai đã cô đơn mới có thể hiểu nỗi buồn, mới thấy cái hoang dại trong cuộc đời của kẻ cô đơn.

Chúa đã cô đơn trên thập giá.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ.

 

 
DOI SONG TAM LINH # 79 = GIOI THIEU CHUA PDF Print E-mail

Jan 23 at 6:45 PM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

(Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện

của Linh Mục Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

- 09 -

Giới Thiệu

Mục đích của giới thiệu là để biết nhau. Muốn giới thiệu về một người thì phải biết về người đó. Tùy theo mối liên hệ giữa hai người mà mức độ biết về nhau nhiều hay ít. Nếu không biết rõ về một người thì có thể giới thiệu sai về người ấy. Trong cuộc sống xã giao hàng ngày, giới thiệu là điều rất thường tình. Có khi nào Phúc Âm cũng đề cập đến vấn đề giới thiệu?

Có ba lời giới thiệu tiêu biểu trong Phúc Âm:

- Chúa Cha giới thiệu Chúa Kitô (Mt 4,17).

- Chúa Kitô giới thiệu Chúa Cha (Yn 14,8-9).

- Thánh Yoan giới thiệu Chúa Kitô (Yn 1,19-34).

Chúa Cha giới thiệu Chúa Kitô. Bên bờ sông Jordan, khi Ðức Kitô nhận phép rửa, có tiếng nói từ trời: "Ðây là con Ta yêu dấu, kẻ làm đẹp lòng Ta mọi đàng" (Mt 4,17). Lời giới thiệu của Chúa Cha về Chúa Kitô rất ngắn gọn, đó là Chúa Kitô làm đẹp lòng Cha mọi đàng. Ðức Kitô đã làm đẹp lòng Cha như thế nào?

Toàn bộ Phúc Âm là tiếng nói trả lời cho câu hỏi này. Ðó là cuộc sống, cái chết của Chúa Kitô trên thập giá. Chúa Kitô làm đẹp lòng Cha bằng thái độ kết hợp với Cha, vâng lời, và vâng lời trọn vẹn. "Ðể cho thế gian biết Ta yêu mến Cha, Cha truyền sao, Ta làm vậy" (Yn 14,31). Mức độ tình yêu của Chúa Kitô đối với Chúa Cha được xác định bởi việc Ngài thi hành ý của Cha. Từ đó, cũng tùy mức độ tôi làm theo ý muốn của Chúa mà thẩm định tình yêu của tôi đối với Ngài.

Chúa Kitô giới thiệu Chúa Cha. Người Do Thái thắc mắc, muốn biết về Chúa Cha. Họ đã đến hỏi Chúa Kitô: "Cha ông ở đâu?" Ðức Kitô đáp lại: "Nếu các ngươi biết Ta, các ngươi biết Cha Ta" (Yn 8,19). Philip cũng hỏi Chúa cùng một thắc mắc: "Xin Ngài tỏ cho chúng tôi thấy Cha, thế là đủ cho chúng tôi". Ðức Kitô nói với ông: "Ðã bao lâu rồi Ta ở với các ngươi, thế mà Philip, ngươi không biết Ta ư. Ai thấy Ta là thấy Cha" (Yn 14,8-9). Trong cách giới thiệu này, Chúa Kitô giới thiệu Chúa Cha bằng cách nói đến chính mình. Xác định mình là hình ảnh của Chúa Cha.

Thánh Yoan giới thiệu Chúa Kitô. Ngược lại với cách giới thiệu trên. Yoan giới thiệu Chúa Kitô bằng cách từ chối chính mình. "Ta thanh tẩy các ngươi bằng nước để hối cải, còn kẻ đến sau ta quyền thế hơn ta, và ta không đáng xách dép cho Ngài, Ngài sẽ thanh tẩy các ngươi trong Thánh Thần và Lửa" (Mt 3,12). Nhiều người đã xin theo làm môn đệ Yoan. "Cả xứ Judea và dân thành Jerusalem trẩy đến với ông. Người ta nhờ ông thanh tẩy cho trong dòng Jordan mà xưng thú tội lỗi" (Mc 1,15). Hiện tượng cả xứ Judea đến với Yoan, nói lên tính cách nổi danh của ngài. Dưới mắt quần chúng, Ðức Kitô là một khuôn mặt lu mờ. Ở đây, Yoan đã giới thiệu Chúa Kitô bằng cách so sánh với vai trò của mình.

