mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2946
mod_vvisit_counterHôm Qua9355
mod_vvisit_counterTuần Này2946
mod_vvisit_counterTuần Trước73994
mod_vvisit_counterTháng Này137922
mod_vvisit_counterTháng Trước195218
mod_vvisit_counterTất cả18717627

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HỌC HỎI ĐỂ ĐẠO - TÍN HỮU CÀN BIẾT ĐỂ SỐNG PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Mon, Jan 11 at 11:00 PM

10 điều TÍN HỮU rất cần biết ĐỂ SỐNG ĐẠO

Cá phải bơi. Chim phải bay. Người Công giáo phải đi lễ Chúa Nhật. Rạch ròi và minh nhiên. Là người Công giáo nghĩa là phải biết và làm một số điều – chẳng hạn là tham dự Thánh lễ.

Nửa thế kỷ sau Công đồng Vatican II, người ta vẫn hiểu sai về cách dạy đức tin tại các giáo xứ, trường học và gia đình. Kết quả là rất nhiều người Công giáo vẫn không biết rằng họ có nhiệm vụ là tin hoặc thực hiện. Hơn 20 năm qua, với cuốn Giáp lý Công giáo, Hướng dẫn Tổng quát về Giáo lý và Hướng dẫn Quốc gia về Giáo lý, xu hướng đó đã đảo nghịch. Tuy nhiên, hệ quả của sự hỗn độn hậu Công đồng vẫn còn ở một số nơi.

Mới đây, tổ chức Our Sunday Visitor (Vị Khách Chúa Nhật) đã nghiên cứu các nhà giáo dục tôn giáo về vấn đề này, yêu cầu giúp đỡ soạn thảo một danh sách gồm các các điều cơ bản về giáo lý mà mỗi người Công giáo cần biết, nhưng nhiều người không hề biết. Đây là những gì chúng ta cần biết:

1. Chúng ta phải nên thánh

Nên thánh không là lĩnh vực đặc biệt của một số người được chọn, không dành riêng cho giáo sĩ, tu sĩ hoặc chỉ một số người được đặc cách. Thiên Chúa kêu gọi tất cả mọi người nên thánh. Nhưng chúng ta phải chọn cách đáp lại lời mời gọi đó. Chúng ta phải biết nói "vâng" đối với ân sủng Thiên Chúa muốn trao ban cho chúng ta, và "vâng" đối với Thánh Ý hoàn hảo của Ngài mọi nơi và mọi lúc.

Ở mức độ thực hành, điều đó nghĩa là đón nhận ân sủng qua các bí tích, đặc biệt là rước lễ và xưng tội. Điều này cũng có nghĩa là biết nguồn ân sủng và qua mối liên hệ đó mà nên giống Chúa hơn trong đời sống hằng ngày, biết yêu thương hơn, chân chính hơn và thương xót hơn giống như khi chúng ta gặp chính Ngài, qua Lời Chúa và Giáo hội. Điều đó cũng có nghĩa là sống theo luật Chúa, không phải luật thế gian. Nghĩa là yêu thương người khác như chính mình, phục vụ Chúa bằng cách phục vụ tha nhân, nhất là những người nhỏ bé nhất.

Dĩ nhiên, việc tiếp tục nói "xin vâng" không hề dễ dàng, nhất là khi là lời "xin vâng" để kết hiệp với Chúa Giêsu trên Thánh giá. Nhưng phần thưởng cuối cùng cho lời "xin vâng" của chúng ta là sự bình an và niềm vui vĩnh cửu. Đó là mục đích mà chúng ta được tạo dựng. Không có kết thúc nào tốt hơn như vậy.

Xin xem Mt 5:48; GLCG số 826, 897-913, 941, 1426, 2015.

2. Chúng ta đều là tội nhân

Ngoại trừ Chúa Giêsu và Đức Maria, mọi người đều "di truyền" tội nguyên tổ từ cha mẹ đầu tiên của chúng ta. Nghĩa là chúng ta sinh ra mà không có ơn thánh hóa cần thiết để chống lại cơn cám dỗ.

Nhờ bí tích Thánh tẩy, chúng ta lãnh nhận ơn thánh hóa, được tha thứ cả những tội mình đã phạm. Nhưng hệ lụy tội nguyên tổ vẫn còn. Vì khi chúng ta sống, mỗi chúng ta vẫn có nhiều khả năng quay lưng lại với Thiên Chúa. Với nhiều mức độ, chúng ta thể hiện "khả năng phạm tội" hằng ngày.

