mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4050
mod_vvisit_counterHôm Qua15981
mod_vvisit_counterTuần Này29790
mod_vvisit_counterTuần Trước85007
mod_vvisit_counterTháng Này39771
mod_vvisit_counterTháng Trước339420
mod_vvisit_counterTất cả17259563

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hôn Nhân và Gia Đình
HON NHAN VA GIA DINH # 34 = PHUC AM HOA GIA DINH PDF Print E-mail

Feb 13 at 8:22 PM
«TÂN PHÚC ÂM HÓA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH»
Tuesday, 11 February 2014 07:14 Giêrônimô Nguyễn Văn Nội ~

[ĐỀ TÀI HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ]

I. Mở đầu:

Mọi người trong anh chị em chúng ta đều biết Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) đã chọn Năm 2014 làm Năm «Phúc âm hóa (hay Tân Phúc âm hóa) đời sống gia đình» (PAHĐSGĐ hay TPAHĐSGĐ) tức chọn việc PAH ĐSGĐ làm đường hướng và hoạt động mục vụ trong Năm 2014.

Tại sao HĐGMVN lại có chọn lựa này?

Tôi thấy có 2 lý do:

· một là nhiểu giáo dân, nhiều gia đình công giáo Việt Nam chưa hiểu thấu và nhất là chưa sống đầy đủ «ơn gọi và sứ mạng của người và của gia đình công giáo»;

· hai là nhiều giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam đã và đang bị xuống cấp trầm trọng trong bối cảnh kinh tế, xã hội và chính trị hiện nay của nước ta.

Vậy hôm nay chúng ta thử nhìn kỹ một số điểu cơ bản của chọn lựa của HĐGMVN.

II. Trình bày:

Thư Chung 2013 của HĐGMVN, nêu lên bốn điểm quan trọng đáng nghiên cứu sau đây:

- «Một là mục tiêu của Phúc-Âm-hóa là dẫn mọi người vào cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giê-su Ki-tô, trong Thánh Thần, nhờ đó gặp gỡ Thiên Chúa Cha của Người, cũng là Cha của chúng ta, và để đời sống mình được biến đổi theo tinh thần Phúc Âm. Như thế, trước hết chính bản thân chúng ta phải được Phúc-Âm-hóa, phải củng cố và làm mới lại đức tin của mình, rồi mới có thể giúp những anh chị em đã xa rời đức tin tái khám phá vẻ đẹp và ánh sáng đức tin. Ngày nay, khi một số người chỉ còn là Ki-tô hữu trên danh nghĩa, chúng ta hãy sống cho đúng với ơn gọi Ki-tô hữu của mình trong niềm vui, hãy chiếu tỏa sức hấp dẫn của Tin Mừng cho những người chung quanh» (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 3).

- Hai là "Tân Phúc-Âm-hóa" không phải là rao giảng một Phúc Âm mới vì "Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời" (Dt 13,8), nhưng là "mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả". Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giê-su Ki-tô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.

Công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa đòi duyệt lại toàn bộ các sinh hoạt mục vụ ở tất cả mọi bình diện, nghĩa là phải thực hiện cuộc hoán cải từ trong tâm thức đến định hướng và phương pháp khi làm mục vụ. Từ kinh nghiệm của các nước đã có nhiều Ki-tô hữu bỏ đạo, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện cuộc hoán cải mục vụ này, thì trong tương lai không xa, Hội Thánh tại Việt Nam cũng có thể rơi vào tình trạng băng giá của mùa đông đức tin như một số nơi trên thế giới.» (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 4).

- Ba là trong năm 2014 sắp tới, chúng ta hãy cùng nhau Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình và thúc đẩy gia đình tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin Mừng. «Hội Thánh được gọi là gia đình của Thiên Chúa và mỗi gia đình Kitô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia. Việc canh tân Hội Thánh phải được bắt đầu từ mỗi gia đình, do đó, Hội Thánh đặc biệt quan tâm đến các gia đình. Cách cụ thể, mới đây Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã loan báo triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa ngoại lệ vào tháng 10 năm 2014 về "Những thách đố mục vụ đối với gia đình trong bối cảnh Phúc-Âm-hoá". Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010 cũng nhấn mạnh: "Trước cuộc khủng hoảng gia đình hiện nay, Hội Thánh nhận thấy cần phải tăng cường và canh tân mục vụ gia đình, phải xem mục vụ gia đình là hoạt động quan trọng, nối kết những kế hoạch và chương trình mục vụ của giáo xứ cũng như giáo phận" (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 5).

«Để thực hiện những mục tiêu trên, xin anh chị em hãy xây dựng gia đình mình thành một cộng đoàn cầu nguyện, sống tình yêu hợp nhất thủy chung, phục vụ sự sống và hăng say loan báo Tin Mừng.»