Vai trò của Yoan

Khuôn mặt Ðức Kitô

Thanh tẩy bằng nước

Thanh tẩy trong Thánh Thần

Thanh tẩy để hối cải

Thanh tẩy để tha tội

Không đáng xách dép

Người là Ðấng quyền thế

Tôi phải nhỏ đi

Người sẽ lớn lên

Kẻ dọn đường

Người sẽ đến

Tôi không phải là Ðức Kitô

Này là Chiên Thiên Chúa

Trong khi toàn miền Jerusalem và Judea đang coi Yoan như thần tượng, thì chỉ vì để giới thiệu Chúa Kitô, Yoan giã từ sự nổi danh của mình, lặng lẽ rút lui. Chúa Kitô giới thiệu Chúa Cha bằng cách nói cho người nghe hãy nhìn vào chính Ngài. Yoan giới thiệu Chúa Kitô bằng cách nói cho người nghe đừng nhìn vào mình, nhưng nhìn thẳng vào Chúa. Ðây là cách giới thiệu chính xác nhất khi con người muốn giới thiệu với con người về Thiên Chúa.

*

* *

Con người giới thiệu Thiên Chúa cho con người.

Trong Phúc Âm ta chỉ thấy Thiên Chúa mặc khải, tức là Ngài giới thiệu Ngài cho con người. Không bao giờ thấy con người giới thiệu cho Thiên Chúa. Ðiều ấy hàm ý, Thiên Chúa đã biết rõ con người. Bởi thế, thái độ của con người khi nói về Thiên Chúa phải luôn luôn là thái độ khiêm tốn. Những gì tôi biết về Ngài chỉ là những gì Ngài cho tôi biết.

Chúa Cha đã giới thiệu Chúa Kitô. Chúa Kitô cũng giới thiệu Chúa Cha cho loài người. Trong cả hai cách này, con người không thể bắt chước được. Tôi không hiểu biết Chúa Kitô như Chúa Cha. Tôi không làm đẹp lòng Chúa Cha như Chúa Kitô. Thiên Chúa là Chúa vô biên. Tôi chỉ là loài thụ tạo giới hạn, nhỏ bé. Tôi không thể biết Ngài nếu Ngài không cho tôi biết.

Ðể giới thiệu Chúa, tôi phải biết Chúa. Nhưng bằng cách nào tôi có thể biết Chúa?

Ðể tìm câu trả lời, tôi phải hỏi ngược lại: Bằng cách nào Chúa đã cho tôi biết Ngài? - Chúa Kitô đã cho tôi biết về Ngài bằng cách Ngài sống với tôi. Ngài đến trong trần gian. "Ngài là Thiên Chúa, nhưng đã hạ mình, lãnh phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta, đem thân đội lốt người phàm" (Phil 2,6-7).

Vì thế, để biết Ngài, tôi cũng phải đi cùng con đường Ngài đã chỉ lối. Ðó là sống với Ngài. Cách Chúa gọi các môn đệ tiên khởi là Chúa gọi để sống với Chúa. Phúc Âm Yoan thuật lại: "Ðức Yêsu hỏi họ: Các ngươi tìm gì? Họ thưa Ngài: Thưa Thầy, Thầy lưu lại nơi đâu? Ngài bảo họ: Ðến mà xem. Vậy họ đã đến và thấy nơi Ngài ở. Họ đã lưu lại với Ngài ngày hôm ấy" (Yn 1,38-39). Bài học đầu tiên của các môn đệ là lưu lại với Ngài. Chỉ khi sống với Ngài mới biết Ngài. Vì thế, để giới thiệu về Chúa, phải biết Chúa, để biết Chúa, chỉ có con đường duy nhất là sống với Chúa.

Sự hiểu biết về một người tùy theo mức độ liên hệ với người ấy. Mức độ liên hệ của con người với Chúa không bao giờ thắm thiết và thông hiểu như liên hệ của Chúa Kitô với Chúa Cha. Do vậy, con người, không ai có đủ tư cách để giới thiệu đủ về Thiên Chúa. Nếu thế, tại sao Yoan Tẩy Giả đã giới thiệu Ðức Kitô cho nhân loại? Tại sao Ðức Kitô cũng đã gọi tôi: "Hãy theo Ta" (Mc 1,17). Hơn nữa, tại sao Ngài lại sai tôi đi giới thiệu Ngài cho muôn dân: "Ngài kêu nhóm Mười Hai lại để Ngài sai đi rao giảng Tin Mừng" (Mc 3,13-14). Tôi không biết về Ngài đủ. Vậy mà Ngài cũng cho tôi quyền giới thiệu vè Ngài. Ðiều đó chỉ có thể hiểu được: đấy là hồng ân Ngài ban tặng.

Ai cũng sợ người khác giới thiệu sai về mình. Giới thiệu sai về một người là xúc phạm đến người đó, và cũng mắc lỗi với người mình giới thiệu. Tôi là người bất toàn trong biết bao phương diện, nhất là phương diện đức tin, và tình yêu đối với Chúa. Vì thế, khi Chúa chấp nhận và kêu gọi tôi đi giới thiệu cho người khác về Ngài, là Chúa đã chấp nhận phần nào thua thiệt về phần Chúa rồi.