Một số người phạm tội tày trời – giết người, bạo lực, tham ô, ngoại tình,... Một số người phạm tội nhỏ, nhưng vẫn là tội lớn. Chúng ta nói dối và che giấu lầm lỗi của mình. Chúng ta nói hành, nói xấu người khác. Chúng ta xem ti-vi thay vì phải học hỏi hoặc làm điều cần hơn. Chúng ta nóng giận và không biết xin lỗi. Chúng ta không quan tâm nâng đỡ người nghèo. Chúng ta không thờ phượng Chúa. Chúng ta ghen tỵ, đố kỵ. Chúng ta tham lam. Chúng ta xét đoán. Mọi tội lỗi đó có hậu quả tạm thời là "bị tù lương tâm", nghĩa là mất niềm tin ở người khác, tất nhiên cũng có hậu quả tâm linh.

Một số tội làm mất ơn thánh hóa. Một số tội làm giảm khả năng yêu thương. Tất cả đều khiến chúng ta dễ phạm tội hơn. Cũng vậy, chúng chống lại Thiên Chúa. Đó là lý do chúng ta cần được Ngài tha thứ, được Ngài thương xót, được Ngài cứu độ.

Xin xem Rm 3:23; GLCG số 404, 1263, 1849-1869.

3. Tôn thờ Chúa Giêsu

Người Công giáo không tin vào bất kỳ thần linh nào khác. Chúng ta chỉ tin vào MỘT Thiên Chúa Ba Ngôi – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đồng bản thể. Chúng ta biết điều đó vì Chúa Con đã làm người và mặc khải chân lý. Chúa Giêsu Ngôi Hai cũng mặc khải đường tới Thiên Chúa là chính Ngài: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy" (Ga 14:6).

Như vậy, việc tôn thờ Chúa Giêsu không là cách chọn lựa riêng của người Công giáo trong đời sống đức tin, nhưng đó là một yêu cầu, một đòi hỏi. Nếu chúng ta muốn sống thánh thiện, hạnh phúc và vào Nước Trời, chúng ta phải biết Chúa Giêsu là ai, Ngài dạy gì và muốn gì ở chúng ta. Chúng ta cũng phải yêu thương và phụng sự Ngài với cả con người của chúng ta.

Muốn làm vậy, chúng ta cần tìm hiểu Chúa Giêsu qua lời của Ngài và những lời viết về Ngài. Chúng ta cần lãnh nhận Chúa Giêsu qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta cần tâm sự với Ngài về mọi thứ – về những gì chúng ta yêu và ghét, sợ và muốn, nghĩ và cảm nhận. Mọi quyết định, mọi sự chiến đấu đều cần được chuyển tới Ngài. Cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha và Kinh Mai Côi rất cần và rất tốt, thậm chí là yêu cầu bắt buộc. Đó là chỉ thị: Cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện mọi nơi và mọi lúc. Chúa Giêsu muốn chúng ta mời gọi người khác cùng làm.

Ngài truyền lệnh cho các tông đồ: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28:19-20). Đó cũng là lệnh truyền cho những ai mệnh danh là Kitô hữu.

Nhờ bí tích Thánh tẩy và Thêm sức trong Đức Kitô, tất cả chúng ta có trách nhiệm chia sẻ đức tin và mời gọi người khác cùng nhận biết Chúa Giêsu. Ccta cũng có trách nhiệm làm chứng về Đức Kitô theo văn hóa của chúng ta – mở rộng lòng thương xót, bảo vệ sự thật, bảo vệ sự sống, phục vụ người nghèo và tạo niềm hy vọng cho thế giới. Tóm lại, tất cả chúng ta đều có trách nhiệm làm tác nhân của công cuộc tân Phúc Âm hóa, để người khác cũng nhận ra diện mạo của Đức Kitô. Hãy yêu thương, yêu thương thật lòng, yêu thương vì Chúa và vì tha nhân, chỉ thế thôi: "Các điều răn của Người có nặng nề gì đâu" (1 Ga 5:3).

Xin xem Mt 11:27, 28:16-20; Ga 14:6; Ep 6:18; Pl 3:8; GLCG số 422-429, 456-478, 2558-2564.

4. Đọc Kinh Thánh

Phần lớn trong việc tôn thờ Chúa Giêsu là đọc lời của Ngài. Chúng ta gặp Ngài trong Kinh Thánh. Qua đó, chúng ta cũng gặp chính mình, gặp những chuyện đời của chính mình – câu chuyện lịch sử ơn cứu độ. Từ Adam và Eva tới Yến Tiệc Con Chiên, Kinh Thánh kể chuyện về kế hoạch của Thiên Chúa đối với thế gian. Kinh Thánh cho biết tình yêu của Ngài và số phận của nhân loại, với nhiều tình tiết đầy kịch tính. Kinh Thánh cho chúng ta biết về gia phả tâm linh của chúng ta, trở lại nguồn gốc từ dân Ít-ra-en, và còn hơn thế nữa. Thánh Giê-rô-ni-mô đã xác định: "Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô" (Ignorance of Scripture is ignorance of Christ), mà không biết Đức Kitô là không biết Thiên Chúa.

