mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1439
mod_vvisit_counterHôm Qua6457
mod_vvisit_counterTuần Này26978
mod_vvisit_counterTuần Trước48712
mod_vvisit_counterTháng Này154941
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10296254

We have: 96 guests online
Your IP: 54.90.119.59
 , 
Today: Feb 23, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - Ý NGHIA CỦA THANH GIA PDF Print E-mail


Thứ Hai, Ngày 20 tháng 2-2017
Ý nghĩa của Thánh giá,

LAN TUYẾT CHUYỂN
Ngày nay thanh niên nam nữ không tin Chúa Giêsu cũng mang thánh giá. Có khi thánh giá của họ còn to hơn thánh giá của đức giám mục ! Nhưng hầu như chỉ dừng lại ở ý nghĩa là món thời trang, đồ trang điểm thôi. Họ không mang thánh giá vì niềm hãnh diện như chúng ta. Họ cũng không có ý đeo thánh giá để diễn tả tình yêu, để bộc lộ sự khiêm nhường, hiền lành và biểu dương ơn cứu độ của Chúa Giêsu.

CAC BẠN hãnh diện, vui mừng thực sự vì thánh giá của Chúa Giêsu trong ý nghĩa cứu chuộc. Thánh Phaolô cũng đã từng nói lên cảm nghiệm này : "ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian"(Gl 6, 14). Thánh gi¸ trong ý nghĩa thực sự không làm cho chúng ta vui mừng hãnh diện hoàn toàn. Chính Chúa Giêsu ở trong vườn Cây Dầu nghĩ đến phải vác thập giá đã xin Chúa Cha : "Lạy Cha, nếu Cha muốn xin cất chén này xa con" (Lc 22, 42a).

Tại sao Thiên Chúa lại muốn dùng cây thập giá cắm trên mặt đất làm biểu tượng cho tình yêu vô biên của Ngài với nhân loại ? Chính Chúa Con chịu chết trên thập giá đã giải thích tất cả. Thập giá chỉ giá trị, chỉ là biểu tượng của tình yêu, chỉ đem lại ơn cứu độ khi có Chúa Giêsu bị treo trên đó. Nguồn suối ơn cứu độ và các nhân đức Kitô giáo đều phát xuất từ thập giá Đức Kitô ; thậm chí các bí tích của giáo hội cũng chỉ được chính thức khai mở khi cạnh sườn Chúa bị mở ra trên thập giá.

Thiên Chúa đã biến đổi dụng cụ độc ác tàn nhẫn của con người thành dụng cụ diễn tả tình yêu thương bao dung, tha thứ ; biến dụng cụ giết người thành dụng cụ giải thoát con người khỏi phải án chết đời đời ; biến dụng cụ chế nhạo của con người thành dụng cụ diễn tả chiến thắng vinh quang của Đức Kitô. Như thánh Phaolô đã nói :"Thật thế, lời rao giảng về thập giá là mt sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa" (1Cr 1, 18) và lời xưa chép rằng : 'đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ".

Nhìn vào thánh giá ta thấy đau khổ bên ngoài và tình yêu Thiên Chúabên trong, sự chết của con ngừơi và sự sống lại của Thiên Chúa, bóng tối tội lỗi của trần gian và ánh bình minh cứu độ, sự ích kỷ của ta và sự hy sinh của Thiên Chúa, sự kiêu căng của ta và sự khiêm tốn của Thiên Chúa, sự bất lực của ta và sức mạnh vô song của Thiên Chúa, sự thù hận của con người và sự tha thứ của Thiên Chúa, sự hèn hạ của ta và sự cao cả của Thiên Chúa. Nhìn vào thánh giá ta thấy nhân tính và thiên tính của Chúa Giêsu Kitô.

ĐTC Gioan Phaolo II giảng (CN Lễ Lá) ngày quốc tế giới trẻ lần 16/2002 : "Hỡi các bạn trẻ yêu quý, qua việc tham dự chăm chỉ và nhiệt tình của các con vào việc cử hành trọng thể này, các con chứng tỏ các con không hổ thẹn vì thánh giá. Các con không sợ thánh giá Chúa Kitô. Ngược lại, các con yêu mến thánh giá và các con cung kính thánh giá, bởi vì thánh giá là dấu chỉ Đấng Cứu thế chết và sống lại vì chúng ta. Kẻ nào tin vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh thì ca tụng thánh giá, như bằng chứng chắc chắn Chúa là tình yêu" .

Trong các nghi thức trao và vác thánh giá ở các đại hội giới trẻ thế giới thấy các bạn vác thánh giá mt cách hăng say nhiệt thành, vui vẻ lắm. Có bạn xắn quần áo lên vác hùng hục. Ai cũng muốn dành quyền được vác thánh giá. Đấy chỉ là điều diễn ra trong nghi thức, còn trong thưc tế, thánh giá trong cuộc đời có tranh nhau vác hay là đẩy cho nguời khác? Đấy là điểm khác biệt rất lớn.

Đón nhận màu nhiệm Chúa chịu đóng đinh và cùng chịu đóng đinh với Chúa thật là khó khăn trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay. Trong khi ấy bóng thánh giá đã được thay thế bằng bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú. Con người đang hiên ngang lao mình vào bóng tối bằng mọi giá, ngay cả lừa đảo, phản bội ngay cả với người thân yêu cuả mình. Thậm chí sẵn sàng sát hại đứa con trọng bụng, chối bỏ và chà đạp phẩm giá của người khác. Xã hội hôm nay cần phải được soi sáng bằng sự dẫn đường của cây thánh giá và mầu nhiệm sự chết của Chúa Giêsu thì mới hy vọng phá tan được những bóng tối của sự dữ ác đang hoành hành quanh ta.

Con người ngày nay, cách riêng các bạn trẻ vẫn luôn ngại ngùng hy sinh, gian khổ, khó chấp nhận từ bỏ, cho nên nói đến thập giá là điều có vẻ khó đón nhận ; vì thánh giá tuợng trưng cho sự vất vả, hy sinh gian khổ, gánh nặng đau thương, sự hiểu lầm bất công, sức nặng của tội lỗi, giới hạn của thân phận con người. Sức tự nhiên ai cũng tìm cách tránh né. Nhưng nếu không đón nhận thì không phải là đang yêu mến Thiên Chúa, không phải là môn đệ Chúa. Các thánh tử đạo Việt Nam cha ông chúng ta bị bắt bước qua thánh giá đã cương quyết từ chối. Giới trẻ ngày nay đang bị cám dỗ chối bỏ thập giá, bước qua thập giá để bỏ đạo, chối bỏ niềm tin ngang qua những hành động trái với lương tâm, lối sống phản đạo đức, cách cư xử xa lạ với giáo lý tin mừng của Chúa. Cho nên, Đức hồng y Px. Nguyễn Văn Thuận viết : "Quyết định của con theo Chúa không phải là mt chữ ký, không phải là mt lời tuyên thệ mà thôi, nhưng là một sự dâng hiến liên lỉ thực hiện trong cả cuộc sống".