(a) « Gia đình là cộng đoàn cầu nguyện, thờ phượng Thiên Chúa, đền thờ tại gia. Hiệp thông trong kinh nguyện vừa là hoa trái vừa là đòi hỏi của sự hiệp thông bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội và Hôn Phối. Chúa Giê-su hiện diện trong gia đình khi vợ chồng, cha mẹ, con cái cùng cầu nguyện, và khi đó, chính cuộc sống gia đình trở thành lời kinh sống động. Hoàn cảnh sống hiện nay gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc gia đình cùng sum họp cầu nguyện. Tuy nhiên đây là đòi hỏi quan trọng trong đời sống gia đình công giáo. Vì thế, cùng với việc siêng năng tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận các bí tích, chúng tôi tha thiết xin anh chị em duy trì giờ kinh chung trong gia đình, và cố gắng đưa Lời Chúa vào giờ kinh này.» (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 6).

(b) «Gia đình là cộng đoàn yêu thương bằng tình yêu hợp nhất thủy chung, xuất phát từ Thiên Chúa Tình Yêu. Mối tương quan giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như giữa anh chị em với nhau, phải là dấu chỉ sống động của Tình Yêu Thiên Chúa. Vì thế, các gia đình công giáo phải loại bỏ mọi thứ bạo hành, "hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau.» (Cl 3,12-13) (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 6).

(c) «Gia đình là cộng đoàn phục vụ sự sống, được khơi nguồn từ chính Thiên Chúa Hằng Sống. Vợ chồng Kitô hữu yêu thương nhau bằng một tình yêu mở ra với sự sống, tôn trọng sự sống ngay từ lúc thụ thai, cộng tác với Thiên Chúa Tạo Hóa qua việc sinh con có trách nhiệm, giáo dục con cái nên người tốt và nên con cái Chúa. Gia đình phải là ngôi trường đầu tiên dạy các đức tính nhân bản và đức tin, là thành trì bảo vệ sự sống thể lý cũng như tinh thần của con cái trước sự tấn công của cái ác và cái xấu trong cuộc sống. Vì thế, các bậc cha mẹ phải ý thức trách nhiệm của mình là những nhà giáo dục đầu tiên và không thể thay thế, bằng chính gương sáng của mình.» (Thư Chung HĐGM VN 2013, số 6).

(d) «Gia đình là cộng đoàn tham gia vào sứ vụ Phúc-âm-hóa, bằng lời cầu nguyện cũng như bằng hành động cụ thể. Chính đời sống yêu thương hiệp nhất trong gia đình công giáo, ngay giữa những khó khăn và thử thách của cuộc đời, tự nó đã là lời chứng âm thầm nhưng có sức thuyết phục của Tin Mừng. Ngoài ra, theo truyền thống tốt đẹp, gia đình công giáo còn là nơi vun trồng ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đồng thời, khi có thể, xin anh chị em hãy mạnh dạn chia sẻ và giới thiệu Đức Ki-tô cho người khác.» (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 6).

- Bốn là HĐGMVN đề nghị một số việc mục vụ sau:

+ Đề nghị 1: «Việc chuẩn bị cho giới trẻ bước vào đời sống hôn nhân và gia đình là đòi hỏi khẩn thiết hơn bao giờ hết. Các bạn trẻ cần ý thức và sống đời hôn nhân như một ơn gọi và sứ mệnh cao quý, được chọn lựa với ý thức, tự do và trách nhiệm. Đôi bạn Kitô hữu còn được mời gọi sống bí tích Hôn Phối như dấu chỉ hữu hình và hữu hiệu của tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh, một tình yêu phong nhiêu, duy nhất và bất khả phân ly. Để được như thế, cần có sự chuẩn bị xa, chuẩn bị gần, và chuẩn bị trực tiếp cho các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân.

Trong bối cảnh có nhiều biến động về văn hóa-xã hội ngày nay, chúng tôi thiết nghĩ cần phải nhắc lại chân lý này: định chế gia đình đặt nền tảng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Định chế này dựa trên bản tính con người, do chính Thiên Chúa thiết lập, hướng đến thiện ích của chính gia đình và xã hội; vì thế, mọi cá nhân và tập thể xã hội cần nhìn nhận và tôn trọng định chế này.» (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 7).

+ Đề nghị 2: «Đồng hành với các gia đình trẻ ngày nay là yêu cầu mục vụ quan trọng, để giúp họ sống tình yêu vợ chồng với tinh thần trách nhiệm, phục vụ sự sống, biết hòa hợp tình thương trong tổ ấm gia đình với trách nhiệm xây dựng Hội Thánh, xã hội và đất nước.

Với những anh chị em đang gặp khó khăn vì hôn nhân đổ vỡ và gia đình ly tán, một đàng chúng ta vẫn phải nêu cao lý tưởng đời sống hôn nhân công giáo, đàng khác phải đồng hành và nâng đỡ họ, thay vì bày tỏ thái độ lên án và loại trừ.» (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 7).

+ Đề nghị 3: «Hiện nay, có nhiều nhóm, hiệp hội, phong trào tu đức và tông đồ đang dấn thân chăm lo mục vụ gia đình theo những cách thế và mức độ khác nhau. Những phong trào này cần được các mục tử đồng hành và hướng dẫn, nâng đỡ và khích lệ, để họ góp phần cách cụ thể và hài hòa với chương trình mục vụ chung trong mỗi giáo xứ, giáo phận.» (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 7).