Sự không hiểu đủ về Thiên Chúa làm tôi ngại ngùng khi nói với người khác về Ngài. Nhưng ngại ngùng không có nghĩa là làm tôi sợ hãi và chối từ. Làm con của Chúa là ân sủng, thì nói với người khác về Cha mình phải là một niềm vui. Ðó là yếu tính của ơn gọi Kitô hữu. Chối từ nói về cha của mình là chối từ ân sủng làm con. Sự ngại ngùng chỉ mang ý nghĩa là tôi phải cẩn thận, phải cầu nguyện với Ngài khi tôi nói về Ngài.

Quyền được giới thiệu Chúa cho nhân loại, tự nó là một ân sủng, thì không vì một lý do gì Chúa lại ngần ngại cho tôi ân sủng để tôi thực hiện được ân sủng giới thiệu về Chúa. Dựa vào ân sủng của Chúa để giới thiệu Ngài, thì chính khi giới thiệu Chúa là lúc tôi được thánh hóa. Chỉ ở điểm này mà giới thiệu về Chúa khác tất cả các hình thức giới thiệu khác. Người giới thiệu phải lắng nghe chính lời mình giới thiệu.

Như Yoan Tẩy Giả tự nhận mình phải nhỏ đi để Ðức Kitô lớn lên.(Ga 3, 30) Vì thế, bất cứ lời giới thiệu nào nói về Chúa mà trong đó vẫn thầm mong người nghe đến với mình thì đấy không phải nói về Chúa mà chỉ mong xây dựng liên hệ cho riêng mình.

Ðâu là khuôn mặt đích thực của Chúa Kitô để tôi giới thiệu?

Phúc Âm Yoan định nghĩa: "Chúa là tình yêu" (1Yn 4,16). Bởi vậy, bất cứ lời giới thiệu nào về Chúa Kitô mà không diễn tả lòng thương xót của Ngài, đấy là dấu hiệu nói cho tôi biết tôi đang giới thiệu sai về khuôn mặt của Chúa. Những hình ảnh: Chúa phạt! Chúa định cho tôi phải sự dữ! Chúa là quan tòa nghiêm khắc! là những hình ảnh mà con người đã làm vỡ vụn khuôn mặt thật của Chúa. Chúa của tình thương thì không thể là Chúa của sợ hãi. Chúa của tôi là Thiên Chúa trẻ trung, "chậm bất bình và hết sức khoan nhân" (Joel 2,13). Chúa của hy vọng vì "chung quanh tôi, bóng tối đã thành ánh sáng" (Is 42,16). Chúa yêu cuộc đời. Dọc theo Phúc Âm, chính Chúa Kitô đã tự bày tỏ khuôn mặt của Ngài rõ ràng:

- Chúa khóc trước mộ Lazaro (Yn 11,35).

- Chúa chạnh lòng khi thấy người ta đói (Mc 8,1-10).

- Chúa chữa người phung hủi, tật nguyền (Mc 8,22-36).

- Chúa ngồi cùng bàn với người tội lỗi (Mt 9,10-13).

- Chúa bênh vực người bị xã hội kết án (Yn 8,1-11).

- Chúa thích nói chuyện với con nít (Mt 19,14).

- Chúa là người chăn chiên đi tìm chiên lạc (Lc 15,4-7).

- Chúa là người cha đợi con hoang trở về (Lc 15,11-31).

"Chúa là tình yêu". Từ định nghĩa đó, lời giới thiệu trung thực về Chúa Kitô phải là lời ca ngợi về một Chúa của tình thương. Ðể nói về tình thương, tôi phải có kinh nghiệm vè tình thương. Ðể có kinh nghiệm về tình thương của Chúa, tôi phải đến với Ngài, mở rộng cõi lòng trước bàn tay giầu lòng nhân từ của Ngài. Nếu người con đi hoang không trở về thì chẳng bao giờ anh ta kinh nghiệm được tình thương của cha. Sám hối, trở về là thay đổi nội tâm khởi đầu mở đến cảm nghiệm lòng thương xót của Chúa. Không sám hối, không cảm nhận được xót thương. Không trở về không có gặp gỡ. Từ đó, lời giới thiệu về Chúa sẽ là một Thiên Chúa xa lạ, khô cằn.

Cách tôi có thể làm được để giới thiệu với người khác về tình thương của Chúa, là tôi chuyển thông kinh nghiệm tình thương của Chúa đối với tôi cho tha nhân. Cách chuyển thông chính xác nhất là tôi yêu tha nhân bằng lòng thành của tôi: "Nơi điều này ta biết được lòng mến: là Ðấng ấy đã thí mạng vì ta. Và ta, cũng phải thí mạng vì anh em" (1Yn 3,16).