Chiêm ngưỡng đấng bị treo trên thập giá chúng ta đón nhận lời mời gọi của Chúa là hãy rập theo khuôn mẫu của Ngài đã đón nhận yêu thương tha thứ cho chúng ta. Những lời nói ý nghĩa và tuyệt vời nhất được Đức Giêsu nói trên thánh giá. Chúng ta còn phải suy niệm và học hỏi tới cùng.

Mặt khác của cây thánh giá chính là biểu tượng của tình yêu thương, sự hy sinh cao cả nhất của Thiên Chúa dành cho con người. Cho nên người Kitô hữu dựng thánh giá, vẽ thánh giá, đeo thánh giá không có nghĩa là đi tố cáo tội ác người khác mà là để biểu dương công ơn cứu chuộc và minh chứng tình yêu của Chúa cho mọi người biết.

Nếu Chúa Giêsu đã bị xử tử, đóng đinh trên thập giá một cách bất công mà Ngi không trả thù, giận dữ, không kết án người ta ; thì con cái Chúa hôm nay cũng vậy : chúng ta sẵn sàng chịu xỉ nhục, bất công, đau khổ mà không kêu ca, trách móc, trả thù, kết án ai cả. Điều này khó lắm. Mang chung một số phận như Chúa Giêsu không phải là thất bại mà là mt thành công ở mức độ cao nhất trên mọi thành công ở đời. Sự toàn thắng trên cây thập giá của Chúa Giêsu cho thấy sức mạnh nhiệm mầu của Thiên Chúa trong sự yếu đuối. Sự thành công của Chúa Giêsu trên thập giá cho thấy điều phi lý trong cái nhìn bình thường của người đời. Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá là "quyền năng của Thiên Chúa và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Bởi vì sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người" (1Cr 1, 24 -25).

Dấu chỉ và biểu tượng tình yêu qua thập giá hôm nay vẫn đang mời gọi mỗi người chúng ta nhất là giới trẻ hãy thắp sáng lên cho đời bằng ngọn lửa tình yêu từ cây thập giá. Hãy tiếp tục nói lời khát yêu như Chúa Giêsu trước khi trút hơi thở.

Thánh Anrê, giám mục nói : "Ai có thánh giá là có một kho tàng ...thánh giá vừa cao cả vừa quý báu. Cao cả vì thánh giá đã sinh ra nhiều ơn ích, bởi lẽ Chúa Kitô càng làm nhiều phép lạ và chịu đau khổ bao nhiêu thì Người lại càng chiến thắng lẫy lừng bấy nhiêu. Quý báu, vì thánh giá vừa là sự đau khổ, vừa là chiến tích của Thiên Chúa. Là sự đau khổ, bởi vì Người đã tự nguyện chết trên đó; là chiến tích, bởi vì ma quỷ đã bị trọng thương và bị đánh bại ở đó, thần chết cũng đã bị thua cùng với nó; then sắt hoả ngục bị đập tan và thánh giá trở thành nguồn ơn cứu độ cho toàn thế giới" (trích bài giảng của thánh Anrê, giám mục Crêta).

Thánh giá biểu tượng tình yêu Thiên Chúa với con người, Chúa mời gọi chúng ta dùng để trao gửi yêu thương cho nhau. Chồng hồn vợ trong ý nghĩa là thánh giá Chúa gửi cho, cái hôn đó sao mà suớng thế ! Giuđa hôn Chúa để trao nộp cho người ta đem đóng đinh vào thập giá, cái hôn ấy cay đắng, phũ phàng dường nào.

Đôi trai gái yêu nhau sắp sửa cưới hỏi hay 'khai thác' tài sản của nhau. Bên nào cũng muốn biết xem người yêu của mình hiện nay có bao nhiêu vốn riêng, càng nhiều tiền vàng càng quý. Mà không hỏi nhau xem đã có thánh giá chưa?! Đây là vốn riêng quý giá lắm. Thánh giá bằng vàng thì còn quý về mặt kinh tế nữa. Và quyết định lấy nhau rồi thì hãy nhớ rằng lời thề hứa quan trọng trong lễ cưới " ...hứa sẽ giữ lòng chung thuỷ với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh nạn cũng như lúc mạnh khoẻ để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt cuộc đời". Ngày cưới nói câu ấy sao mà ngon lành, cảm động dễ thương thế. Nói như vậy là chấp nhận vác cây thập giá nặng vài chục kg suốt đời!

Chúng ta là những người tin Chúa nhưng chưa chắc đã theo Chúa, vì chưa can đảm và trung thành với thập giá Chúa trao. Làm sao dám khẳng định rằng mình theo Chúa qua việc vác thập giá hằng ngày. Về mặt lý thuyết, khuyên bảo người khác chịu đau khổ, bệnh nạn là vác thánh giá Chúa trao thì nói ngon xớt. Cuộc sống êm đềm, yên vui có khi lại không nhận ra dấu hiệu thập giá trong cuộc đời ; nên lúc thấy bóng dáng thập giá đến với mình thì tìm cách đẩy cho người khác qua những hành động : thoái thác, lẩn tránh trách nhiệm, đổ lỗi cho người ta khi mình thất bại, chỉ trích khi người khác thành công và những hành vi khác tệ hơn nữa.

SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG THEO LỜI CHÚA: Làm sao người kitô hữu hôm nay phải sống và nói được mt cách tích cực như thánh Phaolô khi ngài viết cho tín hữu Côlôsê rằng :"Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Chúa Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì ích lợi cho thân thể Người là hội thánh" (Cl 1, 24).

Sống được như thế thì việc đón nhận và vác thánh giá mới là một vinh dự đúng nghĩa, trở nên nhẹ nhàng và là niềm hãnh diện thực sự vì đem lại cho anh chị em của mình sự bình an và ơn cứu rỗi.

Lm Bùi Trọng Khẩn

 
HOC HOI DE SONG DAO -THU TU-CN1MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 8, 12b

Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống".

Phúc Âm: Lc 11, 29-32

"Không ban cho dòng giống này điềm lạ nào ngoài điềm lạ của tiên tri Giona".

Khi ấy, thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại, Chúa Giêsu phán rằng: "Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy niệm - SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống dấu lạ

Hôm nay, Thứ Tư trong Tuần 1 Mùa Chay, đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), được phản ảnh nơi "điềm lạ về tiên tri Giona" trong bài Phúc Âm trong ngày này.

Thật vậy, "điềm lạ về tiên tri Giona" được Chúa Giêsu nói đến khi Người "thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại" đây ám chỉ cuộc Vượt Qua của Người, một cuộc "vượt qua từ sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), từ tử giá đến phục sinh cho phần rỗi các linh hồn. Chính Chúa Giêsu cũng đã công nhận "điềm lạ về tiên tri Giona" này ám chỉ về Người trong Bài Phúc Âm hôm nay như sau:

"Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Và Bài Đọc 1 được trích từ chính Sách Tiên Tri Giona đã thuật lại "điềm lạ về tiên tri Giona" thứ tự như thế này.

