mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3836
mod_vvisit_counterHôm Qua9585
mod_vvisit_counterTuần Này47139
mod_vvisit_counterTuần Trước53683
mod_vvisit_counterTháng Này129205
mod_vvisit_counterTháng Trước308904
mod_vvisit_counterTất cả19544655

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LÒNG THUONG XOT? PDF Print E-mail

Kim Vu
> ĐỊNH NGHĨA LÒNG THƯƠNG XÓT
>
>
>
> Hôm nay lễ lòng thương xót Chúa. Thiết tưởng chúng ta cần hiểu lòng thương xót nghĩa là gì? Thương xót nghĩa là sự biểu lộ lòng xót xa đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn. Lòng thương xót đối với Chúa còn là sự khao khát muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ đó. Như vậy, lòng thương xót của Chúa là sự biểu lộ tình thương trước những hoàn cảnh khó khăn của dân Chúa.
>
>
>
> Lòng thương xót của Chúa không như con người. Vì con người thương xót nhưng có chọn lựa, có tính toán. Cùng hoàn cảnh nhưng chúng ta thương người này và có thể ghét người kia. Thế nhưng, lòng thương xót của Chúa thì trải rộng cho mọi người. Không toan tính. Không chọn lựa. Ngài yêu thương con người bất kể tình trạng luân lý của họ. Bởi vì, Chúa vẫn yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.
>
>
>
> Thế nên, lòng thương xót của con người chúng ta thì giới hạn. Chúng ta có thể xót thương kẻ cơ hàn. Xót thương những người già yếu, bệnh tật bị bỏ rơi. Xót thương những trẻ nhỏ bị lạm dụng, bị bóc lột nơi cha mẹ hay người nuôi dưỡng. Và chắc chắn chúng ta sẽ chẳng bao giờ xót thương những phường tội lỗi như: trộm cắp, mại dâm, hay tham ô. Chúng ta thường không thương xót họ mà có khi còn nguyền rủa họ.
>
>
>
> Lòng thương xót Chúa thì không giới hạn. Ngài yêu thương mà không cần nhìn xem họ là ai? Ngài chỉ bận tâm đến nhu cầu của con người và ra tay nâng đỡ. Thánh Kinh bảo rằng: Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được. Thế nhưng, Chúa đã không chấp tội con người, Ngài cũng không giáng phạt theo như tội ta đã phạm. Lòng thương xót của Chúa trải rộng trên con người. Trên người lành cũng như người dữ. Ngài luôn biểu lộ lòng thương xót cho bất cứ ai đến với Ngài. Lòng thương xót ấy không dừng lại ở nơi kẻ yêu Ngài mà còn dành cho cả kẻ ghét Ngài, xỉ nhục và kết án Ngài. Chính trong đau thương khổ nhục mà Ngài vẫn xót thương những kẻ đang hành hạ Ngài khi Ngài cầu nguyện cùng Cha: Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.
>
>
>
> Có lẽ với bản tính con người, chúng ta sẽ thù hận kẻ giết hại chúng ta một cách oan uổng. Có lẽ chúng ta cũng kinh tởm kẻ vô ơn, phản bội với chúng ta. Thế mà, Chúa Giê-su dường như không còn nhớ đến tội lỗi của con dân thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đã tha thứ cho kẻ làm nhục Ngài. Ngài cũng tha thứ cho những môn đệ đã bỏ Ngài trong tuần thương khó.
>
>
>
> Vâng, khi Chúa sống lại Ngài không tìm ai để trách móc, kêu oan. Và dường như Ngài cũng không bận tâm đến lỗi lầm của các môn sinh. Ngài đã trao bình an cho các môn sinh mỗi khi hiện ra với họ. Ngài biết trong lòng các ông còn một nỗi buồn vì phản bội, vì bỏ rơi Thầy trong gian nguy. Ngài biết sau khi Chúa sống lại lòng các tông đồ còn rối bời hoang mang lo sợ, bất an vì mặc cảm tội lỗi, mặc cảm phản bội Thầy. Chúa đã biết điều đó nên đã đi bước trước để ban bình an cho các ông.
>
>
>
> Sứ điệp lễ lòng Chúa thương xót là sứ điệp của yêu thương. Thiên Chúa vẫn tiếp tục xót thương dân Người. Lòng thương xót của Chúa không bị tội lỗi của con người cản trở mà vẫn đong đầy cho những ai đến với Ngài. Lòng thương xót Chúa vẫn xoa dịu những ai đang bất an vì tội lỗi. Lòng thương ấy vẫn đang chữa lành cho những ai đang đau khổ bệnh tật tâm hồn hay thể xác. Lòng thương xót ấy vẫn là căn tính của Thiên Chúa rất yêu thương và xót thương dân Người.
>
>
>
> Ước gì mỗi người chúng ta biết tín thác vào lòng thương xót Chúa cho dẫu chúng ta còn mang đầy những vết thương của yếu đuối lỗi lầm. Hãy để cho lòng thương xót Chúa chữa lành những tật nguyền của chúng ta. Ước gì khi chúng ta đã hưởng nếm lòng thương xót vô bờ của Chúa thì cũng biết trao ban lòng thương xót ấy cho anh em. Xin Chúa ban cho chúng ta cũng có một tấm lòng bao dung để gạt qua những thành kiến, những đố kỵ, ghen tương mà đón nhận nhau trong yêu thương chia sẻ. Xin Chúa giúp chúng ta cũng trở thành một chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa bằng tình yêu hiến dâng phục vụ tha nhân. Amen.
>
>
>
> Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
>
-------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LÂM BÔ LÀ GỈ? PDF Print E-mail