Xin xem Dt 6:1-9; Jos 1:8; 2 Tm 3: 16-17; GLCG số 80-81, 101-133.

5. Giáo hội không là sự chọn lựa hợp lệ trong nhiều cách chọn lựa

Giáo hội là Vương quốc trên thế gian do chính Chúa Giêsu thiết lập. Thánh Phêrô là người đầu tiên được trao chìa khóa Nước Trời, và là giáo hoàng tiên khởi của Giáo hội. Xuyên suốt lịch sử, Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục hướng dẫn các giáo hoàng, bảo đảm rằng giáo quyền (Magisterium) dạy sự thật và không dạy gì khác ngoài sự thật. Chân lý đó bất biến, nhưng luật có thể thay đổi. Giáo lý cũng không thay đổi. Chúng phát triển, nghĩa là cách hiểu mới đã đạt được và cách hiểu cũ được đào sâu, nhưng cách hiểu mới không thể trái ngược với cách hiểu cũ. Chân lý không thể tự mâu thuẫn.

Cũng vậy, Giáo hội thực sự có cách nhìn về chân lý. Đối với Giáo hội, Thiên Chúa mặc khải mọi chân lý cần thiết để chúng ta được cứu độ. Như vậy không có nghĩa là các tôn giáo khác không có những bộ phận tồn tại trong Giáo hội viên mãn. Cũng không có nghĩa là mọi người Công giáo đều được cứu độ, còn những ai không là Kitô hữu đều bị án phạt đời đời. Tuy nhiên, khi du hành, chúng ta phải chọn con tàu có độ an toàn cần thiết. Giống như con tàu, Giáo hội không là một chế độ dân chủ. Người khôn ngoan hơn chúng ta đã chọn một thuyền trưởng và cho người đó quyền hướng dẫn. Chúng ta có thể tin tưởng mệnh lệnh của thuyền trưởng đó.

Xin xem Mt 16:18; Cv 15; GLCG số 74-100, 811-870.

6. Thực sự có Hỏa ngục

Thiên Chúa là tình yêu, giàu lòng thương xót, Ngài không muốn chúng ta tách khỏi Ngài. Nhưng Ngài tôn trọng quyền tự do chọn lựa của chúng ta, nếu chúng ta tự tách khỏi Ngài, chết trong tình trạng mắc tội trọng, Ngài vẫn tôn trọng tự do của chúng ta.

Vậy ai là người chọn lựa cách đó? Vì cứng đầu cứng cổ, chính chúng ta vẫn hằng ngày tự ý chọn điều đó: Phạm tội. Bằng vô số cách, chúng ta tự ý chọn Thiên đàng hay Hỏa ngục. Khi chúng ta chọn Chúa, tức là làm theo đường lối và ý muốn của Ngài, đó là chúng ta chọn Nước Trời. Khi chúng ta chọn chính mình, tức là làm theo cách thức và ý riêng mình, đó là chúng ta chọn Hỏa ngục. Bạn thấy sợ chính mình chưa? Tới Ngày Phán Xét, khi chúng ta trình diện Thiên Chúa, mọi sự đều sáng tỏ, chúng ta không thể tự biện hộ hoặc viện cớ: Vì, bởi, tại, nếu, giá mà...

Xin xem Lc 16:19-25; 1 Ga 3:2; 1 Cr 3:1; Mt 7:13-14; GLCG số 1023-1037.

7. Giáo hội không nghĩ "tình dục" là xấu

Tình dục không xấu. Đó là từ ngữ đẹp, là hành động của tình yêu thánh thể hiện sự kết-hợp-trao-ban-sự-sống trong Chúa Ba Ngôi (life-giving union within the Trinity). Theo giáo huấn Công giáo, tình dục và giới tính (sex and sexuality) là những tặng phẩm quý giá. Nhờ tặng phẩm giới tính, nam và nữ là hiện thân Thiên Chúa theo cách riêng và tuyệt vời, và qua sự thân mật giới tính, chúng ta sở hữu khả năng trao tặng chính mình cho người khác, cả thể xác và tâm hồn, không còn là HAI mà là MỘT.