Trước hết, vị tiên tri đây được lệnh Thiên Chúa sai đến Thành Ninivê để rao giảng thống hối cho thành này: "Hãy chỗi dậy và đi đến Ninivê, một thành phố lớn, và rao giảng cho nó điều Ta sẽ nói cho ngươi". Vậy điều vị tiên tri này được Thiên Chúa bảo "sẽ nói cho người biết" đây là gì, xin đọc tiếp...

Sau nữa, vị tiên tri này đã làm theo đúng như lệnh truyền của Thiên Chúa: "Giona chỗi dậy và đi đến Ninivê theo lời Chúa dạy. Ninivê là một thành phố lớn, rộng bằng ba ngày đàng. Giona tiến vào thành phố, đi một ngày đàng, rồi rao giảng rằng: 'Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá hủy'".

Đó, điều vị tiên tri này được Thiên Chúa bảo đó là cảnh báo cho dân thành này về hình phạt họ sẽ phải chịu trong vòng 40 ngày nữa nếu họ không biết ăn năn thống hối? Vậy trước lời cảnh báo nghiêm trọng đầy nguy biến ấy họ có đáp ứng hay chăng? Xin hãy theo dõi tiếp...

Sau hết, toàn thể thành Ninive, từ vua tới dân đều mau mắn tích cực đáp ứng một cách chân thành không thể nào ngờ được lại có thể xẩy ra như thế nơi thành phần dân ngoại, ở chỗ, họ chẳng hề biết đến vị tiên tri này là ai, có đáng tin hay chăng, trong khi đó vấn đề từ bỏ con đường tội lỗi rất ư là khó khăn, đâu phải là chuyện dễ, một sớm một chiều, hay overnight là xong, nhất là hiện tượng từ bỏ tội lỗi một cách tập thể và đồng lòng với nhau như họ đã thực hiện, lại càng không thể nào xẩy ra được như chuyện lạ bốn phương, không tin cũng phải tin, một chuyện hoàn toàn thần tiên đã thật sự xẩy ra theo trình thuật của Bài Đọc 1 hôm nay:

"Vua thành Ninivê nghe điều đó, liền bỏ ngai vàng, cởi áo cẩm bào, mặc áo nhặm và ngồi trên đống tro. Trong thành Ninivê, người ta rao sắc lệnh sau đây của nhà vua và các vương hầu: 'Người, vật, bò, chiên, không được nếm, không được ăn uống gì hết; người và vật phải mặc áo nhặm, phải kêu to lên cùng Chúa và phải cải thiện đời sống, phải bỏ đàng tội lỗi và những điều bất chính đã phạm. Biết đâu Chúa sẽ đổi ý thứ tha, nguôi giận và chúng ta khỏi chết?'"

Phải, cái lạ là ở chỗ đó, ở chỗ vị tiên tri "Giona" hoàn toàn là một con người xa lạ đối với dân thành Ninive ấy, nhưng lại "đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê", như chính Chúa Giêsu khẳng định trong Bài Phúc Âm hôm nay. Ở chỗ, qua lời cảnh báo của vị tiên tri này, "dân thành tin tưởng nơi Chúa; họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ", nhờ thế mà "Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa đổi ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó".

"Điềm lạ về tiên tri Giona" là ở chỗ đấy, chứ không phải ở chỗ vị tiên tri đây ban đầu bất tuân lệnh Chúa, tìm hết cách trốn tránh sứ vụ rao giảng cho dân mà ông được Thiên Chúa sai đến, nhưng ông vẫn không thể nào thoát được lưới trời lồng lộng, vẫn bị Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan quan phòng hết mọi sự theo ý định bất biến của Ngài chặn bắt bằng một cơn bão tố, để rồi sau đó ông bị đám thủy thủy trên tầu với ông bất đắc dĩ vứt xuống biển, nơi ông bị cá mập nuốt vào bụng 3 ngày 3 đêm mới nhả ông ra trên bờ biển (xem Giona đoạn 1 và 2).

Sở dĩ trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu nhắc đến Tiên Tri Giona là vì dân Do Thái nói chung và thành phần "dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại" chung quanh Người bấy giờ nói riêng, cứ đòi phải thấy một điềm lạ nào đó từ Người mới tin vào Người, nhưng Người đã vừa trách móc họ thiếu lòng tin lại đồng thời cũng hứa chiều lòng họ như sau: "Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona".

Điều Chúa Giêsu hứa với chung dân Do Thái qua thành phần đám đông đang ở với Người bấy giờ đó là lời hứa liên quan đến chính bản thân Người, ở chỗ, như Người đã cho họ biết rõ thêm như sau: "Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy".

Có nghĩa là cho dù dân thành Ninive vẫn tỏ ra ăn năn thống hối sau khi nghe lời cảnh báo của một nhân vật lạ hoắc là tiên tri Giona, không cần phải cứ thấy điềm lạ mới chịu tin như dân Do Thái, một dân tộc có một bản chất cố hữu bất khả thiếu và bất khả thay đổi của họ đó là thích điềm lạ và cái gì cũng căn cứ vào điềm lạ, hoàn toàn ngược với dân Hy Lạp thiên về lý trí và triết học, vì điềm lạ đối với dân Do Thái như là dấu chỉ thần linh, dấu chỉ thần hiển của Thiên Chúa, dấu chỉ chắc chắn nhất và bảo đảm nhất cho niềm tin tưởng siêu nhiên của họ.

Tuy nhiên, Vị Thiên Chúa hóa thân làm người còn tiếp tục hội nhập văn hóa với loài người, với từng dân tộc, để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó giúp cho họ có thể dễ dàng tin tưởng vào Người mà được cứu độ. Bằng không, họ sẽ bị trừng phạt xứng với tội lỗi của họ bởi họ không tin tưởng vào một Đấng còn cao trọng hơn cả Giona nữa, như Người cảnh báo họ trong Bài Phúc Âm hôm nay: "Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Đúng thế, "Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy". Ở chỗ nào? Ở chỗ, cho dù họ không chịu tin vào Người cho đến khi thấy được một điềm lạ nào đó từ Người, mà Người vẫn có thể làm cho họ tin vào Người, khi chính Người trở nên điềm lạ cho họ.

Điềm lạ về Chúa Giêsu Kitô cho giòng dõi gian ác này đây phải chăng là như thế này: cho dù Người có thể xuống khỏi thập giá nhưng Người vẫn không làm, trái lại, "tuy là con, nhưng Người đã biết tuân phục nơi những gì phải chịu để khi hoàn thành Người trở nên căn nguyên cứu độ cho tất cả những ai tín phục Người" (Do Thái 5:8-9).

Bởi vì, theo Người, chỉ còn một cách duy nhất đó thôi mới chứng thực Người là Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, Đấng được Cha là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ sai đến để giải thoát họ, không phải khỏi quyền lực chính trị mà khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết. Đó là lý do Người đã khẳng định về bản thân Người là điềm lạ cho dân của Người như sau: "Khi nào quí vị treo Con Người lên, quí vị sẽ nhận ra Tôi là ai và biết rằng Tôi không tự ý làm gì hết" (Gioan 8:28).