Tracy NGuyen

LÂM BÔ (LIMBO) LÀ GÌ?

Từ "lâm bô" ("limbo") không có trong Kinh Thánh, và cũng không có trong Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Khái niệm này chưa bao giờ là một tín điều hay giáo lý của Hội Thánh Công Giáo. Có thể nói, nó là một lý thuyết hay một giả định thần học. Vì nếu bí tích Rửa Tội là điều cần thiết cho ơn cứu độ (như Mc 16:16), thì câu hỏi đặt ra là những người công chính chết trước khi được rửa tội sẽ như thế nào: liệu họ có sa hoả ngục? Và nếu họ sa hỏa ngục, thì liệu Thiên Chúa có công bằng?

Để giải quyết mâu thuẫn này, các Giáo phụ đặt ra khaí niệm lâm bô. Lâm bô không phải là luyện ngục, nhưng cũng không phải là thiên đàng. Đây là nơi hạnh phúc tự nhiên vĩnh cửu, nơi dành cho những người công chính chết trước khi được rửa tội. Có hai loại lâm bộ: một loại lâm bô dành cho các tổ phụ (limbus patrum) và một loại lâm bô khác dành cho các bé sơ sinh (limbus parvulorum).

Limbus patrum là nơi dành cho các thánh tổ phụ, những người đã chết trước khi Đức Kitô đến cứu chuộc loài người. Những người này sẽ vào lâm bô, và chờ được cứu độ vào ngày Chúa chịu chết trên thập giá. Ađam và Evà, Abraham, Isaac, Jacob, Đavid và Solômon, ... đã vào nơi này sau khi chết.

Cũng vậy, nếu phép rửa là điều cần thiết cho ơn cứu độ, nghĩa là lên thiên đàng, thì các bé sơ sinh chưa được rửa tội chết trong thời Kitô giáo sẽ đi về đâu? Các em không có tội riêng để phải sa hỏa ngục, nhưng cũng chưa chịu phép rửa để được lên thiêng đàng. Các Giáo phụ cho rằng các em sẽ vào lâm bô (limbus parvulorum).