Qua bí tích hôn phối, nam và nữ trở thành những người đồng sáng tạo với Thiên Chúa, họ tạo ra những sự sống mới. Ngay cả khi họ kết hợp mà không có con, đó vẫn là hồng ân, là cách mà Thiên Chúa khiến họ gần nhau hơn trong tình yêu và tình bạn, giúp họ sống viên mãn hơn trong ơn gọi và định dạng bản chất của mối quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, năng lực của tặng phẩm này tác dụng hai cách. Khi tặng phẩm bị lạm dụng hoặc dùng sai, nó có thể có sức hủy hoại – gây nguy hiểm tiềm ẩn cho cá nhân, gia đình và phong hóa.

Giáo hội nhận biết các vấn nạn về phim ảnh "đen", tình dục trước hôn nhân, ngừa thai, sống thử, lang chạ, phá thai, nghiện tình dục, ngoại tình, ly hôn, đồng tính, nghèo khó, trầm cảm, cô đơn và bạo lực. Đó là những hậu quả do dùng sai tặng phẩm giới tính của Thiên Chúa. Đó là lý do vẫn có người không ngừng bảo vệ sự thật về giới tính. Hãy tạ ơn Chúa về điều đó. Sự thật luôn tốt đẹp!

Xin xem Cl 3:5; 1 Cr 6:18-20; GLCG số 2331-2391.

8. Dự lễ Chúa Nhật là luật buộc

Giáo hội dạy người Công giáo phải dự lễ Chúa Nhật. Là luật buộc nhưng hữu ích cho chúng ta. Tất nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, chúng ta đừng dễ dãi mà viện cớ để biện hộ cho mình. Với người bình thường, bỏ lễ Chúa Nhật là tội trọng.

Giáo hội muốn chúng ta dự lễ Chúa Nhật vì chúng ta cần lãnh nhận ân sủng. Chúng ta phải ưu tiên cho Chúa. Chúng ta phải công khai sống đức tin và thờ phượng Ngài. Đặc biệt là chúng ta phải lãnh nhận Mình Máu Đức Kitô để có sự sống dồi dào. Về tâm linh, chúng ta không thể sống mà thiếu Thần Lương. Cũng như chúng ta không thể chạy marathon khi bụng đói.

Xin xem Dt 10:25; GLCG số 2175-2183.

9. Xưng tội là luật buộc

Tất cả chúng ta, từ giáo hoàng trở xuống, đều thiếu ơn Chúa. Ai cũng là tội nhân nên luôn cần sám hối, điều này thể hiện công khai qua việc lãnh nhận bí tích Hòa giải, nhất là khi chúng ta mắc tội trọng. Nhờ đó, chúng ta được Thiên Chúa chữa lành và tha thứ.

Nhờ lãnh nhận bí tích Hòa giải, chúng ta được lãnh nhận hồng ân giúp chống trả chước cám dỗ trong tương lai. Không có tội nào mà Thiên Chúa không thể hoặc không muốn tha thứ. Chúa Giêsu đã nói với Thánh Faustina: "Lòng thương xót của Ta lớn hơn mọi tội lỗi của con và của toàn thế giới". Vấn đề là chúng ta tin tưởng vào Tình Chúa và thành tâm sám hối. Giáo hội dạy rằng lòng thương xót là thuộc tính lớn nhất của Thiên Chúa. Mọi động thái của Ngài đều thể hiện tình yêu thương xót (merciful love). Đó là cách thức và lý do mà chúng ta nhận biết Ngài.

Xin xem Mt 16:19; 2 Cr 5:18; GLCG số 277, 1422-1470, 1864 và 2001.

10. Mọi Kitô hữu đều phải sám hối

Theo kế hoạch cứu độ thế giới, Thiên Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài. Một trong các cách hợp tác là chúng ta chịu đau khổ – vui chịu đau buồn, khó khăn, vất vả, hy sinh, cô đơn,... để kết hợp với khổ hình Thập giá mà Chúa Giêsu đã chịu vào chiều thứ Sáu năm xưa. Ngài cũng muốn chúng ta chịu mọi đau khổ để đền tội của mình và tội của người khác, và để cứu các linh hồn. Theo truyền thống của Giáo hội, việc sám hối thường kết hợp với việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái. Giáo hội cũng mời gọi chúng ta ăn chay và kiêng thịt các ngày thứ Sáu (trừ lễ trọng), đặc biệt là mùa Chay.

Xin xem Mt 9:1; Cl 1:24; GLCG số 307, 793, 1430-1439 và 1500.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ OSV.com)

-----------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TẠI SAO PHẢI XƯNG TỘI VỚI MỘT LINH MỤC ?