Nếu lời giảng tiên khởi của Chúa Giêsu khi Người mới bắt đầu xuất thân tỏ mình ra là "Triều đại Thiên Chúa đã đến. Hãy hoán cải và tin vào phúc âm" (Marco 1:15), thì việc Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân Do Thái như là "Triều đại Thiên Chúa đã đến", đến như một điềm lạ trên thập tự giá, nhờ đó họ "hoán cải và tin vào Người", hay tin vào Người mà hoán cải cũng thế.

Bởi vậy, tác dụng đầu tiên của việc tỏ mình ra của Chúa Kitô cho dân Do Thái như một điềm lạ đó là làm cho họ thống hối ăn năn như dân Thánh Ninive về tội lỗi của họ bằng tất cả tâm hồn của họ. Và việc tỏ mình ra của Chúa Kitô như một điềm lạ trên thập tự giá là tác động Người "tự bỏ sự sống mình đi" nhưng Người đã "lấy nó lại" ở chỗ đã làm cho sự sống đó phát sinh nơi những ai "tín phục" Người, như tâm tình của Bài Đáp Ca sau đây bày tỏ:

1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác.

2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CHA HUAN PDF Print E-mail

CÁC CHA XỨ CÓ QUYỀN RA VẠ TUYỆT THÔNG CHO AI KHÔNG ?
Hỏi: xin cha giải đáp giúp mấy thắc mắc sau đây :
1- Ở giáo xứ kia bên Việt Nam, Cha xứ cứ hăm ra vạ tuyệt thông cho ai đi dự tiệc cưới của đôi hôn phối nào không kết hôn hợp pháp trong Giáo Hội. Cha xứ có quyền này không ?
2- Có thể xưng mãi một tội hay không ?
3- Ai được phép hưởng ân xá của Giáo Hội ?
Trả lời:
1-Vạ Tuyệt Thông ( anthema=excommunication) là hình phạt nặng nhất mà Giáo Hội bất đắc dĩ phải áp dụng trong những trường hợp gia trọng như bội giáo ( apostasy) ly giáo( schism) và lạc giáo ( heresy) ( can.751) hành hung Đức Thánh Cha ( can. 370&1) giết người hay giết thai nhi , tiết lộ bí mật trong tòa giải tôi ( can. 1388& 1) v.v
Vạ tuyệt thông có hai loại là tiền kết ( latae sententiae) và hậu kết ( ferendae sententiae):
A- Vạ tiền kết là vạ đương nhiên hay tự động ( automatically incurred) có hiệu lực khi vi phạm điều đã cấm, và chỉ dành cho Tòa Thánh quyền tháo gỡ mà thôi. Những trường hợp bị vạ tuyệt thông tiền kết gồm có những lỗi phạm sau đây:
1 -Hành hung đức Thánh Cha ( can. 370& 1)
2 - Không có phép Đức Thánh Cha mà dám truyền chức Giám mục cho ai. Cả
Người truyền chức và người chịu chức đều đương nhiên mắc vạ. ( can.1382)
3 -Vi phạm ấn tòa giải tội.( Seal of confessions) tức linh mục tiết lộ cho ai
tội đã nghe của hối nhân trong tòa giải tội ( can.1388& 1)
4 - Ném bỏ Mình Thánh hay đem về nhà với mục đích phạm thánh ( Sacrilege)
( can. 1367)
5- Người bội giáo =apostate là người hoàn toàn chối bỏ đức tin KitôGiáo
Tà giáo hay rối Đạo= Heretic= là người chối bỏ một số tín điều hay giáo lý của của Giáo Hội.
Ly giáo ( schimatic) là người công khải bỏ Đạo để gia nhập đạo hay giáo phái khác. Tất cả 3 tội này đều bị vạ tuyệt thông tiền kết. ( can. 751)
6- Phá thai hay giúp phá thai có kết quả ( can. 1398)
Như đã nói ở trên, vạ tiền kết là vạ đương nhiên hay tự động ( automatically incurred) có hiệu lực cho ai lỗi phạm điều đã cấm, và chỉ Tòa Thánh mới có quyền tháo gỡ hay tha vạ này mà thôi.Nhưng riêng trường hợp phá thai và phụ giúp phá thai, thì Đức Thánh Cha Phanxicô đã cho phép các linh mục trên toàn thế giới từ nay được tha tội này.
B- Vạ tuyệt thông hậu kết ( ferendae sententiae)
Vạ này được áp dụng cho những người ngoan cố không chịu sửa lỗi nặng mặc dù đã được thẩm quyền Giáo Hội khuyến cáo vô hiệu quả. ( can 1347 &1) .Cụ thể, cách nay trên 20 năm , nhân vụ " lôn xộn " ở San Jose, California, Đức Giám mục địa phương đã ngăm đe ra vạ tuyệt thông cho một vài người chủ chốt nếu họ không chấm dứt " tranh đấu" và vâng phục giáo quyền địa phương.
Như thế, chỉ có Giám mục mới có quyền ra vạ tuyệt thông hậu kết cho ai không vâng phục để sửa lỗi đã phạm dù đã được khuyến cáo ít là một lần.
Ngoài ra, không linh mục nào, dù là chánh hay phó xứ, được phép đe dọa ra vạ tuyệt thông cho ai. Sở dĩ phải nói điều này là vì theo câu hỏi trên, có linh mục chánh xứ kia đã dọa vạ tuyệt thông cho những ai đi dự tiệc cưới của đôi hôn phối chưa kết hôn trong Giáo Hội. Chưa kết hôn trong Giáo Hội mà ăn ở với nhau như vợ chồng thì tạm thời không được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải chứ không thể bị " trục xuất ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội" với vạ tuyệt thông tiền hay hậu kết được, vì không có giáo luật nào cho phép phạt vạ như vậy.
Lại càng vô lý hơn nữa là đe dọa vạ tuyệt thông cho ai đi dự tiệc cưới của họ. Đây là một lạm dụng đáng tiếc về hình phạt vạ tuyệt thông cần được sửa chữa trong Giáo Hội địa phương. Cũng cần nói thêm là ngày nay Giáo Hội đã cho phép hôn nhân hỗn hợp ( mixed marriage ) nghĩa là một người Công Giáo có thể được phép kết hôn với người theo đạo khác, nhưng phải xin phép chuẩn ( dispensation) ở Tòa Giám mục địa phương .Nghĩa là không buộc phía không có đạo phải nhập đạo Công giáo để được kết hôn. Khi đã có phép chuẩn cho phía có Đao Công Giáo rồi thì hôn phối được phép cử hành ở nhà thờ như mọi đôi hôn phối khác. Có điều khác biệt là chỉ người có Đạo mới được rước Mình Thánh trong lễ cưới mà thôi.Hôn nhân này là hợp pháp trong Giáo Hội nên không ai được phép chỉ trích hay đe dọa vạ tuyệt thông" cho người đi dự tiệc cưới của họ.
Tóm lại, khi nói đến vạ tuyệt thông, tiền hay hậu kết, có nghĩa là hình phạt tạm thời không được hiệp thông với Giáo Hội trong mọi lãnh vực thực hành đức tin như cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích bao lâu chưa được tha vạ.Như vậy, phải hết sức thận trọng khi nói đến vấn đề này để không làm hoang mang cho giáo dân về kỷ luật và hình phạt bất đắc dĩ này của Giáo Hội
2-Có thể xưng mãi một tội hay không ?
Là con người , ai cũng yếu đuối trong bản tính. Thêm vào đó là những cám dỗ của ma quỉ và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong môi trường xã hội , tức hoàn cảnh sống của mỗi người, nên người ta dễ sa phạm tội nặng hay nhẹ.