Như vậy, mục đích của khái niệm lâm bô là để bảo vệ giáo lý về tính thiết yếu của bí tích rửa tội, cũng như bảo vệ giáo lý về lòng thương xót và công bình của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, ngày nay, Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã bỏ khái niệm về lâm bô, và nhấn mạnh hơn về ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, giáo lý về túc sủng và hiệu sủng, và chân lý về sự bất xung khắc giữa lòng thương xót và sự công bình của Thiên Chúa. Nếu các bé sơ sinh chưa được rửa tội, nhưng chắc rằng các em sẽ được rửa tội nếu sống lâu hơn, hoặc có ước muốn được rửa tội thể hiện qua ước muốn của cha mẹ hoặc một cách tiềm tàng nơi ước muốn của chính các em, mà chỉ mình Chúa biết, thì các em vẫn có thể được cứu độ, nghĩa là được lên thiên đàng.

Biên dịch: Kẻ Hành Hương Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 8
-----------------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - CHÚA CHẾT KHI NÀO? PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Fri, Apr 2 at 1:13 AM

 

Chúa Giêsu chết khi nào?

Hằng năm, chúng ta cử hành Mùa Chay, rồi cử hành Tuần Thánh, đặc biệt là Thứ Sáu Tuần Thánh kính nhớ Cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu, và Đại Lễ Phục Sinh kính mừng Chúa Giêsu sống lại. Chúng ta biết rằng sự kiện lịch sử này đã xảy ra tại Giêrusalem hồi thế kỷ I.

Sự kiện này khiến Chúa Giêsu khác biệt với các thần ngoại giáo trong thần thoại, những người sống ở đâu và làm gì thì chẳng ai biết. Vậy làm sao chúng ta xác định thời gian chính xác về việc Chúa Giêsu chịu chết? Có thể chứ. Và đây là các chứng cớ...

1. THƯỢNG TẾ CAI-PHA

Các Phúc Âm cho biết rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh theo chủ mưu xúi bẩy của thượng tế tên là Cai-pha (Mt 26:3-4, Ga 11:49-53). Các nguồn khác cho biết rằng ông này là thượng tế từ năm 18 tới năm 36 sau công nguyên, thế nên Chúa Giêsu chịu chết trong thời gian đó. Nhưng chúng ta còn có thể biết rạch ròi hơn vậy.

2. TỔNG TRẤN PHONG-XI-Ô PHI-LA-TÔ

Các Phúc Âm đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh theo lệnh của Phong-xi-ô Phi-la-tô (Mt 27:24-26, Mc 15:15, Lc 23:24, Ga 19:15-16). Các nguồn khác cho biết rằng khi đó Phi-la-tô làm tổng trấn Giu-đê (năm 26 tới năm 36 sau công nguyên), do đó chúng ta có thể giảm bớt được vài năm. Nhưng làm sao chúng ta biết đúng ngày và năm?

3. SAU NĂM THỨ 15 CỦA TI-BÊ-RI-Ô XÊ-DA

Phúc Âm theo Thánh Lu-ca cho biết thời gian sứ vụ của Thánh Gioan Tẩy Giả khởi đầu: Năm thứ 15 triều đại của Tiberiô Xê-da (Lc 3:1-2). Như vậy chúng ta có thời gian rõ ràng: Năm 29 sau công nguyên.

Cả bốn Phúc Âm đều mô tả sứ vụ của Đức Kitô bắt đầu sau khi ông Gioan Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ (Mt 3, Mc 1, Lc 3, Ga 1), nghĩa là chúng ta có thể bỏ qua vài năm. Cái chết của Chúa Giêsu phải ở trong vòng 7 năm: Giữa các năm 29 và 36 sau công nguyên.

4. CHÚA GIÊSU CHẾT NGÀY THỨ SÁU

Cả bốn Phúc Âm đều đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh vào ngày Thứ Sáu (Mt 27:62, Mc 15:42; Lc 23:54; Ga 19:42), ngay trước ngày Sa-bát, ngay trước ngày thứ nhất trong tuần (Mt 28:1, Mc 16:2, Lc 24:1, Ga 20:1).