Hỏi :
xin cha giải thích rõ những câu hỏi sau đây:
1- Các mục sư Tin Lành đều dạy phải xin Chúa tha tội, chứ không qua trung gian của ai cả. Như vậy có được không ?
2- Có được xưng tội qua điện thoại hay email không?
3- Khi nào được phép xưng tội tập thể ?
Trả lời :
1- Như tôi đã có đôi lần nói rõ là : chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có đầy đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn lãnh nhận để được cứu rỗi.
Liên quan đến Bí Tích hòa giải ( penance= reconciliation) Chúa Kitô đã ban quyền tha tội trước hết cho các Tông Đồ, và sau này cho Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Tông Đồ như sau :
" anh em tha cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)
Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa muốn cho con người phải chạy đến với những người trung gian thay mặt Chúa là các Tông Đồ xưa kia và các vị thừa kế các Tông Đồ ngày nay là các Giám Mục trong Giáo hội để nhận lãnh ơn tha thứ qua bí tích Hòa giải. Các giám mục lại chia sẻ quyền tha tội này cho các linh mục là những cộng sự viên thân cận trực thuộc, cũng được chia sẻ Chức linh Mục đời đời của Chúa Kitô. ( Linh mục chia sẻ một phần, Giám Mục chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đó).
Nếu chỉ cần xưng tội trưc tiếp với Chúa mà không qua trung gian ai thì Chúa Giêsu đã không nói với các Tông Đồ những lời trên đây, sau khi Người từ cõi chết sống lại và hiện ra với các ông; cũng như trước đó đã không phán bảo Phêrô những lời sau đây :
" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì , trên trời cũng sẽ tháo gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)
Với quyền to lớn trên đây, Giáo Hội- cụ thể là Đức Thánh Cha- có quyền ra hình phạt nặng nhất là vạ tuyệt thông ( ex-communication) và tháo gỡ vạ này.
Như vậy, muốn được ơn tha thứ của Chúa, thì buộc phải xưng tội cá nhân với một linh mục đã được chịu chức thành sự ( validly ordained) và đang có năng quyền ( priestly Faculties) được tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi). Sở dĩ thế, vì nếu một linh mục đang bị Giám mục của mình rút hết năng quyền - hay gọi nôm na là bị treo chén ( suspension. x. giáo luật số 1333)- thì tạm thời không được phép cử hành bí tích này và các bí tích khác cho đến khi được trao lại năng quyền đầy đủ .( trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục – dù đang bị "treo chén" vẫn được phép tha tội cho hối nhân đang lâm nguy mà không tìm được linh mục khác để xưng tội và lãnh phép lành sau hết. (x. giáo luật số 976).
Giáo lý và giáo luật của Giáo Hội cũng dạy phải xưng tội cá nhân với một linh mục như sau:
" Thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục là một điều chủ yếu của bí tích Giải tội.Khi xưng tội, các hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà mình biết đã phạm, sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị trọng thương hơn hết , và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ."( x, SGLGHCG số:1456; giáo luật số 960).
Như thế chắc chắn không thể nói như anh em Tin Lành là chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà không cần qua trung gian của ai. Dĩ nhiên Chúa tha tội khi ta thực tâm sám hối và xin Chúa thứ tha. Nhưng vẫn cần phải xưng tội với một linh mục thay mặt Chúa để tha tội, vì Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông Đồ trước tiên và sau này cho Giáo Hội ngày nay.
Nghĩa là khi Giáo Hội thi hành lời Chúa để cử hành các bí tích- cách riêng bí tích Hòa giải để tha tội cho con người nhân danh Chúa Kitô( in persona Christi), thì chúng ta phải nghe và tuân theo ý muốn của Giáo Hội, cũng là ý muốn của Chúa; nghĩa là xưng tội với một linh mục để nhận lãnh ơn tha thứ của Chúa qua trung gian của các thừa tác viên con người là Giám mục và linh mục. Đây là điều các anh em Tin Lành không đồng ý với chúng ta nên họ dạy các tín đồ của họ chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.
Dĩ nhiên khi ta xưng tội với một linh mục, thì cũng xưng tội với Chúa để xin Người tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Và đây là ý muốn của Chúa Giêsu khi Người trao quyền tha tội cho các Tông Đồ xưa và cho Giáo hội ngày nay. Và đó cũng là tất cả ý nghĩa lời Chúa dạy sau đây:
" ai nghe anh em là nghe Thầy.
Ai khước từ anh em là khước từ Thầy
Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)
Kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người chúng ta cho ta biết rằng mỗi khi xưng tội – đặc biệt là tội trọng- cách thành thật và với tinh thần sám hối , thì ta cảm thấy nhẹ nhõm và an vui trong tâm hồn, một cảm giác mới lạ của an vui sung sướng nội tâm, khác hẳn với tâm tình sẵn có trước khi xưng tội. Điều này chứng minh cụ thể là Chúa đã tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Ngược lại, khi có tội trọng hay nhẹ mà chỉ xin Chúa tha thứ nhưng không đi xưng tội, thì không bao giờ cảm nghiệm được sự an vui nội tâm như khi xưng tội với một linh mục và nhận lãnh ơn tha thứ ( absolution).