+ Đề nghị 4: «Các giáo phận nên quan tâm đến việc đào tạo giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân chuyên trách mục vụ gia đình. Những người này sẽ cộng tác với các giám mục giáo phận trong việc xây dựng và triển khai những chương trình mục vụ gia đình trong giáo phận cũng như giáo xứ. Chúng tôi cũng muốn gửi lời kêu gọi đặc biệt đến anh chị em văn nghệ sĩ và giới truyền thông công giáo. Ước mong anh chị em vận dụng tài năng Thiên Chúa ban, để tôn vinh vẻ đẹp đích thực của tình yêu hôn nhân và gia đình. Các linh mục tương lai cũng cần được chuẩn bị chu đáo hơn về mục vụ gia đình, để có thể đồng hành với các gia đình cách hữu hiệu.» (Thư Chung HĐGMVN 2013, số 7).

III. Chia Sẻ:

3.1 Sau khi nghe trình bày [hay đọc] những đoạn văn trên của Thư Chung 2013 của HĐGMVN, anh chị thấy ưng ý (tâm đắc) điều gì nhất? Xin mời chia sẻ.

3.2 Công cuộc «Tân Phúc Âm hóa đời sống gia đình» gặp phải những khó khăn trở ngại to lớn nào trong hoàn cảnh xã hội và Giáo hội Việt Nam ta hiện nay?

3.3 Trong các giải pháp hay đề nghị mà HĐGMVN đưa ra giải pháp hay đề nghị nào là quan trọng nhất?

3.4 Theo các Anh Chị thì còn có giải pháp nào khác cơ bản hơn và được xem là chìa khóa mở vào công cuộc «Tân Phúc âm hóa đời sống gia đình» một cách hiệu quả nhất. Giải pháp đó là gì?

3.5 Anh Chị có muốn chia sẻ một kinh nghiệm thành công hay thất bại của đời sống gia đình mình không với các Anh Chị khác không? Xin mời chia sẻ.

Ghi chú:

Khi phát biểu xin quý Anh Chị nói vắn gọn, khúc triết, nêu lên một hai điểm cốt yếu của vấn đề.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội [gợi ý)

Kính chuyển
Hồng

 
HON NHAN VA GIA DINH # 33 = CÓ LAM MOI CO AN PDF Print E-mail

Có làm mới có ăn

Cuộc sống luôn đòi chúng ta chọn lựa. Chọn lựa để vươn lên. Chọn lựa để vượt ra khỏi những gì bình thường mà chọn cách sống khác hơn. Có chọn lựa nên có đổi thay. Chính những cái đổi thay khiến người ta ngại chọn lựa bởi phải sống khác hơn. Người ta vẫn cứ "an phận thủ thường" là chắc ăn.

Chuyện kể rằng: có hai con vật lừa và ngựa sống với nhau. Một ngày kia, có một tay cao bồi xuất hiện và hỏi hai con vật: "Trong hai ngươi, ai là kẻ muốn theo ta đi thám hiểm thế giới. Ta không hứa hẹn một cuộc sống no đủ như ở cái chuồng bé tẹo này. Nhưng ta hứa hẹn một cuộc sống đầy thú vị vì được làm chủ chính mình. Và nếu cố gắng đủ, thì có thể sẽ có được một cuộc sống dư giả gấp nhiều lần cuộc sống này".

Con lừa – một trong hai con vật – liền kêu lên: "Ôi, tôi không đi đâu. Dại gì mà đánh đổi cuộc sống an toàn và ổn định này, để lấy một tương lai không biết trước chứ. Hay là ông muốn dụ tôi đi để có người cho ông cưỡi, có người để chết chung với ông? Tôi không có ngu đâu nhé".

Con ngựa – con vật còn lại – thì rất háo hức trả lời: "Tôi! Tôi! Tôi muốn đi và muốn khám phá. Tôi chán cuộc sống gò bó và tẻ nhạt này lắm rồi." Nói xong, nó theo người cao bồi bước ra khỏi cái chuồng nhỏ và đi mãi, đi mãi về phái chân trời.

Một ngày nọ, khi đã già, con lừa gặp lại con ngựa khi nó quay trở về cái chuồng nhỏ. Mừng rỡ, con lừa reo lên:

- A, anh ngựa, anh đã về đấy ư. Lâu quá rồi nhỉ, chúng ta đã già cả rồi.

- Đúng vậy, chúng ta già hết cả rồi. Tôi cũng đã mệt mỏi nên không muốn phiêu lưu nữa nên quyết định về thăm anh. Cuộc sống anh thế nào rồi? – Ngựa hỏi.

- Cũng vẫn vậy thôi. Làm việc chăm chỉ và được no đủ. Nhưng tôi đã già rồi, nên cũng không còn làm được nhiều nữa. Cũng may ông chủ thương tình nên vẫn cho tôi ăn. – Lừa nói – Vậy còn những chuyến phiêu lưu của anh thì sao?

- Ồ, nó thật thú vị. Tôi đã được đi đến những miền đất lạ, nơi nắng cháy và khô cằn. Tôi đã băng qua những vùng chiến sự và những miền thiên tai hoành hành, có lúc tưởng chết đi được. Nhưng sau những cố gắng, tôi cũng được nếm trải sự hạnh phúc khi được tự do chạy trên cánh đồng đầy cỏ ngọt và được học hỏi những điều kì lạ. – Ngựa kể với một niềm tự hào.