Chính vì biết rõ như vậy, nên Chúa Kitô - trước khi về Trời- đã ban bí tích hòa giải cho các Tông Đồ để các ngài và những người kế vị thay mặt Chúa tha tội cho mọi người trong Giáo Hội như Chúa đã truyền cho các ngài:
" anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị căm giữ" ( Ga 20 : 23)
Chúa đầy lòng thương xót và hay tha thứ. Đúng, nhưng con người không được lợi dụng lòng thương xót tha thứ này để cứ phạm tội rồi đi xưng tội. Xưng tội vì lỡ sa ngã do bản tính yếu đuối, vì ma quỷ và thế gian cám dỗ. Nhưng cũng phải cố gắng hết sức về phần mình và nương nhờ vào ơn Chúa để tránh phạm tội hầu được sống trong tình thương và ơn nghĩa với Chúa. Đó là điều Chúa mong muốn nơi mỗi người tín hữu chúng ta. Sở dĩ nói Chúa mong muốn chứ không ép buộc , vì con người còn có ý muốn tự do (free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người xử dụng để hoặc tự do chọn Chúa và xa tránh sự dữ, sự tội, hay khước từ Chúa để tự do sống theo ý muốn của mình và làm những điều trái nghịch với tình thương, công bình và thánh thiện của Chúa.
Nếu chọn Chúa thì phải quyết tâm sống theo đường lối của Chúa là con đường dẫn đưa đến hạnh phúc Nước Trời. Đó là con đường cứu rỗi mà ít người muốn đi qua như Chúa Giê su đã trả lời cho một người hỏi Chúa Giêsu xem có phải rất ít người được cứu rỗi hay không, Chúa đáp :
" Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được." ( Lc 13: 24)
Cửa hẹp mà Chúa muốn nói ở đây là kỷ luật mà chúng ta phải khép mình vào để không chạy theo những quyến rũ của tiền bạc, danh lợi chóng qua ở đời này cùng những thú vui vô luân vô đạo là con đường rộng thênh thang mà nhiều người thích đi trên đó, nhưng không biết là sẽ đi vào cõi chết đời đời. Cụ thể, đó là những kẻ tôn thờ chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa vật chất và khoái lạc ( hedonism) khiến họ đang đi tìm tiền của cách bất chính để làm giầu, như buôn bán gian lận, mở sòng bài bạc, nhà điếm, sản xuất sách báo và phim ảnh dâm ô đồi trụy, và nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay.
Nếu người có niềm tin Thiên Chúa mà cũng đi vào con đường đó , nghĩa là cũng ăn gian nói dối, cờ bạc đỏ đen, thay vợ, đổi chồng, dâm ô trác táng, bất công với người khác và lãnh cảm trước sự nghèo đói của anh chị em đồng loại, thì dù có mang danh là người Công giáo, vẫn đi lễ ngày Chúa nhật, vẫn kêu tên Chúa Kitô và hát Alleluia, Alleluia như anh em Tin Lành, thì cũng vô ích mà thôi, căn cứ vào chính lời Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa !, lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên trời có nghĩa là xa tránh tội lỗi và mọi cách sống mâu thuẫn với Tin Mừng Cứu Độ để bước đi theo Chúa Kitô, là " con đường, là sự thật và là sự sống." ( Ga 14: 6)
Như thế, trong thực hành, nếu không cố gắng khép mình vào kỷ luật nội tâm và nương nhờ ơn Chúa nâng đỡ, để xa tránh tội lỗi và trở nên hoàn thiện mỗi ngày, thì hãy nghe lại lời Chúa cảnh cáo như sau trong Sách Khải Huyền:
" Ta biết các việc ngươi làm. Ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẵn hay nóng hẵn đi.Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." ( Kh 3: 15-16)
Nói khác đi, nếu đi xưng tội mà không có quyết tâm chừa tội để cứ sa đi ngã lại, cứ xưng mãi một tội quen phạm thì sẽ trở thành là người chẳng nóng, chẳng lạnh, cứ hâm hâm, nửa nóng nửa lạnh, như Chúa cảnh cáo trên đây.Và như vậy chắc chắn không thể sống đẹp lòng Chúa và đáng được cứu độ. Chúa nói: " Ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 4: 23; Lc 8: 8).
4- Ai được lãnh ơn xá ?
Ân xá ( Indulgences) là ơn Giáo Hội lấy từ kho tàng ơn Cứu Độ của Chúa Kitô để tha các hình phạt hữu hạn ( temporary punishment) của các tội nặng nhẹ đã được tha qua bí tích hòa giải.( x SGLGHCG số 1471)
Nghĩa là, sau khi xưng tội cách ngay lành ( không dấu tội nào) và được tha qua bí tích hòa giải, thì hối nhân phải làm việc đền tội do cha giải tội giao cho. Việc đền tội này có mục đích tẩy xóa sạch những hậu quả do tội để lại trong tâm hồn hối nhân, dù mọi tội nặng nhẹ đã được tha. Nếu ai không làm đủ việc đền tội này khi còn sống thì phải đền phạt trong luyện tội ( purgatory) sau khi chết.( x SGLGHCG, số 1030-1031)
Và đây là lý do Giáo Hội ban ơn xá để tha hình phạt hữu hạn nói trên.
Ơn ( Ân ) xá có thể là toàn phần, hay còn gọi là Ơn đại xá ( full indulgences) để tha hết mọi hình phạt hữu hạn , hay từng phần ( partial indulgence) để tha một phần hình phạt trên ( x.giáo luật số 993)
Ơn xá có thể lãnh nhận cho chính mình hoặc nhường lại cho các linh hồn trong Luyện tội , nhưng không thể nhường cho người khác còn sống ( x. giáo luật số 994).
Muốn lãnh nhận ơn xá cách có hiệu quả thì phải sạch tội trọng và làm một số việc lành như xưng tội , dự lễ, rước Mình Thánh Chúa, viếng nhà thờ và đọc các kinh lậy Cha, Kinh mừng, Sáng danh, Kinh Tin Kính và cầu nguyện theo ý Đức Thánh cha.
Ân xá được ban trong những dịp trọng đại như Năm Thánh ( Jubilee Year),
Kỷ niệm thành lập Giáo Phận, hay Dòng Tu, viếng nghĩa trang trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11) hoặc dự lễ mở tay của tân linh mục...
Chỉ có Đức Thánh Cha, hoặc thẩm quyền tối cao dưới quyền ngài, mới có quyền ban ân xá cho Giáo Hội hoàn vũ hay Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) ( giáo luật số 995).
Giáo phận hay Dòng Tu nào muốn hưởng đặc ân này nhân kỷ niệm trọng đại của mình, thì phải xin phép nơi thẩm quyền tối cao của Tòa Thánh.
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn những câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xavê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BA - CN1MC - B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4,17

Chúa phán: "Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến".