Các anh em tin Lành không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, dù cho họ có ca tụng lòng thương xót của Chúa đến đâu, có sám hối nội tâm và xin Chúa tha thứ mà không đi xưng tội như người Công giáo. Họ không đi xưng tội vì trước hết họ không công nhận vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc ban phát các ơn sủng của Chúa cho con người, cho nên họ chủ trương đi thẳng tới Chúa là vì vậy.
Vả lại, tất cả các nhánh Tin Lành( Protestantism) và Anh Giáo ( Anglican Communion) đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên không có chức linh mục và giám mục để cử hành hữu hiệu các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức dầu nệnh nhân và truyền Chức Thánh. Chính vì họ không có chức linh mục hữu hiệu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể và tha tội cho ai được. Đó là lý do tại sao họ chủ trương chỉ cần xưng tội trực tiếp với Chúa, vì họ cho rằng các thừa tác viên con người như linh mục và giám mục không có năng quyền tha tội cho ai như Giáo Hội Công Giáo tin và dạy..
Một điều quan trọng nữa liên quan đến việc xưng tội cá nhân với một linh mục là đừng ai lo sợ những tội mình xưng với linh mục có thể bị tiết lộ ra ngoài.
Mọi linh mục đều buộc phải giữ kín những gì hối nhân nói với mình trong tòa giải tôi. Đây là Ấn tòa giải tội ( Seal of confessons) mà mọi linh mục buộc phải giữ kín. Linh mục nào vi phạm sẽ tức khắc bị vạ truyệt thông tiền kết (đương nhiên mắc vạ và chỉ có Tòa Thánh tháo gỡ mà thôi) ( x giáo luật số1388)
Tóm lại, là người Công giáo, chúng ta phải nghe và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy bảo thay mặt Chúa Kitô để bỏ ra ngoài tai những gì không phù hợp với giáo lý, tín lý, luân lý và phụng vụ của Giáo Hội.
2- Có được xưng tội qua email hay điện thoại không ?
Chắc chắn là không được, và Giáo Hội không bao giờ cho phép thực hành này.Lý do là nó trái với giáo lý về cách xưng tội đòi hỏi hối nhân phải trực tiếp thú nhận các tội mình đã phạm với một linh mục, là người nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để nghe và tha tội cho mình. (đọc giáo lý trích ở phần trên).
Lại nữa, tiện đây cũng xin nói thêm là ngay cả việc xem lễ trên truyền hình, củng chỉ có ích cho các bệnh nhân ở tư gia hay ở nhà thương, không thể đến nhà thờ để dự lễ cùng với cộng đoàn. Xem lễ cách này chỉ giúp thông công với các tin hữu đến nhà thờ dự lễ thực sự, nhưng vẫn thiếu phần hiệp lễ là không được rước Mình Mấu Chúa Kitô, như mọi tín hữu đến dự lễ ở nhà thờ. Như thế, người khỏe mạnh không thể xem lễ trên Truyền hình như phương tiện chu toàn luật buộc tham dự lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng.
Tóm lại, muốn hiêp thông Thánh Lễ trọn vẹn thì phải đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh Lễ cùng với cộng đoàn đức tin. Thánh Lễ trên truyền hình chỉ dành riêng cho các bệnh nhân ở nhà thương , hay người già yếu ở tư gia, không thể đến nhà thờ để dự Lễ được mà thôi.Vả lại, những bệnh nhân hay người già yếu ở tư gia thì không buộc phải tham dự Thánh Lễ ở nhà thờ hay trên truyền hình. Luật buộc tham dự Thánh Lễ chỉ áp dụng cho những người khỏe mạnh mà thôi.
3-Khi nào được phép xưng tội tập thể ( communal confessions) ?
Thông thường thì phải đi xưng tội cá nhân, nghĩa là xưng tội riêng với một linh mục sau khi đã xét mình nghiêm chỉnh và sám hối nội tâm, như đã nói ở trên.
Tuy nhiên, trong thực tế, có những hoàn cảnh mà linh mục không thể giải tội cá nhân cho nhiều người trong một thời lượng hạn chế. Thí dụ, khi có thiên tai, bão lụt, đắm tầu, sóng thần hay động đất gây nguy tử cho nhiều người ở một địa phương nào, khiến linh mục không thể có đủ giờ để nghe từng hối nhân muốn xưng tội trong những hoàn cảnh ấy,.
Lại nữa, trong những dịp trọng đại như Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh là những dịp có rất nhiều người muốn xưng tội. Nhưng chỉ có một mình cha xứ phải làm mục vụ cho một giáo xứ lớn hay nhiều xứ nhỏ họp lại,thì không thể nào giải tội cá nhân cho một số lớn hối nhân trong một thời gian ngắn được. Do đó, vì nhu cầu mục vụ và vì lợi ích thiêng liêng của giáo dân, linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải tập thể. Nghĩa là cho gom giáo dân lại và giúp họ xét mình, thống hối ăn năn, rồi ban phép tha tội tập thể cho họ. Nhưng việc này phải được phép trước của giám mục giáo phận. Vì thế, ở mỗi giáo phận, giám mục địa phận sẽ cho phép trường hợp nào có thể giải tội tập thể.Nghĩa là, linh mục không thể tự ý giải tội tập thể mà không có phép của giám mục giáo phận; trừ trường hợp nguy tử như đắm tầu, động đất, chiến tranh, khiến nhiều người- trong đó có người công giáo- có thể chết mà không kịp xưng tội cá nhân.