Chúng ta biết đó là Thứ Sáu vì nó được nói tới là "ngày chuẩn bị" – nghĩa là ngày mà người Do Thái chuẩn bị những gì cần cho ngày Sa-bát, vì họ không thể làm việc gì vào ngày này. Như vậy, đồ ăn được nấu trước và chuẩn bị những thứ cần thiết khác.

Bộ sách Bách Khoa Do Thái nói: Thứ Sáu, trước ngày Sa-bát, gọi là "Ereb Shabbat" (hôm trước ngày Sa-bát). Thuật ngữ "ereb" có hai nghĩa: "chiều tối" và "sự hỗn hợp" (Ex. xii. 38); và "Ereb Shabbat" bao hàm ngày vào chiều tối khi ngày Sa-bát bắt đầu, hoặc ngày mà đồ ăn được chuẩn bị cho cả ngày hiện tại và những ngày sau, nghĩa là sau ngày Sa-bát.

Ý tưởng về sự chuẩn bị được diễn tả bằng tiếng Hy Lạp là "paraskeué", do Josephus đưa ra ("Ant." xvi. 6, § 2) đối với ngày đó (so sánh với Mc 15:42; Lc 23:54; Mt 27:62; Ga 19:42). Trong Yer. Pesaḥim iv. 1, ngày này được gọi là "Yoma da-'Arubta" (ngày chuẩn bị). Điều đó loại trừ 6 ngày trong tuần, nhưng vẫn có vài ngày Thứ Sáu khác trong những năm 29 và 36 sau công nguyên. Làm sao chúng ta có thể biết năm nào?

5. THỨ SÁU NGÀY LỄ VƯỢT QUA

Các Phúc Âm cũng đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh trùng với Lễ Vượt Qua hằng năm (Mt 26:2, Mc 14:1, Lc 22:1, Ga 18:39). Ở đây chúng ta gặp sự phức tạp, vì các Thánh Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca đều mô tả Bữa Tiệc Ly vào Thứ Năm Tuần Thánh là bữa ăn mừng Lễ Vượt Qua (Mt 26:19, Mc 14:14, Lc 22:15). Điều đó cho thấy rằng Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày sau Lễ Vượt Qua.

Tuy nhiên, khi mô tả buổi sáng Thứ Sáu Tuần Thánh, Thánh Gioan cho biết rằng người Do Thái chưa ăn Lễ Vượt Qua, họ dẫn độ Chúa Giêsu từ nhà Cai-pha tới dinh của Phi-la-tô (Praetorium): "Người Do Thái điệu Đức Giêsu từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn Lễ Vượt Qua được. Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra ngoài gặp họ và hỏi: "Các người tố cáo ông này về tội gì?" (Ga 18:28-29).

Điều đó cho thấy rằng Lễ Vượt Qua bắt đầu lúc mặt trời lặn của ngày Thứ Sáu. Có nhiều cách giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn, một số người cho rằng Chúa Giêsu và các môn đệ dùng lịch khác người Do Thái, và chúng ta biết rằng có những lịch khác nhau được dùng trong Do Thái giáo hồi thế kỷ I.

Cũng có thể Chúa Giêsu mừng Lễ Vượt Qua trước với các môn đệ. Nghĩa là họ đã tin Thầy Giêsu là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa. Nếu Ngài nói: "Chúng ta mừng Lễ Vượt Qua hôm nay".Đó là sớm hơn mọi người, vậy cũng như mọi người. Lưu ý: Ngài có những sửa đổi nghi lễ một chút, như lập Bí tích Thánh Thể khi đang ăn.

Cũng có những cách giải quyết khác. Tuy nhiên, dù Chúa Giêsu làm gì, chúng ta vẫn có thể dựa vào câu nói của Thánh Gioan về những người bắt Chúa Giêsu khi biểu hiện những gì của người Do Thái hoặc cách thực hành chính của họ: Họ mừng Lễ Vượt Qua vào thời gian mà chúng ta gọi là chiều tối Thứ Sáu Tuần Thánh.