*

* *

Lạy Chúa, xin cho con cảm nghiệm được lòng giàu xót thương của Chúa để con có thể giới thiệu với người khác về Chúa là một người Cha hay thương xót. Xin cho con làm chứng được tình thương ấy bằng thái độ, cách suy tư, lối sống biết chia sẻ của con với người đồng loại.
Chúa Cha là người nói rất ít. Lời giới thiệu của Chúa Cha quá ngắn. Ðiều đó nhắn nhủ con, để giới thiệu về Chúa, chưa chắc đã cần nói nhiều. Vì nói nhiều chưa chắc đã là nói hay. Nói hay mà không nói đúng thì chỉ làm người nghe thêm lạc lối. Ðể giới thiệu về Chúa, Chúa chỉ muốn con nói đúng. Khuôn mặt đúng nhất của Chúa là Thiên Chúa của lòng hay thương xót

Kính chuyển
Hồng

 
DOI SONG TAM LINH # 77 = NUOC MAT PDF Print E-mail

NHỮNG BÀI SUY NIỆM

- 07 -

Nước Mắt

Nói về nước mắt cũng khó như nói về tình yêu. Nói về nước mắt cũng khó như nói về đau khổ.

Tình yêu và đau khổ là những ngôn ngữ phải hiểu bằng con tim hơn bằng lời. Và nước mắt cũng thế.

Làm sao có thể tả được nỗi khổ của người vợ trẻ nghe tin chồng tử trận từ miền xa. Làm sao có thể nói được nỗi đau của cuộc tình phản bội. Làm thế nào để diễn tả được nỗi đắng của người con gái gặp trầm luân trên biển cả. Ðó là nước mắt và đau khổ. Không có ngôn ngữ nào nói về những dòng nước mắt đó cho đủ.

Nước mắt của đau khổ tự nó là một ngôn ngữ. Một thứ ngôn ngữ không có văn phạm. Vì nước mắt là ngôn ngữ không có văn phạm nên ai cũng có thể đọc được. Người giàu khóc. Kẻ nghèo cũng thế. Người trí thức, kẻ quê mùa, ai cũng có lúc khóc. Nước mắt và đau khổ là ngôn ngữ chung. Người từ phương đông cũng có thể gặp kẻ từ phương tây, trong ngôn ngữ ấy. Mình có nước mắt và thấy người khác có nước mắt.

Nước mắt là ngôn ngữ chung. Nhưng đọc được không có nghĩa là hiểu được. Từ đọc được đến hiểu được vẫn còn là chặng đường dài. Dòng nước mắt này không có văn phạm để đọc, nhưng lại có văn phạm để hiểu. Văn phạm để hiểu những dòng nước mắt của đau khổ là con tim. Nhìn một người khóc, tôi biết đó là nước mắt. Tôi đã đọc được. Nhưng tôi có hiểu dòng nước mắt đó không lại là một chuyện khác. Ðã bao lần tôi thấy người khóc, nhưng tôi vẫn bình thản. Ðã bao lần tôi thấy nước mắt chảy, nhưng chẳng có nghĩa gì đối với tôi. Cũng có những lần tôi không muốn nhìn nước mắt. Nước mắt đau khổ là ngôn ngữ chẳng cần học cũng nhìn thấy, nhưng chẳng bao giờ hiểu được nếu không học. Ðể hiểu dòng nước mắt đó phải học bằng con tim của yêu thương và tâm hồn của chia sẻ.

Nỗi đau đã nói bằng nước mắt, thì để hiểu cũng cần trả lời bằng nước mắt. Nhưng người ta chẳng trả lời được bằng nước mắt nếu người ta không học yêu thương và chia sẻ. Ðây là bài học khó nhất trong đời. Nhận ra nước mắt đau thương ở chung quanh mình đã là điều khó. Học để chấp nhận dòng nước mắt ấy và để dòng nước mắt ấy hòa vào cuộc sống của mình lại càng khó hơn. "Nơi điều này mà ta biết được lòng mến: là Ðấng ấy đã thí mạng mình vì ta. Và ta, ta cũng phải thí mạng mình vì anh em" (1Yn 3,16). Khi Thiên Chúa yêu, Ngài yêu đến cùng. Bởi đó, yêu thương là bài học không có ngày ra trường, nó giai giẳng cả đời. Bài học này không có chứng chỉ xác nhận, vì có ai chỉ yêu thương một lần là xong?