Thực ra, con ngựa và con lừa đều phải đi. Con ngựa thì đi quanh thế giới. Con lừa thì chỉ quanh quẩn cái cối xay. Con ngựa thì tự do và có trách nhiệm về bản thân mình. Con lừa thì bị cột chặt vào cối xay và cũng chẳng có trách nhiệm gì về mình vì thiếu tự do. Con lừa an phận nên sống vật vờ, sống nhờ lương thực người khác ban cho. Con ngựa luôn sống cho chính mình để được hưởng thành quả do chính mình làm nên.

Cha ông ta vẫn nói "Có làm thì mới có ăn – Không dưng ai dễ mang phần cho ta". Con lừa vì không dám thay đổi, không cầu tiến, an phận nên chỉ sống nhờ lòng thương xót hay bố thí của người khác. Còn con ngựa biết vươn lên, biết sống có trách nhiệm với chính mình nên nó được hưởng niềm vui do chính công sức lao động của nó làm ra,

Cuộc đời con người cũng chỉ có của ăn của để khi biết vượt ra khỏi sự lười biếng để dấn thân vào cuộc sống kiếm tìm miếng cơm manh áo. Không có cuộc kiếm tìm nào mà không đòi phải hy sinh, phải nỗ lực. Một cuộc kiếm tìm càng khó, càng đòi nhiều công sức thì thành quả càng to lớn và giá trị. Và giá trị của một con người cũng hệ tại ở việc mình đã làm, đã cống hiến gì cho gia đình, cho xã hội. Con người càng cống hiến nhiều càng có giá trị trong gia đình và xã hội.

Bên cạnh sự nỗ lực bản thân, niềm tin ky-tô giáo còn mời gọi chúng ta tin vào sự quan phòng của Chúa. Thiên Chúa luôn hoạch định cho cuộc đời chúng ta, nhưng liệu chúng ta có dám mạo hiểm bước theo Chúa hay không? Sự thành công của chúng ta còn tùy thuộc vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Cha ông ta cũng bảo "Mưu sự tại nhân – Thành sự tại thiên". Lời Chúa cũng từng nhắc nhở chúng ta: "Nếu Chúa chẳng xây nhà , thợ nề vất vả cũng bằng uổng công".

Thế nên, ngày đầu năm mới chúng ta hướng về Đấng tạo thành để tạ ơn về một năm "mưa trời ân phúc" đã ban xuống cho trần gian. Chúng ta cũng phó dâng một năm mới cho lòng thương xót của Chúa. Xin Chúa là Đấng đầy quyền năng và đầy lòng thương xót chúc lành cho một năm mới với bao dự định, công việc được toàn vẹn như ý. Xin Chúa Xuân ở lại nơi từng gia đình để niềm vui được kéo dài vô tận trong suốt ngày sống. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Kính chuyển

Hồng

 
HON NHAN VA GIA DINH # 32 = MUNG MOT TET PDF Print E-mail

Mùng Một Tết: Lễ Minh Niên
Cầu Bình An Cho Năm Mới
(Mt 6,25-34)

Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người đóng góp công lao nhiều nhất việc hình thành "Chữ quốc ngữ", trong cuốn Hành trình và truyền giáo - divers voyages et Mission xuất bản ở Paris vào năm 1653 bằng tiếng Pháp, ghi nhận một tập tục đặc biệt ở Annam (tức miền Trong , vao thời đó chỉ vùng đất từ Miền Trung trở vào Nam): Vào ngày Mồng Một Tết Nguyên Đán, người dân và cả những quan lớn, theo vua chúa đi tế Trời ở Nam Giao. Nam Giao là nơi vua chúa và thần dân hướng về phía nam (nơi có Trời ngự), để gặp gỡ giao hòa với Trời qua việc dâng lễ vật để tỏ lòng hiếu kính, dâng sớ để trình tấu việc đất nước và cầu Trời ban phước lành tức là cầu bình an cho quốc dân.
Việc Tế Nam Giao dầu có mang dáng dấp đa thần, nhưng cầu Trời là Chúa Tể Càn Khôn, Đấng cao cả vượt trên hết chư thần. Đây cũng là niềm tin của Do Thái Giáo từ xa xưa, như trong Kinh Thánh tuyên yi1n: "Thiên Chúa chúng ta vượt trên hết chư thần" (Tv134,5). Bàn thờ được lập lộ thiên không có tượng ảnh rất gần với truyền thống tổ phụ đã làm trong Kinh Thánh Cựu Ước, cũng như sau này phù hợp với cách cắt nghĩa của Phaolô: "Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ, không ngự trong những điều do tay người phàm làm nên" (Cv17, 14-15)
Ý nghĩa nghi lễ Nam Giao: Dù thuộc về tính dân tộc Việt, nhưng được xem là nghi thức có tính Thiên Chúa Giáo nhất. Từ việc quan niệm vua là "Thiên Tử" (con Trời) đến việc vua phải trai giới để bước vào tế Trời, và chỉ có mình "Thiên Tử" mới được tế Trời mà thôi, cho thấy nhiều nét thần học cơ bản sau đây: Kinh Thánh Cựu Ước nói nhiều đến việc các vị đại diện cho dân đến gặp gỡ Thiên Chúa luôn luôn phải thanh tẩy mình (x. Xh 18, 10-15; Đn l8, 21; 2Sm 13,20...). Về sau trong Kitô giáo việc này được thay thế bằng việc chuẩn bị tâm hồn khi bước vào nghi lễ phụng vụ.
Niềm tin vào ông Trời thể hiện qua tế Nam Giao. Tế tự chính là cách biểu lộ niềm tin, từ những lời cầu nguyện riêng tư đến cách tế tự có tính cách cộng động. Tế Nam Giao là một cách thể hiện niềm tin vào sự hiện hữu của Trời có tính cách cộng đồng quy mô nhất cấp quốc gia.
Niềm tin vào Trời đã ăn sâu vào tâm thức người Việt có từ rất xa xưa với nhiều quan niệm khác nhau, phần lớn quan niệm Trời phù hợp với cuộc sống và các hiện tượng. Riêng trong tế Nam Giao lại cho thấy bản tính siêu việt và chức năng của Trời: là Đấng sáng tạo càn khôn, quan phòng mọi sự và phân xử công minh cầm cân nảy mực.
Phong tục Tế Trời vào ngày mùng một tết này vẫn giữ đến hôm nay vào các ngày lễ tết người ta đi chùa hoặc nhà thờ hái lộc của Trời và cầu bình an cho ca một năm. Cho nên ngày Mùng một tết là ngày Minh Niên Cầu bình an....
Truyền thống văn hóa Việt Nam từ ngày xưa lấy ngày đầu tiên của năm là ngày mồng một và buổi sáng sớm của ngày đó thành một cụm từ "Tết Nguyên Đán". Người ta tin rằng những gì tốt đẹp được làm vào ngày khởi đầu của một năm bao giờ cũng đem lại sự may mắn, thành đạt trong cả năm.
Ngày tết người ta đi hái lộc, từ ngàn xưa người dân Việt ngày tết đi lễ đình, chùa, miếu, điện khi cầu nguyện xong, người ta có tục hái trước cửa đình, cửa đền một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ý là "lấy lộc" của trời đất, của thần phật ban cho. Trong truyền thống đó, ngày hôm nay mỗi người chúng ta cũng được hái lộc, đó là lộc hồng ân của Thiên Chúa muốn chúng ta sống trong ân sủng. Hãy chờ lộc Chúa muốn những điều gì trong năm mới qua những câu Lời Chúa mà chúng ta hái được.
Thắm nhuần hồng ân Trời, ngày tết người ta chúc tuổi cho nhau, riêng với chúng ta - những người mang niềm tin Kitô giáo, lời cầu chúc mặc lấy tâm tình của thánh Phaolô: "Tất cả anh em hãy hôn chào nhau một cách thánh thiện. Chúc anh em được đầy ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (1 Tx 5,26-28). Năm mới xuân sang, chúng ta cũng chúc tuổi nhau và cùng nhau chúc tuổi Thiên Chúa, ngày đầu năm xin Ngài cũng lì xì cho chúng ta: Sức khỏe, tình yêu gia đình trong đời sống hằng ngày, là công ăn việc làm bình an... Như lời cầu nguyện của thánh lễ Tân Niên: "Cúi xin Chúa mở lượng hải hà, ban cho hết mọi người chúng con trong năm này được bình an mạnh khỏe, càng thêm tuổi càng thêm nhân đức hầu đáng hưởng phúc lộc dồi dào".
Cuộc sống hằng ngày vốn nhiều lo lắng: Lo lắng và ám ảnh về một quá khứ vất vả, thất bại khiến chúng ta không dám bước vào hiện tại và tiến tới tương lai. Lo lắng về một hiện tại chưa thành công, còn nhiều vất vả, không đủ nương tựa vào cuộc sống, khiến ta luôn mệt mỏi không dám dấn thân ; lo lắng về việc cơm áo gạo tiền, khiến chúng ta rơi vào trạng thái lo âu triền miên. Vì thế, kéo theo ta sẽ lo lắng về một tương lai mịt mù không có chút ánh sáng để tiếp tục bước đi. Ngày đầu năm, Chúa Giêsu đã dạy: "Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những sự khác, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy" (Mt 6,33-34). Ngài đưa ra hình ảnh chim trời không lo gieo trồng và làm lụng vất vả vẫn được nuôi sống, hoa đồng nội không dệt may vẫn được mặc sắc màu đẹp tươi, tất cả được đặt dưới sự quan phòng của Tạo Hóa. Hình ảnh quá ấn tượng, tuyệt vời diễn ra chung quanh mỗi ngày mà ta chưa nghiệm ra tình yêu quan phòng của Thiên Chúa cho vạn vật của vũ trụ. Cho nên, hãy sống ngay từ đầu năm: "Phó thác quá khứ cho lòng thương xót của Chúa, hiện tại cho tình yêu của Ngài, và tương lai cho sự Quan phòng của Ngài" (Thánh Augustinô), để cả năm được Chúa Xuân luôn che chở và đồng hành. Thật thế, chúng ta sẽ an khang, nếu mời Chúa Xuân hiện diện chúc phúc...
Ngày đầu năm ngọ - năm ngựa chúng ta cầu chuc cho nhau như biểu tượng của ngựa:
• Ngựa trong chinh chiến tạo lòng can đảm, ngựa là con vật trung thành gợi cho chúng ta trung tín niềm tin Thiên Chúa và tín nghĩa với anh em...
• Ngưa phi nước đại biểu tượng của thể lực, tốc độ, sự sung mãn
• Ngưa và con vật biểu tượng cho thành công, tài lộc, điều mà con người ai ai cũng mong muốn...
Ngày minh niên cầu bình an, mong rằng suốt năm Chúa Giêsu hiện diện bên chúng ta như ngài đã đến, đứng giữa các môn đệ và nói rằng: "Bình an cho các con!" (Ga 20,19).
Lm. Vinh Sơn.