Chúng ta có thể giảm bớt thời gian một chút. Đây là những ngày trong những năm 29 và năm 36 có những chiều tối bắt đầu Lễ Vượt Qua:

+ Thứ Hai, 18 tháng 4 năm 29.

+ Thứ Sáu, 7 tháng 4 năm 30.

+ Thứ Ba, ngày 27 tháng 3 năm 31.

+ Thứ Hai, ngày 14 tháng 4 năm 32.

+ Thứ Sáu, 3 tháng 4 năm 33.

+ Thứ Tư, ngày 24 tháng 3 năm 34.

+ Thứ Ba, ngày 12 tháng 4 năm 35.

+ Thứ Bảy, ngày 31 tháng 3 năm 36.

Như vậy, chúng ta chỉ còn lại 2 Thứ Sáu: Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào ngày 7 tháng 4 năm 30, hoặc ngày 3 tháng 4 năm 33. Vậy ngày nào? Ngày theo truyền thống là ngày vào năm 33. Có thể có nhiều người ủng hộ ngày của năm 30. Các Phúc Âm nói gì về 2 năm đó?

6. BA LỄ VƯỢT QUA

Phúc Âm theo Thánh Gioan cho biết có 3 Lễ Vượt Qua khác nhau trong thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu:

+ Lễ Vượt Qua 1: Có ghi trong Ga 2:13, gần đầu thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

+ Lễ Vượt Qua 2: Có ghi trong Ga 6:4, giữa thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

+ Lễ Vượt Qua 3: Có ghi trong Ga 11:55 (và thường nhắc tới sau), cuối thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

Như vậy, sứ vụ của Chúa Giêsu phải trong 2 năm đó. Cách đầy đủ hơn cho thấy rằng đó là khoảng 3 năm rưỡi, nhưng dù chúng ta cho rằng điều đó xảy ra ngay trước Lễ Vượt Qua 1, thêm vào 2 Lễ Vượt Qua khác, cho thấy rằng sự việc kéo dài tối thiểu phải hơn 2 năm.

Như vậy nghĩa là năm 30 đã qua. Không đủ thời gian giữa năm thứ 15 trong triều đại của Ti-bê-ri-ô Xê-da (năm 29) và Lễ Vượt Qua của năm kế tiếp để hợp với sứ vụ kéo dài ít nhất là 2 năm. Như vậy, ngày Chúa Giêsu chết theo truyền thống (Thứ Sáu, ngày 3 tháng 4 năm 33) là chính xác. Có thể chính xác hơn không?

7. GIỜ THỨ CHÍN

Các Thánh sử Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca đều nói rằng Chúa Giêsu chết vào khoảng "giờ thứ chín" (Mt 27:45-50, Mc 15:34-37, Lc 23:44-46). "Giờ Thứ Chín" là 3 giờ chiều theo cách tính giờ ngày nay.

Điều này cho phép chúng ta thu hẹp thời gian Chúa Giêsu chết vào một điểm chính xác theo lịch sử: Khoảng 3 giờ chiều Thứ Sáu, ngày 3 tháng 4 năm 33 sau công nguyên.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

--------------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO- CẦN BIẾT VỀ LỄ LÁ PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Wed, Mar 24 at 12:18 AM

9 điều cần biết về lễ Lá

Chúa Nhật Lễ Lá khởi đầu Tuần Thánh. Ngày này không cử hành riêng lẻ mà cử hành hai sự kiện rất quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu. Đây là 9 điểm chúng ta cần biết:

1. Chúa Nhật Lễ Lá là gì?

Chúa Nhật Lễ Lá còn gọi là Chúa Nhật Khổ Nạn. Gọi là Chúa Nhật Lễ Lá phát xuất từ việc tưởng nhớ Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem, được dân chúng vừa cầm lá vừa tung hô (Ga 12:13). Gọi là Chúa Nhật Khổ Nạn vì Bài Thương Khó được đọc vào ngày này.