Một người khóc với nỗi đau của tôi, tôi thấy bớt khổ hơn khi họ chỉ nói về nỗi đau của tôi. Họ chẳng nói gì, chỉ im lặng thôi, nhưng nhìn trong đôi mắt cảm thông của họ, tôi có can đảm. Họ không cho tôi gì cả, nhưng tôi thấy mình lãnh nhận. Dòng nước mắt của tôi là yếu đuối thì dòng nước mắt của họ lại là sức mạnh cho tôi. Ðó là sự nhiệm mầu của nước mắt, và ở chỗ đó, nước mắt là ơn thánh. Trong thơ gởi tín hữu Roma, Thánh Phaolô viết: "Vui với ai mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu" (Rom 12,15). Lời nói thì dễ, quà tặng cũng có thể mua. Khóc thì thật khó, vì nước mắt là mức độ rung cảm sâu xa nhất của con tim, và cũng chính vì chỗ đó, nước mắt là hồng ân. Ðể hiểu được nước mắt của người khác và nói với họ bằng nước mắt của mình là một con đường tử nạn Jerusalem. Người đứng xem thì nhiều, nhưng kẻ khóc thì chẳng có bao nhiêu.

Nước mắt ở đâu?

Trong trại tị nạn, tôi thấy có những tâm hồn lạc lõng, không người thân, không tiền bạc. Biển chiều là những nỗi vắng khôn nguôi. Họ ngồi một mình, im lặng, nhìn về biển mà khóc. Trong khi đó, có người mang theo được vàng bạc, có thân nhân, họ bình thản bên quán cà phê, mơ ngày đi sắm đồ ở Hong Kong, Bangkok. Họ chẳng thể hiểu được những dòng nước mắt kia. Vì muốn hiểu, họ phải mời dòng nước mắt đó một ly cà phê, một tấm áo mặc. "Kẻ nào có của đời này và thấy anh em nó lâm phải túng thiếu, lại khóa lòng dạ lại đối với anh em nó thì làm sao lòng mến của Thiên Chúa lưu lại được trong nó? (1Yn 3,17). Hai ngàn năm trước, họ đã chẳng hiểu mồ hôi và nước mắt Chúa Kitô trên đường tử nạn vì họ là kẻ đứng bên lề để xem.

Nước mắt ở đâu?

Ở trong những tâm hồn tan nát. Có những vết thương đau đớn của một đời người. Những người thiếu nữ gặp trầm luân trên biển cả. Họ đau khổ. Trong khi đó, có người đem những chuyện đó để mua vui. Họ chẳng thể hiểu được dòng nước mắt kia. Vì hai ngàn năm trước họ cũng đã lột trần Ðức Kitô và cười với nhau. "Khi chế diễu Ngài rồi, thì họ cởi chiếc nhung y đi, cho Ngài mặc lại áo của Ngài, rồi họ điệu Ngài đi mà đóng đinh trên thập giá" (Mt 27,31). Ðóng đinh kẻ khác cũng là thú vui của một số người.

Nước mắt ở đâu?

Có những tâm hồn lầm lỡ, chỉ vì yếu đuối mà chua xót. Họ muốn quên đi cái quá khứ bất hạnh ấy. Nhưng có kẻ biết chuyện lại đem nói cho người khác hay để tỏ ra sự hiểu biết của mình. Họ chẳng thể hiểu được nỗi đắng cay kia. Vì, hai ngàn năm trước họ đã muốn ném đá người đàn bà ngoại tình (Yn 8,5). Ðối với một số người, nói những khuyết điểm của kẻ khác là hình thức để nói mình trong sạch. Họ chỉ thua cuộc khi bị phơi trần trước mặt Ðức Kitô.

Hai ngàn năm trước là thế, hôm nay cũng vậy, tôi thấy nhiều người khóc, nhưng tâm hồn tôi chẳng rung cảm. Làm sao có thể rung cảm, làm sao có thể hiểu được khi tôi chỉ đứng xem người vác thập giá chứ tôi không vác thập giá.

*

* *

Trong tình yêu cũng có nước mắt. Mai Ðệ Liên đã khóc: "Ðứng đàng sau phía chân Ngài, bà khóc nức nở" (Lc 7,38). Phêrô đã khóc vì chối Thầy: "Và Phêrô nhớ lại lời Ðức Kitô đã báo: Trước khi gà gáy, ngươi đã chối Ta ba lần. Và ra ngoài ông khóc lóc thảm thiết" (Mt 26,75). Phêrô không nói gì với Chúa khi Chúa nhìn, nhưng chỉ khóc. Mai Ðệ Liên cũng vậy. Họ chẳng nói nhưng nước mắt đã nói tất cả. Ðó là những giọt nước mắt sám hối. Những giọt nước mắt khi biết mình lỗi lầm bao giờ cũng có giá trị cứu rỗi.

Eva đã lỗi phạm. Khi Chúa hỏi thì Eva đổ lỗi cho con rắn. Bà đã không khóc.

Adong đã lỗi phạm, Khi Chúa hỏi thì Adong đổ tội cho Eva. Ông đã không khóc.