Phúc Âm: Mt 6, 7-15

"Vậy các ngươi hãy cầu nguyện như thế này".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi cầu nguyện, các con đừng nhiều lời như dân ngoại: họ nghĩ là phải nói nhiều mới được chấp nhận. Ðừng làm như họ, vì Cha các con biết rõ điều các con cần, ngay cả trước khi các con xin. Vậy các con hãy cầu nguyện như thế này:

"Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ đến chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

"Vì nếu các con có tha thứ cho người ta những lầm lỗi của họ, thì Cha các con, Ðấng ngự trên trời, mới tha thứ cho các con. Nếu các con không tha thứ cho người ta, thì Cha các con cũng chẳng tha thứ lỗi lầm cho các con".

Ðó là lời Chúa.

HOC HỎI- Suy niệm -SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống thiên ý

Ngày Thứ Ba trong Tuần 1 Mùa Chay hôm nay, đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), được tiếp tục ở bài Phúc Âm về lời cầu nguyện Chúa dạy "các con hãy cầu nguyện như thế này".

Thật vậy, qua nội dung của lời cầu nguyện Chúa Giêsu dạy cho "các môn đệ" trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy hiện lên hình ảnh sống động của một Vị Thiên Sai, Đấng "từ trời xuống không phải để làm theo ý mình là là ý Đấng đã sai" (Gioan 6:38). Người quả thực đã "bỏ sự sống mình đi" ở chỗ "không làm theo ý mình", mà là "ý Đấng đã sai", nhờ đó, Người "đã lấy sự sống mình lại" ở chỗ Người đã tỏ ra sự sống thần linh thật sự ở nơi Người, sự sống của một Người Con Thiên Chúa mà Người muốn thông ban cho chung con người và riêng Giáo Hội của Người.

Đó là lý do, trong kinh nguyện Chúa dạy vẫn được gọi là Kinh Lạy Cha trong Bài Phúc Âm hôm nay đây, ý nguyện chính yếu, ý nguyện nồng cốt, ý nguyện làm nên các ý nguyện và chi phối các ý nguyện khác đó là ý nguyện: "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời".

Trước hết, đối với hai ý nguyện đầu là "danh Cha cả sáng" và "nước Cha trị đến", cả hai ý nguyện này sẽ chẳng bao giờ trở thành hiện thực nếu thiếu vắng ý nguyện thứ ba "ý Cha thể hiện".

Điển hình nhất ở nơi chính bản thân và cuộc đời của Chúa Kitô, Đấng đã làm cho "danh Cha cả sáng" khi hoàn thành ý Cha, bằng cuộc khổ nạn và tử giá của Người, nhờ đó và vì thế Người đồng thời cũng đã làm cho "nước Cha trị đến" nơi tâm hồn của những ai tin vào Người, một "nước" hay một vương quốc thần linh đang hiện diện nơi Giáo Hội được Người thiết lập và xuất phát từ cạnh sườn bị đâm vào của Người (xem Hiến Chế Lumen Gentium - 3).

Sau nữa, đối với 3 ý nguyện, đúng hơn 3 ý cầu sau đó cũng thế, cũng liên kết hết sức mật thiết bất khả phân ly với ý nguyện "ý Cha thể hiện" nằm ở giữa như cốt lõi của Kinh Lạy Cha này.

"Lương thực hằng ngày" ở đây được chúng ta có ý cầu đây là gì, nếu trước hết và trên hết không phải là của ăn phần xác mà chính là việc làm theo và chu toàn ý muốn của Thiên Chúa, như "lương thực của Thày là làm theo ý Đấng sai Thày và hoàn thành các công việc của Ngài" (Gioan 4:34), nhờ đó "ý Cha thể hiện dưới đất ('Nước Cha trị đến') cũng như trên trời ('danh Cha cả sáng')".

"Xin Cha tha nợ chúng con" là ý cầu thứ hai ở phần sau của Kinh Lạy Cha, một ý cầu gắn liền với ý cầu thứ nhất "xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày". Bởi vì, nếu "lương thực hằng ngày" của chúng ta là việc chu toàn ý muốn Thiên Chúa thì bất cứ khi nào và vì bất cứ lý do nào chúng ta không chu toàn ý muốn của Ngài là chúng ta đã làm buồn lòng Ngài, đã không làm "danh Cha cả sáng" và "nước Cha trị đến" như lòng Ngài ước mong nơi chúng ta, và vì thế chúng ta cần được Ngài tha thứ cho.

"Xin chớ đến chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" là ý cầu cuối cùng ở phần hai của Kinh Lạy Cha cũng bất khả tách lìa với ý nguyện thứ 3 "ý Cha thể hiện" ở phần trên và ý cầu thứ 1 "xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày" ở phần dưới. Tại sao?

Bởi vì, theo kinh nghiệm tu đức sống đạo, Kitô hữu chúng ta, với bản tính nhiễm lây nguyên tội, luôn luôn bị "cám dỗ" làm theo ý riêng của mình và đam mê nhục dục của mình hơn là ý muốn của Thiên Chúa và lề luật của ngài, hơn là tinh thần Phúc Âm của Chúa Kitô, và thường chúng ta bị "sa chước cám dỗ" nếu không có ơn đặc biệt của Thiên Chúa để có thể chẳng những nhận ra chước cám dỗ vô cùng tinh quái quỉ quyệt mà còn chống trả chước cám dỗ cho đến cùng.

Và "sự dữ" chúng ta cầu xin cho khỏi bị rơi vào hay phạm đến đây là gì, nếu không phải là chính những gì chúng ta dám ngang nhiên và ngạo mạn làm trái với ý muốn toàn thiện và tối thượng của Thiên Chúa, là chính thái độ phạm thượng của chúng ta đối với Thiên Chúa vô cùng cao cả, ở chỗ chúng ta đã coi mình hơn Thiên Chúa, coi ý muốn của Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và toàn năng, quan phòng thần linh trên tất cả mọi sự, không bằng ý muốn thấp hèn thiển cận rất hạ cấp của chúng ta là tạo vật đã được Ngài yêu thương dựng nên và cứu chuộc.