Nên nếu linh mục có mặt trong trường hợp này, thì được phép giải tội tập thể cho các tin hữu công giáo trong cơn nguy tử đó. Nhưng dù được tha tội tập thể trong những trường hợp trên, nếu ai xét mình có tội trọng, thì- sau khi qua cơn nguy biến đó- vẫn buộc phải đi xưng tội cá nhân với linh mục.( giáo luật số 961-62).
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.Amen
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.DMin.(Doctor of Ministry=Tiến sĩ Sứ Vụ)

--------------------------------------

 

 
HOC HOI ĐỂ SỐNG ĐẠO -LINH HỒN MỒ CÔI PDF Print E-mail

CÓ LINH HỒN NÀO MỒ CÔI và "KHỐN NẠN" KHÔNG ?
Hỏi : xin cha giải thích rõ về những linh hồn được gọi là "mồ côi" và "khốn nạn" trong nơi Luyện hình.
Trả lời :
I-Trước hết về những linh hồn gọi là "mồ côi"
Giáo dân ViệtNam thường có thói quen xin lễ cầu cho những linh hồn "mồ côi" vì cho rằng những linh hồn này không có thân nhân, bạn hữu còn sống để cầu nguyện cho.
Điều này không đúng theo giáo lý của Giáo Hội vì những lý do sau đây :
1- Các linh hồn mà Giáo Hội cầu nguyện cho là AI ?
Họ là những tín hữu đã ly trần " trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, mặc dù được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời, nhưng vẫn phải chịu một sự thanh luyện cần thiết sau khi chết hầu đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui Thiên đàng." ( SGLGHCG, số 1030).
Nói khác đi, những ai đã chết trong tình trạng đang hiệp thông với Chúa nghĩa là không có tội trọng (mortal sin) hoặc có nhưng đã ăn năn kịp thời và được tha qua bí tích hoà giải, thì được bảo đảm về ơn cứu rỗi đời đời, nhưng vẫn phải trải qua một thời gian ở nơi gọi là "Luyện tội=Purgatory" để được thanh tẩy khỏi mọi hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) của tội đã được tha, trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần thì " sẽ chẳng được tha cả đời này lẫn đời sau. " ( Mt 12:32). Xin nhắc lại tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và tình thương
tha thứ của Người.
Giáo Hội chỉ dạy cầu cho các linh hồn còn đang được thanh luyện trong Luyện tội mà thôi, chứ không cầu cho những linh hồn ở nơi gọi là " Hoả ngục=Hell" được vì không còn sự hiệp thông nào giữa nơi này với Thiên đàng và Giáo Hội lữ hành trên trần thế. Nghĩa là những linh hồn ở đây " đã vinh viễn xa lìa Thiên Chúa và các thánh trên trời" ( x. Sđd ,số 1033).
Tuy nhiên, chúng ta không biết được những ai đang bị phat trong hoả ngục. Hơn thế nữa , Thiên Chúa là Cha quá nhân từ, nên " Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải" ( 2Pr 3: 9) để được cứu rỗi.Và chỉ một mình Ngài biết số phận đời đời của những ai đã ly trần mà thôi. Giáo Hội không biết được nên chỉ dạy cầu cho các linh hồn đã ly trần, chứ chưa hề tuyên bố ai đã sa hoả ngục rồi nên khỏi cầu xin nữa.Tuy nhiên, Giáo Hội có quyền phong thánh ( canonization) cho một số tín hữu đã qua đời để long trọng tuyên bố rằng " những tín hữu này đã thực hành các nhân đức một cách anh hùng và đã sống trung thành với ân sủng của Thiên Chúa..." ( x. Sđd, số 828) như thánh Maria Goretti, Tê-rê-xa Giê su Hài Đồng, Thánh Phan xicô Xaviê, và 17 anh hùng tử đạo ViệtNam ( ngày 19-6-1988).v.v.Dĩ nhiên, muốn được phong thánh, phải hội đủ những điều kiện theo luật của Giáo Hội đòi hỏi.