Tội kế đến xẩy ra trong gia đình đầu tiên của nhân loại là Cain giết em mình. Khi Chúa hỏi em mình đâu, Cain trả lời: "Tôi không biết! Tôi là người giữ nó à?" (Kn 4,9). Chàng đã không khóc.

Ôi! Những dòng nước mắt đã hiếm hoi làm sao. Vì thuở ban đầu đã thiếu nước mắt ăn năn, nên bây giờ nước mắt gian truân ở khắp chốn.

Nước mắt đã làm động lòng Thiên Chúa. Nước mắt xóa nhòa quá khứ. Nước mắt mở cửa tương lai. Nước mắt làm hạnh phúc phục sinh.

Có những dòng nước mắt hiếm hoi bao nhiêu, thì dường như, cũng có những dòng nước mắt dư thừa bấy nhiêu. Có người khóc vì mất một số của cải, nhưng lại chẳng khóc khi mất Chúa. Có người khóc vì bị ngăn cản một ước mơ không chính đáng, nhưng lại chẳng khóc khi bỏ lỡ một giấc mơ chính đáng đã đi qua mà không thực hiện.

Lạy Chúa, để hiểu dòng nước mắt đau khổ, con phải học thứ văn phạm của ngôn ngữ đó, đó là một trái tim yêu thương, một cõi lòng có Chúa ngự, một tâm hồn không đứng xem Chúa vác thập giá mà xuống đường vác thập giá với Chúa.

Nước mắt có cần không?
Khóc là một ân huệ. Những trái tim bằng gỗ không thể khóc. Những tâm hồn lạnh lùng cũng chẳng thể rung cảm. Xin hãy dạy con biết khóc như Phêrô, đừng chai đá như Cain. Nước mắt có thể tha thứ mọi lỗi lầm của con. Và, Nước Trời đã mở cửa cho con cả hai lối. Con có thể vào một cách anh hùng như các thánh tử đạo, con cũng có thể vào bằng tiếng khóc như Mai Ðệ Liên

Lm Nguyễn tầm Thường, SJ.
Kính chuyển
Hồng

 
DOI SONGTAM LINH # 61 = THANH GIA LA GÌ ? PDF Print E-mail

Jan 20 at 10:25 AM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

(Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện

của Linh Mục Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

- 06 -

Thánh Giá

Thánh Giá là gì?

Tôi nhìn thấy thánh giá mỗi ngày. Tôi nghe nói về thánh giá rất thường. Thánh giá trên tháp chuông. Thánh giá trên bàn thờ. Thánh giá bán trong tiệm. Thánh giá ngoài nghĩa trang. Thánh giá trên tường đá. Thánh giá trong nghệ thuật. Thánh giá trong thi ca. Thánh giá ở khắp nơi. Nhưng thánh giá là gì? Ðể tìm câu trả lời không phải là vấn đề đơn giản. Có nhiều ýnghĩ khác nhau về thánh giá. Tùy theo mỗi người mà thánh giá có giá trị khác biệt.

*

* *

Thánh giá bằng vàng thì giá trị hơn bằng gỗ. Thánh giá vàng cũng tùy theo to nhỏ mà giá đắt hay rẻ. Người mua trả giá để được bớt. Người bán thì lại mong giá cao. Người có tiền thì mua thánh giá vàng tốt. Kẻ ít tiền thì mua vàng dở. Họ lừa nhau, không cẩn thận thì mua phải thánh giá vàng giả. Ai cũng muốn thánh giá vàng. Họ vất vả, đam mê kiếm tiền để tích trữ loại thánh giá này. Khi mất thì đau khổ tiếc xót. Thánh giá là đơn vị kinh tế để ấn định tiền bạc. Thánh giá xác định sự giàu có.

*

* *

Thánh giá cũng được dùng để trang điểm. Họ đeo từng chùm thánh giá trên vành tai, bên mái tóc nhuộm xanh, đỏ. Người thích thì không sao, người không ưa thì lúc đó kẻ đeo thánh giá bị khinh bỉ. Có người thích trang điểm bằng thánh giá trên giây chuyền vàng. Họ đeo thánh giá ở dạ hội, ở tiệc cưới, ở các buổi tiếp tân. Lúc đó, ý nghĩa của thánh giá để kéo kẻ khác chú ý đến mình. Và cũng có những thánh giá trên vùng ngực hở hang. Lúc ấy, thánh giá nằm trong duyên cớ của những rung cảm cám dỗ. Người có thánh giá để trang điểm thì hãnh diện. Kẻ không có thì thèm muốn. Thánh giá lúc này là xúi đẩy của lòng tham.