 
HON NHAN VA GIA DINH # 31 = MUNG 2 TET PDF Print E-mail

Mồng Hai Tết
Cầu Cho Tổ Tiên Ông Bà Cha Mẹ
(Mc 7,1-2.5-13a)

Hôm qua chúng ta có nói đến Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người đóng góp công lao nhiều nhất việc hình thành "Chữ quốc ngữ", trong cuốn Hành trình và truyền giáo - divers voyages et Mission in năm 1653 , ghi nhận một tập tục đặc biệt ở Annam:
Vào ngày Mồng Một Tết Nguyên Đán, người dân và cả những quan lớn, sau khi theo vua chúa đi tế Nam Giao về, "ai nấy về nhà mà lạy cha mẹ ông bà ông vải". Phong tục tôn kính này vẫn giữ đến hôm nay vào các ngày lễ tết sau khi đi chùa hoặc nhà thờ hái lộc của Trời, người Việt về nhà cha mẹ thăm viếng và chúc tết các bậc sinh thành cho nên có câu "Mồng Một Tết cha..."
Ngày Mùng Hai Tết, người Trung Quốc (gồm cả Đài Loan) có một truyền thống rất tốt đẹp là: Tất cả những người con gái đã xuất giá (lấy chồng) đều cùng với chồng và con trở về nhà cha mẹ ruột của mình, để cùng ăn cơm, cùng vui Tết, cùng chúc tuổi cha mẹ, đó cũng là một cách báo hiếu của con gái đã lấy chồng.
Ngày đầu năm mới, mùng Một Tết mọi người cùng nhau vui vẻ chúc Tết nhau. Có những gia đình năm ngoái cha mẹ cùng với con cái cháu chắt vui Tết, nhưng năm nay đã có người ra đi vĩnh viễn. Niềm vui Tết được bộc lộ bên ngoài cùng với nỗi niềm thổn thức trong lòng vì cha mẹ, người thân đã không còn vui Tết với con cháu, với anh chị em của mình ...
Mùng Hai Tết ở Việt Nam - tuy không khí ngày Tết vẫn rộn ràng vui tươi của ngày Xuân, những người Công giáo Việt Nam đến nhà thờ và viếng nghĩa trang với tâm trạng bồi hồi xúc động, vì hôm nay kính nhớ tổ tiên, những người con dâng thánh lễ với tấm lòng hiếu thảo cầu nguyện cho gia tiên và hồi tưởng về tổ tiên, ông bà cha mẹ và những người thân đã qua đời. Những ánh nến lung linh soi hồi ức của người con về những kỷ niệm đẹp với ông bà cha mẹ và người thân khi họ còn sống bên cạnh, những nén hương thơm tựa như lời cầu nguyện chân thành dành cho người đã khuất bay tới trời cao như Thánh Vịnh có nói: "Ước chi lời con nguyện, tựa hương trầm bay tỏa trước Thánh Nhan", những bông hoa muôn sắc dâng tiến như tâm tình biết ơn đẹp mãi không phai và luôn thắm như hoa xuân.
Nhớ về tổ tiên, chúng ta làm sống lại tâm tình của sách Huấn Ca về sự nghiệp của tổ tiên luôn sống động mãi: "Miêu duệ họ sẽ tồn tại đến muôn đời, và vinh quang của họ không bao giờ bị lu mờ. Thân xác họ được chôn cất bình an, tên tuổi họ sẽ sống đời này qua đời nọ. Sự khôn ngoan của họ cộng đoàn truyền tụng, và công hội thuật lại lời ngợi khen họ" (Hc 44,12-15).
Thảo hiếu với cha mẹ còn sống và kính nhớ ông bà tổ tiên đã khuất bằng lời cầu nguyện trong ngày Mùng Hai Tết, chúng ta sống tâm tình của thánh Phaolô về chữ hiếu trong gia đình luôn làm phần phúc cho người con thảo mà ngài đã viết khuyên nhủ cộng đoàn tín hữu Êphêsô: "Hãy thảo kính cha mẹ ngươi, đó là giới răn thứ nhất kèm theo lời hứa để ngươi được phần phúc và sống lâu dài trên địa cầu" (Ep 6,1-2).
Hôm nay ngày cầu nguyện cho tổ tiên ông bà cha mẹ đã qua đời, chúng ta càng thêm xác tín: "Tôi tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại", tin vào lời Thầy Giêsu đã phán dạy: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta sẽ không chết bao giờ, cả những ai tin vào Người Con thì được sống muôn đời" (Ga 11,25-26). Được sống muôn đời là sống trong mùa xuân vĩnh cửu với Chúa trên thiên đàng.
Cầu nguyện cho tổ tiên ông bà cha mẹ là hành động của niềm tin vào Đấng Phục Sinh - Chúa Xuân vĩnh cửu sẽ ban cho chúng ta hạnh phúc thật trường tồn. Kính nhớ ông bà tổ tiên còn là "đạo làm người" trong tư cách con người, biểu hiện lòng biết ơn các đấng sinh thành dưỡng dục:
"Công cha như núi Thái Sơn;
nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
cho tròn chữ hiếu mới là đạo con".
Người thảo hiếu luôn được sống trong hồn ân như sach Huấn ca dạy: "Người kính mẹ khác nào kẻ tích trữ kho tàng... Kẻ kính cha sẽ được trường thọ" (Hc 3,4.6).
Ngày xuân nhớ đến gia tiên, chúng ta với cây nến, nén hương trong tay chúng ta tin rằng: Mùng xuân hôm nay nói về mùa xuân Thiên Quốc: Tất cả đều trổ bông với một sức sống mới: Con người cũng sẽ phục sinh, nở hoa khi theo bước chân của Đức Kitô, như thánh Phaolô đã tuyên xưng: "Chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Ðức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Ðức Giêsu" (1Tx 4,14). Tất cả sẽ cùng Đức Kitô đi vào trong Giáo hội Chiến Thắng - Mùa Xuân Cứu Độ.
Hôm qua Mùng một Tết biết ơn trời, hôm nay Mồng 2 tết nhớ nguồn gốc Tổ Tiên thật là một tục lệ tốt đẹp và mang đầy nét nhân văn của lòng biết ơn được văn hóa Việt Nam trân trọng và được chính Chúa Kitô đánh giá cao (x. Lc 17,11-19).
Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về
Ở phương xa về quê sum họp gia đình và dành thời gian để thăm viếng thân nhân, cúng bái tổ tiên, thờ phượng đất trời. Vì Tết là dịp để mọi người Việt Nam thờ phượng Thiên Chúa, tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý như truyền thống Việt Nam dạy:
"Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn".