Chính vì là loài người vô cùng thấp hèn, khốn nạn và yếu đuối mà chúng ta tự mình không thể nào không "sa chước cám dỗ", không thể nào không gây ra "sự dữ" là tội lỗi phạm đến Thiên Chúa, và vì thế mà chúng ta, trong ý cầu thứ hai ở phần sau của Kinh Lạy Cha, chúng ta đã "xin Cha tha nợ cho chúng con", ở chỗ "như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con", bằng không, không tha cho người khác mà cứ muốn được Thiên Chúa thứ tha là chúng ta đã "sa (vào một) chước cám dỗ" khác đối với anh chị em chúng ta, nghĩa là chúng ta đã gây ra một "sự dữ" khác, ở chỗ chúng ta đã sống hoàn toàn phản nghịch lại với bản tính và sự sống thần linh của chúng ta là đức ái trọn hảo như Cha trên trời của chúng ta (xem Mathêu 4:48).

Bởi thế, trước khi kết thúc bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh ngay sau Kinh Lạy Cha rằng: "Nếu các con có tha thứ cho người ta những lầm lỗi của họ, thì Cha các con, Ðấng ngự trên trời, mới tha thứ cho các con. Nếu các con không tha thứ cho người ta, thì Cha các con cũng chẳng tha thứ lỗi lầm cho các con".

Đúng vậy, tự mình chúng ta không thể nào trả nợ cho Thiên Chúa là Đấng vô cùng cao cả bị chúng ta xúc phạm, ngoài một cách nhẹ nhàng hơn, dễ dàng hơn và khả dĩ hơn đó là cách chúng ta tha nợ cho anh chị em của chúng ta, những người xúc phạm đến chúng ta, thành phần chỉ là một tạo vật thấp hèn đầy khốn nạn đáng bị xúc phạm hơn ai hết, vì chúng ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa tối cao không bao giờ được xúc phạm đến, bởi thế chúng ta mới đáng bị trừng phạt bằng cách bị người khác xúc phạm đến.

Một khi chúng ta không tha thứ cho anh chị em phạm nhân của chúng ta là chúng ta chứng tỏ chúng ta thực sự chưa hoàn toàn cảm nhận được Lòng Thương Xót Chúa đối với con người khốn nạn tội lỗi của chúng ta, và chưa thấu hiểu được hết tất cả giá trị vô cùng quí báu của ơn Thiên Chúa thứ tha.

Và vì chưa thực sự cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa và ơn tha thứ của Ngài, mà chúng ta thậm chí còn lấy lòng thù hằn báo oán của mình đối với những người anh chị em phạm nhân của chúng ta để vùi dập đi Lòng Thương Xót Chúa nơi chúng ta, không muốn chia sẻ Lòng Thương Xót Chúa nơi chúng ta qua ơn tha thứ vô cùng bao la bất tận của Ngài ra cho chung tha nhân, nhất là cho riêng thành phần phạm nhân của chúng ta, như chúng ta đã từng là phạm nhân của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, còn một "chước cám dỗ" nữa, nguy hiểm hơn, mà chúng ta cần phải cầu xin "cho khỏi sự dữ" kinh khủng này, đó là "chước cám dỗ" chán nản thất vọng bởi thấy mình tội lỗi quá sức, tội lỗi không ngừng, đến độ chúng ta tiến đến một "sự dữ" trên hết mọi "sự dữ" đó là chúng ta đặt vấn đề với ân sủng của Chúa, cho rằng ân sủng của Chúa không có tác dụng gì nơi chúng ta, nên chúng ta cứ sa ngã phạm tội mãi, không thể nào vươn lên được, không thể nào tránh phạm tội, do đó chúng ta không còn tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa nữa.

Trong khi đó, theo sự khôn ngoan vô cùng của mình, Thiên Chúa vẫn âm thầm làm việc nơi họ, thậm chí để cho họ chết đi, chết đến "xông mùi" (Gioan 11:39) Người mới chịu ra tay, để vinh quang của Ngài càng rạng ngời hơn nơi họ, như nơi trường hợp của tử thi Lazarô bước ra khỏi huyệt mộ theo lời tuyên phán đầy quyền linh tái sinh của Người (xem Gioan 11:43-44), "những lời là thần linh và là sự sống" (Gioan 6:63) có một giá trị và tác dụng thần linh vô cùng công hiệu, như chính Thiên Chúa qua miệng tiên tri Isaia đã khẳng định về Lời của Ngài trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác".

Phải, một khi thực sự cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, nơi tận cùng khốn nạn của mình, con người càng tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa hơn và tri ân chúc tụng Chúa hơn ai hết và hơn bao giờ hết, như tâm tình và cảm nhận của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ.

2) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tainạn.

3) Chúa để mắt coi người hiền đức, và tai Người lắng nghe tiếng họ cầu. Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai.

4) Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Người cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương dập nát.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