Theo tài liệu chính thức Paschales Solemnitatis nói về việc cử hành các ngày lễ liên quan Lễ Phục Sinh: Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa Nhật Lễ Lá, liên kết việc tiên báo cuộc rước hiển hách với việc công bố cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Việc liên kết giữa hai sự kiện này của Mầu nhiệm Vượt qua được tỏ hiện, được giải thích việc cử hành ngày này và giáo lý về ngày này.

2. Một điểm quan trọng của ngày này là cuộc rước lá trước Thánh Lễ. Tại sao chúng ta làm vậy?

Tài liệu Paschales Solemnitatis cho biết: Theo truyền thống, việc tưởng nhớ Chúa Giêsu vào Thành Giêrusalem được cử hành bằng cuộc rước trọng thể, mọi người hát noi gương các trẻ em Do Thái đồng thanh tung hô Đức Giêsu: "Thánh, thánh, thánh! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến".

Cuộc rước lá được thực hiện trước Thánh Lễ, có thể vào chiều tối Thứ Bảy hoặc Chúa Nhật. Lá được làm phép và mọi người cầm lá trong cuộc rước, tưởng nhớ lúc Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem.

3. Phải dùng lá cọ, lá dừa?

Không nhất thiết phải dùng lá cọ, lá dừa. Có thể dùng các loại cành lá khác. Cuộc rước lá kỷ niệm việc Chúa Giêsu vào Thánh Giêrusalem là cuộc vui mừng, mọi người cầm lá đã được làm phép, sau đó đưa lá về nhà.

4. Có cần hướng dẫn giáo dân?

Rất cần. Giáo dân nên được hướng dẫn về ý nghĩa của cuộc rước để họ hiểu tầm quan trọng của cuộc rước. Đây là dịp họ được nhắc nhở rằng họ cần tham dự cuộc rước để tôn vinh Con Thiên Chúa.

Lá được làm phép và được giữ lại, nhưng đừng coi lá đó như "bùa hộ mệnh" (amulet), hoặc coi lá đó có thể chữa bệnh, trừ tà, hoặc ngăn ngừa tai họa, vì như vậy là mê tín dị đoan. Lá đó được giữ tại nhà để biểu hiện niềm tin vào Đức Kitô là Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Độ, Ngôi Hai Thiên Chúa.

5. Chúa Giêsu làm gì trong khi vào Thành Thánh?

Chúa Giêsu là Vua các vua nhưng rất khiêm nhường. Ngài cưỡi lừa con vào Thành Thánh chứng tỏ Ngài là Vua. Từ nay chúng ta hãy chý ý: Chúa Giêsu thực sự xưng vương. Ngài muốn con đường Ngài đi và hành động của Ngài được hiểu rằng các lời hứa Cựu ước được hoàn tất nơi Ngài... Kinh Thánh cho biết rõ: "Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ" (Dcr 9:9). Ngài là Vua nhưng Ngài không có ý thu nạp quân đội hoặc âm mưu lật đổ chính quyền La Mã. Quyền hành của Ngài ở trong sự nghèo khó của Thiên Chúa, sự bình an của Thiên Chúa, sức mạnh đó có ơn cứu độ.

6. Phản ứng của đám đông biểu hiện điều gì?

Đám đông tung hô Chúa Giêsu chứng tỏ họ nhận biết Ngài là Đấng Thiên Sai. Họ trải áo cho Ngài đi qua là làm truyền thống Ít-ra-en, như khi dân chúng tôn vinh ông Giê-hu: "Họ vội vàng lấy áo choàng trải lên đầu thềm cấp, dưới chân ông. Họ thổi tù và, rồi hô lên: Giê-hu làm vua!" (2 V 9:13). Hành động của các môn đệ là động thái tôn phong theo truyền thống Vua Đa-vít, chứng tỏ niềm hy vọng vào Đấng Thiên Sai.