Lm. Vinh Sơn.

 
HON NHAN VA GIA DINH # 30 = CONG VIEC LAM AN PDF Print E-mail

Mồng Ba Tết - Cầu Cho Công Ăn Việc Làm
(Mt 6,31-34).

Sử sách ghi lại: vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) vào mùa xuân (ngày 1 tháng 4) năm Nhâm Thân (1032) Vua đi cày tịch điền ở Đỗ Động Giang, hôm ấy, có nhà nông dâng Vua một cây lúa 9 bông...
Mùa xuân, năm Mậu Dần (tháng 2 năm 1038), Vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền. Vua sai hữu ti dọn cỏ đắp đàn rồi thân tế Thần Nông, tế xong, tự cầm cày để muốn làm lễ tự cày. Các quan tả hữu có người can rằng:
- Đó là việc của nông phu, Bệ hạ cần gì làm thế ?
Vua nói:
- Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo?
Nói xong, Vua đẩy cày ba lần rồi thôi...
Từ xa xưa, cha ông chúng ta là những người nhà nông, chuyên cần làm việc với một tinh thần cao. Quanh năm làm việc với mọi thời tiết khắc nghiệt của bốn mùa, không quản mưa nắng, quanh năm ngày tháng chỉ biết "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", không sợ giãi nắng dầm sương. Qua kinh nghiệm làm ăn, các ngài đã khẳng định với con cháu rằng : "Có cấy có trông, có trồng có ăn"
Ông cha ta đã ý thức lao động là sống còn của sự nghiệp dân tộc và đất nước, nhà vua cũng lao động làm gương. Truyền thống đã đề cao giá trị của lao động như ca dao nhấn mạnh:
"Có làm thì mới có ăn
Không dưng ai dễ mang phần tới cho"
Từ ý nghĩa nhân văn của việc Lao Động trong truyền thống Việt Nam, Giáo hội dành riêng ngày Mồng Ba Tết cầu xin Chúa thánh hóa ruộng vườn, mùa màng, cây cối và công ăn việc làm...
Tục ngữ Việt Nam có câu: "Tay làm hàm nhai". Tay lao động mới có của ăn,
Chúng ta có tồn tại được là do sự lao động cần cù, lao động trong tương quan với cuộc sống gắn chặt sâu sắc như tư tưởng sau đây: "Lao động là đổ thêm dầu vào cây đèn cuộc sống, còn tư tưởng thắp sáng nó lên" (G. Benlerse).
Dân gian Việt Nam trải qua ngàn năm lịch sử luôn khắc ghi câu chuyện cổ tích Thần Trụ Trời làm ra trời đất: Thần Trụ vươn vai đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên. Thần đào đất, khuân đá, đắp thành một cái cột vừa to, vừa cao để chống trời. Cột đắp lên cao chừng nào thì trời như tấm màn mênh mông được nâng dần lên chừng ấy. Thần một mình hì hục đào, đắp, cột đá cứ cao dần, cao dần và đẩy vòm trời lên tận mây xanh... Sau khi thần Trụ Trời chia ra trời đất thì có những thần khác nối tiếp công việc xây dựng nên cõi thế gian này. Các vị thần đó rất nhiều, như thần Sao, thần Sông, thần Núi, thần Biển...Vì vậy, dân gian có câu hát còn truyền đến ngày nay: "Ông đếm cát, Ông tát bể (biển), Ông kể sao, Ông đào sông, Ông trồng cây, Ông xây rú (núi), Ông trụ trời...".
Như vậy, ngay từ ngàn xưa người dân Việt Nam đã nhìn thấy cái gốc của vũ trụ vạn vật được xuất phát từ lao động.
Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa lao động sáu ngày trong sáng tạo vũ trụ vạn vật, khi Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Người, Thiên Chúa đã muốn tháp nhập lao động vào trong chương trình của Ngài sau khi thiết định vũ trụ: "Thiên Chúa đã đặt họ trong vườn Êđen để họ canh tác và giữ vườn" (St 2,15). Con người làm việc hoà hợp với ý muốn của Thiên Chúa, đồng thời phản ánh hành động của Tạo Hoá: Đặt lao động vào tay con người với quyền chiếm hữu và cai trị trái đất (x. St 1,28). Thiên Chúa nói với con người "Ngươi phải đổ mồ hôi trán mới có ăn" (St 3,19). Kinh thánh nghiêm khắc với người ở không nhàn rỗi, nguyên nhân chỉ vì người lười biếng không có gì ăn (x. Cn 13,4) và có nguy cơ chết đói (x. Cn 21,25), Kinh Thánh chế nhạo kẻ lười biếng: "Kẻ lười biếng lăn trở trên giường khác nào cánh cửa xoay trên bản lề" (Cn 26,14). Thánh Phaolô nói trực diện sự sai lầm của những người lười biếng lao động: "Ai không làm việc thì đừng ăn" (2 Tx 3,10).
Lao động là công việc thánh thiêng, qua lao động con người được kêu gọi cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa (x. St 1,26). Nhờ lao động chúng ta góp phần cứu rỗi chính mình và thế giới (x. Lc 19,13). Ngôi Lời nhập thể không loại trừ lao động ra khỏi cuộc sống "nhập thể" của Người, Ngài lao công trong gia đình thợ mộc tại Nadarét. Đồng hương của Người đã không lầm lẫn khi gọi Người là "con bác thợ" (Mt 13,55), "ông thợ mộc" (Mc 6,3). Người đã sống cái "nghiệp" ấy trong 30 năm trời tại Nadarét. Lao động là cách hằng ngày diễn tả tình yêu trong cuộc sống của gia đình Nadarét. Nghề thợ mộc của Chúa Giêsu học từ cha nuôi Giuse trong những năm tháng ở nhà Nadarét. Tin Mừng nói rõ loại công việc mà thánh Giuse làm để nuôi sống gia đình mình: Người là một thợ mộc.
Sau này khi rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu dạy cho con người chăm chỉ làm việc, Ngài noi gương Chúa Cha: "Cha Ta làm việc liên lỉ Ta cũng vậy"(Ga 5,17). Trong các dụ ngôn về Nước Trời, Đức Giêsu luôn nói về lao động: Dụ ngôn người Mục tử (x. Ga 10,1-16); người nông dân (x. Mc 12,1-12), người gieo giống (x. Mc 4,1-9)... Thánh Phaolô làm nghề may lều và Ngài tự hào về nghề này, vừa có thể làm tông đồ, vừa có thể phục vụ cho vấn đề mưu sinh: "Ngày đêm chúng tôi làm việc vất vả lam lũ, để không phải phiền toái đến ai trong anh em"(2 Tx 3,8).
Chúng ta - những người lao động, vất vả với cuộc sống mưu sinh hàng ngày. Lao động thì được Chúa chúc lành và ban ơn nếu con người biết hướng lao động theo ý Chúa như lời Thánh Vịnh:
"Bốn mùa Chúa đổ hồng ân.
Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi"
(Tv 65,12).
Trong tâm tình của Mùng Ba Tết - ngày thánh hoá công ăn việc làm, cùng với dân tộc Việt Nam, chúng ta hãy dâng lên Chúa tất cả công việc sẽ làm trong năm mới này, cùng với những lao nhọc cực khổ mà chúng ta đang mang trách nhiệm gánh vác.
"Bao lâu đất này còn, thì mùa gieo mùa gặt,
trời lạnh và trời nóng, tiết hạ và tiết đông,
ban ngày và ban đêm, sẽ không ngừng đắp đổi" (St 8,22).

Tất cả chúng ta mang tâm nguyện:
"Lạy Chúa, Chúa không ngừng sáng tạo vũ trụ càn khôn, Và muốn cho con người cộng tác vào công trình của Chúa. Xin đưa mắt nhìn những công việc chúng con phải làm : Ước gì những công việc đó vừa nuôi dưỡng chúng con, Vừa mưu ích cho những người chúng con có trách nhiệm, Lại vừa làm cho triều đại Chúa mau đến" (Kinh sáng, thứ ba, III).
Lm. Vinh Sơn

 
<< Start < Prev 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 Next > End >>

Page 20 of 24