*

* *

Thánh giá ở ngoài nghĩa trang thì vắng lặng, ít ai nhìn. Thánh giá bị mưa lạnh, bị nắng gay gắt. Thánh giá vàng thì được săn sóc, giữ gìn cẩn thận. Thánh giá ở ngoài nghĩa trang có thể gẫy đổ từ lâu nhưng chẳng ai để ý. Nhưng nếu Chúa ở trên thánh giá đó thì được tự do ngắm mây trời. Có cái hoang lạnh của buổi chiều mưa phùn, nhưng cũng có thể có tiếng hót của một cánh chim nào đó dừng chân hát vui. Có thể là sương rơi, là gió bão, nhưng Chúa không ngột ngạt vì hương phấn như những thánh giá vàng trên ngực, trên cổ của con người. Thánh giá ngoài nghĩa trang thì không được săn sóc, nhưng Chúa có tự do để thảnh thơi nhìn hoa nở, nhìn nắng bay. Thánh giá trên giây chuyền để trang điểm thì Chúa bị người ta nhìn, và nhiều khi nhìn bằng những ánh mắt thiếu trong sạch.

*

* *

Cũng có nơi thánh giá được dùng để xuống đường. Họ vác thánh giá không phải để lên đồi chịu đóng đinh, nhưng để đi biểu tình và đóng đinh kẻ khác. Thánh giá với khẩu hiệu. Thánh giá với những bàn tay nắm chặt hận thù. Thánh giá đằng đằng trước mũi súng. Thánh giá để đánh nhau. Thánh giá bây giờ là phương tiện tranh đấu. Nếu Chúa nằm trên thánh giá đó chắc Chúa sợ lắm. Suốt cuộc đời, Ngài chỉ dậy các môn đệ của Ngài cách chết chứ chẳng bao giờ dậy cách chiến đấu.

Các nhà lãnh tụ thì dậy kẻ theo họ chiến thuật tranh giành ảnh hưởng. Họ phải biết làm sao để áp đặt kẻ thù. Họ phải học cách tiêu diệt đối phương. Thày Giêsu chỉ dậy môn sinh của mình phải chuẩn bị chết (Mt 21,12-13). Vì thế, khi thánh giá bị vác xuống đường biểu tình, chắc hẳn Chúa phải luống cuống lắm vì Ngài nào có biết gì.

*

* *

Có thánh giá trên lầu chuông gỗ, có thánh giá trong bảo tàng viện. Thánh giá trên lầu chuông thì có khi phủ bụi mờ, mạng nhện che kín. Thánh giá không có người săn sóc, nhưng chiều chiều có tiếng chuông phổ nhạc. Sáng sáng có lời chuông đưa kinh. Con người bỏ Chúa phủ bụi nhưng có đàn bồ câu bay về, đậu xuống chuyện trò. Thánh giá trong bảo tàng viện là thánh giá qúy. Họ canh giữ cẩn thận. Nhưng khi được con người canh giữ cẩn thận thì Chúa trên thánh giá đó có nhiều lo âu. Người ta rình mò ăn cắp. Thánh giá bị đặt trong lồng kính. Nếu Chúa ở đó chắc ngột ngạt vì bị giam hãm. Ngày ngày, hàng ngàn con mắt đi qua dòm ngó. Nếu Chúa ở đó chắc Chúa bối rối lắm. Chúa trên thánh giá gỗ xấu xí thì lại được tự do. Chúa trên thánh giá mà được loài người giữ gìn quý hóa lại là một cõi tù đầy.

*

* *

Người Kitô hữu nhận thánh giá để phân biệt mình khỏi tôn giáo khác. Giữa những người Kitô hữu, tu sĩ lại đeo thánh giá để phân biệt họ không là giáo dân. Giữa tu sĩ, thánh giá cũng được để phân biệt trên nhẫn bạc, trên gậy cầm để nói ai là thầy thượng phẩm chức vị, ai là tu sĩ thường. Như vậy, thánh giá cũng được dùng để là dấu hiệu phân biệt. Những ngày còn sống, Chúa lao tác mệt nhọc, nhưng không phải để xây đền thờ. Chúa vất vả đi mòn lối trên bụi đường Galilêa nhưng không phải để may cờ, dán bích chương hầu loan báo một tôn giáo mới. Chúa xây dựng Nước Thiên Chúa trong tim con người. "Chính nơi điều này mà mọi người sẽ biết các con là môn đệ Ta: ấy là các ngươi có lòng thương mến lẫn nhau" (Yoan 13,35). Tình yêu vô hình, không nhìn thấy thì Chúa lại bảo lấy làm dấu hiệu cho người ta nhìn. Còn thánh giá hữu hình, ai cũng nhìn được thì Chúa lại chẳng chọn làm dấu hiệu.