 
HOC HOI DE SONG DAO - VIEC LAM MUA CHAY PDF Print E-mail

MÙA CHAY MỜI GỌI TA PHẢI LÀM GÌ ĐỂ XỨNG ĐÁNG HƯỞNG CÔNG NGHIỆP CỨU CHUỘC CỦA CHÚA KITÔ ?
Một lần nữa Mùa Chay Thánh lại về với Giáo Hội và cộng đồng Dân Chúa khắp nơi.
Đây là thời điểm thuận lợi cho mọi tín hữu chúng ta suy niệm một lần nữa về Công nghiệp cứu Chuộc mà Chúa Kitô đã thực hiện để cứu rỗi cho toàn thể nhân loại cách nay trên 2000 năm.
Chúa đã cứu chuộc cho muôn người qua khổ hình thập giá mà Chúa đã vui lòng chấp nhận vâng theo thánh ý Chúa Cha để cứu cho nhân loại khỏi chết đời đời vì tội..Như thê, đây cũng là dịp thích nghi để chúng ta suy niệm thêm về ác tính của tội lỗi đã khiến Chúa Kitô phải chiu đóng đanh và chết rất đau thương trên thập giá năm xưa để đền tội thay cho con người. Sự kiên này cũng nhắc nhở mọi người chúng ta môt lần nữa về tình thương bao la của Thiên Chúa đã tha thứ cho nhân loại khỏi án phạt đời đời nhờ Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người để " hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người,". ( Mt 20 28).
Trong mùa chay thánh kéo dài 5 tuần lễ và kết thúc với Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh, Giáo Hội ước mong các tín hữu hãy sống mục đích của chay tịnh là hãm mình , cầu nguyện,và làm việc bác ái với tinh thần sám hối, ăn năn thực sự để canh tân đời sống thiêng liêng và để xin Chúa thứ tha mọi tội lỗi đã mắc phạm vì yếu đuối con người, vì cám dỗ của ma quỷ -kẻ cầm đầu và gây ra mọi sự dữ trong trần gian này, với sự tiếp tay của thế gian với đầy rẫy những gương xấu và dịp tội .
Để việc chay tịnh đem lại kết quả thiêng liêng mong muốn, chúng ta cẩn suy nhiệm lời Chúa qua miệng ngôn sứ Giô-e n sau đây :
" Các ngươi hãy trở về với Ta
Hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van
Đừng xé áo nhưng hãy xé lòng." ( Joel 2: 12-13)
Đừng xé áo mà hãy xé lòng có nghĩa là đừng " làm bộ rầu rỉ như bọn đạo đức giả : chúng làm cho ra vẻ thiểu não để thiên hạ thấy là chúng ăn chay"( Mt 6: 16). Chúa Giêsu đã lên án thái độ ăn chay giả dối này của bọn Biệt phái và Luật sĩ xưa kia, vì họ không thực sự ăn chay trong tình thần sám hối và khiêm nhu để từ bỏ tính kiêu căng tự phụ là người công chính, trong khi thực chất họ là những kẻ đạo đức giả hình mà Chúa Kitô đã nhiều lần nặng lời chỉ trích.( Mt 6 : 16-18; 23 : 13-29)
Đối với người tín hữu chúng ta ngày nay, đừng xé áo mà phải xé lòng trước hết có nghĩa là phải từ bỏ mọi đam mê tiền bạc của cải vật chất và danh vọng phù phiếm để yêu mến một mình Thiên Chúa là cội nguồn của mọi giầu sang phú quý bất diệt. Thứ đến , đừng xé áo mà phải xé lòng đang mê đắm mọi thú vui vô luân vô đạo, đặc biệt là mê đắm thú vui xác thịt , dâm ô nhơ nhuốc, khiến bỏ ngoài tai lời mời gọi trở nên thánh thiện để được giống Chúa là khuôn mẫu của Chân Thiện Mỹ tuyệt đối. Lại nữa, phải xé lòng để không chậy theo những thói hư tật xấu của thời đại hôm nay chỉ chú trọng vào việc sửa chữa thân xác có ngày phải chết này cho "trẻ mãi không già", cho thêm hấp dẫn sexy để đi du hí, nhẩy nhót cuồng loạn; là những thú vui của văn hóa sự chết, thay vì sửa sang tâm hồn cho thanh cao, trong sạch, sửa lương tâm cho ngay chính, lành mạnh để không xảo trá điêu ngoa, thâm độc, gian ác..
Mặt khác, để việc ăn chay được đẹp lòng Chúa , không những chúng ta phải xa tránh thái độ giả hình của bọn Biệt Phái và Luật sĩ xưa kia mà còn phải thực thi điều Chúa phán bảo qua miệng ngôn sứ sứ I-saia, sau đây :
"Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao ?:
Mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc
Trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm ?
Chẳng phải là chia cơm cho người đói
Rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ
Thấy ai mình trần, thì cho áo che thân
Không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục ?." ( Is 58 :6-7)
Lời Chúa trên đây trước hết muốn nhắc nhở những ai đang có trách nhiệm cai trị xã hội , trách nhiệm tôn trọng công lý và mưu phúc lợi cho người dân. Nhưng tiếc thay , thực trạng thế giới ngày nay cho chúng ta thấy rõ là biết bao triệu người đang bị đàn áp, bỏ đói, bóc lột, đánh đập và tù đầy chỉ vì không chấp nhận những gì là bất công, vô nhân đạo, phi luân, vô đạo của các chế độ cai trị sắt máu, của kẻ cầm quyền chỉ biết cai trị để vơ vét tiền bạc và của cải vật chất cho cá nhân hay cho tập đoàn thống trị, thay vì lo cho phúc lợi của người dân và bảo vệ những giá trị tinh thần và đạo đức cho một xã hội lành mạnh, trong sạch và công bằng..Do đó, ở đâu có bất công, chà đạp quyền sống của con người, ở đâu còn đầy rẫy gian ác, ngục hình và kìm kẹp , thì cần thiết phải đòi cho được công lý, phá vỡ gông cùm để giải phóng thực sự cho con người khỏi mọi bất công, nghèo đói và làm ngơ trước sự dữ như nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm vô cùng khốn nạn, đang diễn ra ở khắp nơi trong thế giới tục hóa ngày nay..
. Tóm lại, bao lâu còn tồn tại những bất công và tha hóa này thì bấy lâu người dân sẽ không có điều kiện thuận lợi để sống xứng với nhân phẩm và phù hợp với trật tự luân lý, đạo đức là điều kiện căn bản để phân biệt con người với loài vật vô tri.
Cùng với những bất công và tội ác của xã hội, của kẻ cai trị, phải kể thêm đến tội to lớn nữa của con người thời đại ngày nay là tội dửng dưng, vô cảm ( insensitive, numb) trước sự đau khổ, khó nghèo, thấp kém của người khác.
Cho nên, là người tín hữu Chúa Kitô, Đấng đã đồng hóa mình với những người nghèo đói, đau ốm và bị tù đầy,( cf.Mt 25 : 31- 46) , người tín hữu chúng ta được mời gọi cách riêng trong mùa chay thánh này là " không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục" đang nghèo khó, thất nghiệp, không có tiền nuôi sống gia đình, không có tiền để trả bills hàng tháng , hay đang bệnh hoạn mà không có bảo hiểm để được chữa trị, vì không nhà thương, bệnh viện nào ở trong và ngoài nước chịu chữa trị miễn phí cho ai, dù là bệnh nhân cấp cứu đang cần thầy thuốc.! Sự vô tâm của người thời đại nói chung, và cách riêng, của những kẻ đang làm chủ các bệnh viện và dịch vụ y tế là bằng chứng cụ thể về lòng ham mê tiền của khiến trở nên vô cảm trước sự đau khổ của người khác.
Nhưng khốn cho họ là "..nếu đêm nay, người ta đòi lại mạng (sống) của ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó ( tiền bạc đầy túi) sẽ về tay ai.? " (Lc 12: 20)
Đây cũng là lời nhắc nhở mọi người tín hữu trong mùa chay thánh này, cũng là mùa thực thi bác ai, chia sẻ những gì mình có cho anh chị em đang thiếu thốn hơn mình. Nhất là phải ý thức sâu xa về nguy cơ làm nô lệ cho tiền bạc và mọi của cải vật chất đến nỗi quên lãng không lo " sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời nơi trộm cắp không bén bảng, mối mọt cũng không đục phá"( Lc 12:33)
Làm nô lệ cho tiền bạc và của cải vật chất thì sẽ không bao giờ có thể vươn tâm hồn lên tới Chúa là cội nguồn của mọi phú quí giầu sang đích thực.
*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Tóm lại, Mùa chay là thời điểm thuận lợi cho mọi người tín hữu chúng ta , một lần nữa, suy niệm sâu xa về tình thương tha thứ của Thiên Chúa, để cám ơn Người đã cứu chuộc chúng ta nhờ Chúa Kitô. Đây cũng là dịp thích hợp kêu gọi chúng ta canh tân đời sống thiêng liêng để thêm quyết tâm yêu mến Chúa và cảm thông nỗi đau khổ, khó nghèo của người khác .Đồng thời cũng quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi để công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô không trở nên vô ích cho ai ngày nay. Amen
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
"-------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 113