Đoàn người đến Giêrusalem với Chúa Giêsu được bắt gặp trong sự nhiệt thành của các môn đệ. Họ trải áo trên đường khi Chúa Giêsu đi qua, họ bẻ những cành lá vừa vẫy chào vừa tung hô chúc tụng: "Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!" (Mc 11:9-10; x. Tv 118:26).

7. Chữ "Hosanna" nghĩa là gì?

ĐGH Benedict XVI giải thích: Nguồn gốc từ này là lời khẩn cầu, chẳng hạn như: "Xin đến cứu giúp chúng tôi!". Các tư tế lặp lại lời cầu này vào ngày thứ bảy của kỳ Lễ Lều Tạm, trong khi đi vòng quanh bàn thờ bảy lần, như lời khẩn khoản cầu mưa. Lễ Lều Tạm dần dần thay đổi từ lễ cầu xin trở thành lễ ca tụng, là tiếng kêu vui mừng.

Vào thờ Chúa Giêsu, từ này cũng ngụ ý Đấng Thiên Sai. Khi tung hô "thánh, thánh, thánh", chúng ta thấy có cảm xúc phức tạp của đám đông theo Chúa Giêsu và các môn đệ vào Thành Thánh: Vui mừng chúc tụng, hy vọng Đấng Thiên Sai đến, mong chờ Vương Triều Đa-vít, đặc biệt là Vương Quốc Thiên Chúa đến để quốc gia Ít-ra-en được tái lập.

8. Chỉ vài ngày sau, chính đám đông đón rước Chúa lại đòi đóng đinh Chúa Giêsu?

Cả bốn Phúc Âm đều nói rõ rằng lòng kính trọng Chúa Giêsu khi Ngài vào Thành Giêrusalem được thể hiện nhưng không phải tất cả đều là cư dân Giêrusalem. Thánh Mát-thêu cho biết: "Khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: 'Ông này là ai vậy?'. Dân chúng trả lời: 'Ngôn sứ Giêsu, người Nadarét, xứ Galilê đấy" (Mt 21:10-11).

Người ta nghe nói có một ngôn sứ xuất thân từ Na-da-rét, nhưng Chúa Giêsu không mấy quan trọng đối với Giêrusalem, thế nên người ta không biết Ngài là ai. Đám đông tỏ lòng kính trọng Chúa Giêsu tại cửa ngõ vào Thánh Giêrusalem không là đám đông đòi đóng đinh Ngài.

9. Trình thuật cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu thế nào?

Tài liệu Paschales Solemnitatis cho biết: Trình thuật cuộc khổ nạn chiếm vị trí đặc biệt. Trình thuật này – tức là Bài Thương Khó – nên được hát hoặc đọc theo truyền thống, nghĩa là có ba người thể hiện Bài Thương Khó: Một người đóng vai Chúa Giêsu, một người kể chuyện, và một người đóng các vai khác.

Khi đọc Bài Thương Khó, không có đèn nến hoặc xông hương, cũng không làm dấu Thánh Giá. Vì lợi ích tâm linh, Bài Thương Khó nên được công bố đầy đủ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

--------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Mon, Mar 15 at 1:08 AM

Những Người Không Chịu Phép Rửa Tội Có Được Cứu Rỗi Không?

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi: Trong Phúc Âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã nói với ông già Nicôđêmô: "Thật tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi thần khí" (Ga 3:5)

Như vậy có nghĩa là phải rửa tội thì mới được vào Thiên Đàng? Vậy những ai chết mà không được rửa tội thì số phận đời đời ra sao?