Trên đường từ Jerusalem lên núi sọ có rất nhiều người nhìn Chúa vác thánh giá. Có nhiều kẻ đã được thừa hưởng ân huệ của Ngài, được Ngài chữa bệnh, được Ngài nuôi ăn nhưng họ không vác thánh giá đỡ Ngài. Không một môn đệ nào ghé vai gánh cho Thầy mình đỡ mỏi. Chúa đã nhiều lần qụy ngã vì yếu sức. Kẻ vác thánh giá đỡ Ngài là Simon, người xứ Kyrene (Lc 23,26). Phúc Âm không hề nói là ông Simon đã được thừa hưởng đặc ân gì của Chúa cả. Và có thể ông ta là một người ngoại giáo. Ðời là vậy, có nhiều kẻ theo Chúa nhưng để Chúa vác thánh giá một mình. Có kẻ trên danh nghĩa không là người theo Chúa nhưng lại nhờ họ mà Chúa đỡ khổ.

*

* *

Thánh giá là gì?

Có quá nhiều loại thánh giá:

- Thánh giá để trang điểm. Ðiều đó đúng.

- Thánh giá là đơn vị kinh tế tính bằng tiền bạc. Ðiều đó đúng.

- Thánh giá là phương tiện tranh đấu.

- Thánh giá có thể làm duyên cớ cho lòng thèm muốn tham lam.

- Thánh giá có thể để lôi cuốn, quyến dũ người khác.

- Thánh giá có thể bị quên lãng ngoài cánh đồng.

- Thánh giá cũng được gìn giữ cẩn thận trong tủ sắt khóa kín.

- Thánh giá để phân biệt chức vị trong xã hội.

Một câu hỏi mà có quá nhiều câu trả lời đúng thì câu trả lời thường là sai. Vì câu trả lời đúng nhất chỉ có một. Không bao giờ có hai cái đẹp nhất cũng như chẳng bao giờ có hai điều đúng nhất.

Người ta không thể tranh luận về thánh giá. Kẻ dùng thánh giá làm phương tiện tranh đấu thì không thể chấp nhận thánh giá là để đóng đinh mình. Kẻ muốn lấy thánh giá để làm dáng thì đối với họ thánh giá chỉ có nghĩa khi dùng để trang điểm. Ai chọn thánh giá để phân biệt mình với kẻ khác tôn giáo thì thánh giá mang mầu sắc một ký hiệu. Mỗi người nhìn thánh giá một cách khác nhau. Giá trị của thánh giá tùy thuộc cái nhìn của họ.

*

* *

Ðức Kitô nói về thánh giá như sau: "Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá của mình mỗi ngày mà theo Ta" (Lc 9,23). Vác thánh giá để đi theo một người chứ không phải để thỏa mãn tò mò về một người. Như thế thánh giá không phải là một định nghĩa để hiểu biết bằng trí tuệ mà phải hiểu bằng lối sống. Bởi đó, kẻ không theo Ngài thì sự hiểu biết tri thức về thánh giá chẳng có ý nghĩa gì. Kẻ đã theo Ngài thì không cần tìm định nghĩa cho thánh giá. Vì đã theo Ngài thì biết thánh giá là gì rồi. "Về phần tôi, ước chi tôi đừng có vinh quang nơi một điều gì, trừ phi nơi thập giá của Chúa chúng ta" (Gal 6,14).

Tôi nói với người ta về thánh giá. Tôi cũng nghe kẻ khác nói với tôi về thánh giá. Tôi nhìn thánh giá mỗi ngày mà tôi đâu thấy vinh quang. Cuộc sống vẫn đầy rẫy trầm luân của nó. Như vậy thánh giá nào mới cho tôi hy vọng?

Giữa bao nhiêu loại thập giá, thánh Phaolô chọn có một. Ðó là thập giá của Chúa chúng ta.

Như thế, không phải thập giá nào cũng có vinh quang. Ðiều ấy cũng hàm ý là có nhiều thánh giá giả. Nếu phân biệt được thánh giá thật giữa thánh giá giả thì người ta sẽ hiểu được vấn đề sau đây.

Vấn đề là người ta phàn nàn về thánh giá. Khi gặp điều bất hạnh, người ta hay nói: Ðời tôi khổ quá! Chúa gửi thánh giá cho tôi!

Phúc Âm kể rằng Chúa bị điệu ra công trường, bị nhổ vào mặt, bị xỉ nhục, bị tát, bị đội vòng gai, bị cười. Người ta làm thập giá, bắt Ngài vác đi rồi đóng đinh Ngài trên thập giá đó (Mc 15,16-20; Mt 27,27-31; Yn 19,1-3). Như thế, thập giá trong ý nghĩa bất hạnh là sản phẩm của con người. Con người đã có sáng kiến chế ra thập giá để đóng đinh Chúa. Nếu thập giá là sản phẩm của con người thì phải nói con người đã gởi thập giá cho Chúa, chứ Chúa làm gì có thập giá mà gởi cho con người?

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ.

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 Next > End >>

Page 49 of 59