Trả lời: Đúng, khi nói với ông già Nicôđêmô như trên, Chúa Giêsu đã đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng và sự cần thiết của bí tích Rửa tội (baptism) cho phần rỗi của con người. Lý do là tội nguyên tổ (original sin) của Adam và Eva đã cắt đứt mọi thân tình giữa Thiên Chúa và loài người. Vì thế Chúa Giêsu đã đến trần gian để cứu chuộc cho toàn thể nhân loại khỏi phạt và chết đời đời vì tội lỗi. Chúa đã cứu chuộc bằng chính cái chết của Người trên thập giá cách nay trên 2000 năm. Và Chúa đã thiết lập bí tích rửa tội để tái sinh con người trong sự sống mới như điều kiện tiên quyết để được cứu rỗi. Đó là lý do tại sao Chúa đã nói: "ai tin và chiụ phép rửa thì được cứu độ, ai không tin thì sẽ bị luận phạt." (Mc 16,16).

Tuy nhiên, ai cũng biết Chúa Giêsu mới xuống trần gian hơn 2000 năm, trong khi nhân loại đã có mặt trên trái đất này không biết là bao nhiêu triệu năm rồi. Nghĩa là có biết bao triệu triệu con người đã sinh ra và đã chết đi trước khi Chúa Giêsu sinh ra và rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Như vậy, những người này không biết Chúa Kitô và không được chiụ phép rửa thì hoàn toàn không phải lỗi của họ, vì chưa có ai rao giảng và làm phép rửa cho họ khi ấy. Do đó, Chúa không thể bất công với những người này để lên án họ về tội không tin và không chịu phép rửa được. Vậy Chúa cứu họ bằng cách nào?

Đây là nền tảng kinh thánh và giáo lý của Giáo Hội:

a) "Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1 Tm 2:4)

b) "Ngoài Chúa Kitô ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta phải nhờ vào Danh đó mà được cứu độ" (Cv 4,12)

Như thế có nghĩa là tất cả những ai đã sinh ra trước và sau Chúa Kitô đều phải nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa để được sống đời đời. Và đó là ước muốn của Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên và cứu chuộc con người trong Chúa Giêsu-Kitô. Riêng đối với những người không được biết Chúa và chết không được rửa tội thì Giáo Hội dạy như sau:

"Những người không biết Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Chúa không vì lỗi của họ, nhưng họ vẫn tìm kiếm Chúa với lòng thành và được thúc đẩy bởi ơn sủng, cố gắng hành động để thi hành Ý Chúa theo tiếng nói của lương tâm, thì họ cũng có thể được cứu rỗi đời đời." (x. Sách Giáo Lý Công Giáo, số 847).

Nói rõ hơn, những ai đã sinh ra và chết trước Chúa Kitô, cũng như sinh sau mà không có cơ hội được biết Chúa và Phúc Âm của Người, nhưng đã cố gắng sống ngay lành theo tiếng nói của lương tâm thì họ vẫn có thể được hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, dù họ không biết Chúa và không chiụ phép rửa tội. Đây hoàn toàn không phải lỗi của họ nên Chúa không thể bất công mà phán đoán họ về lỗi này được.

Ngược lại, những người đã biết Chúa, đã chịu phép rửa tội nhưng sau đó lại không sống và thực hành đức tin như Chúa đòi hỏi thì vẫn không được cứu độ như Chúa Giêsu đã phán dạy các môn đệ xưa kia: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi" (Mt 7:21).

Thi hành ý muốn của Cha trên trời có nghĩa là thực thi hai giới luật quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người cũng như quyết tâm xa lánh tội lỗi vì tội là cản trở duy nhất cho con người muốn sống thân tình với Chúa và muốn được cưú rỗi.

Tóm lại, những người không biết Chúa và không chịu phép rửa tội vì không có ai nói cho họ biết, nhưng họ đã sống tốt lành theo sự hướng dẫn của lương tâm thì họ vẫn có thể được hưởng ơn cứu độ của Chúa Kitô. Ngược lại, những người đã biết Chúa nhưng sống nghịch với lương tâm, nghĩa là không thực thi những giới răn của Chúa cho đến chết, thì rửa tội rồi cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 170