2- Có linh hồn nào gọi là "mồ côi" không ?
Đối với tất cả các tín hữu đã ly trần, hàng ngày , khi cử hành Thánh lễ Tạ Ơn ( The Eucharist), Giáo Hội cầu nguyện cách chung cho tất cả như sau:
" Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã ly trần trong tình thương của Chúa.
Xin cho hết thảy được vào hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa. ( Kinh nguyện Tạ Ơn II)
Các Kinh Nguyện Thánh Thể ( Tạ Ơn) I, III và IV đều có những lời cầu xin tương tự như vậy cho các linh hồn đã ly trần, nghiã là không có chỗ nào phân biệt linh hồn có thân nhân còn sống đang xin lễ cầu nguyện cho hay những linh hồn không có thân nhân còn sống để cầu nguyện cho nữa..
Người có thân nhân còn sống xin lễ cầu nguyện cho ai đã ly trần thì Giáo Hội đọc thêm lời cầu sau đây:
" Xin nhớ đến tôi tớ Chúa là...(tên thánh) mà (hôm nay) Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa. Xin ban cho kẻ đã chết như Con Chúa thì cũng được sống lại như Người" .
Như vậy, nếu có ai xin lễ cầu cho một hay vài linh hồn nào, thì Giáo Hội đọc thêm lời cầu trên đây, nhưng vẫn không quên cầu cho tất cả các tín hữu đã ly trần không phân biệt người còn thân nhân hay "mồ côi" vì không có ai xin lễ cầu nguyện cho.
Nói linh hồn "mồ côi" là nói theo suy nghĩ của con người mà thôi; và điều này không đúng với giáo lý và thực hành trong phụng vụ thánh của Giáo Hội , vì Giáo Hội không hề phân biệt linh hồn nào là mồ côi, linh hồn nào có thân nhân còn sống như người ta quen nghĩ mà chỉ cầu chung cho tất cả các tín hữu đã ly trần ngay cả trong những thánh lễ có người xin cầu riêng cho những linh hồn thân nhân của họ đã qua đời.
Như vậy , không có vấn đề "linh hồn mồ côi" trong niềm tin và thực hành của Giáo Hội.
Cũng xin được nói lại ở đây một lần nữa là những linh hồn đang được thanh luyện trong chốn Luyện hình đã là những linh hồn thánh ( Holy souls) nhưng họ chưa thánh thiện đủ để vào Thiên Đàng hưởng nhan thánh Chúa cùng các thánh nam nữ khác. Vì thế, họ cần được " tạm trú" ở đây một thời gian dài ngắn tuỳ theo lương khoan dung và công bằng của Chúa. Họ cần sự giúp đỡ của những tín hữu còn sống trong Giáo Hội lữ hành trên trần thế và các Thánh ở trên Thiên Đàng nguyện giúp cầu thay cho họ sớm được tha hình phạt hữu hạn để vào Thiên Quốc.
II- Có linh hồn nào bị coi là "Khốn nạn " trong nơi luyện tội hay không ?
Trong một kinh đọc trước thánh lễ ở một vài cộng đoàn ViệtNam, người ta nghe thấy có những câu đại ý như sau :
" xin Chúa ban những ân xá nào có thể chỉ được cho các linh hồn, nhất là những linh hồn khốn nạn trong luyện ngục...
Tôi không nhớ rỏ từng chữ trong kinh này nhưng chắc chắn có nghe cụm từ " những linh hồn khốn nạn trong luyện hình."
Vậy Ai là những linh hồn "khốn nạn " trong luyện hình ? Mà 'khốn nạn" theo nghĩa nào ?
Chắc chắn đây chỉ là tưởng tượng của ai đã đặt ra kinh "quái dị" nói trên để giáo hữu một số nơi cứ đọc mà không ai chịu sửa chữa cho phù hợp vơi giáo lý, tín lý của Giáo Hội.
Như đã giải thích ở phần trên, các linh hồn , dù đau khổ trong nơi luyện tội, đã là các linh hồn thánh (Holy Souls) rồi và có thể chuyển cầu đắc lực cho các tín hữu trên trần thế , nhưng không thể tự giúp mình được vì thời gian đả mãn, không cho phép họ làm việc lành thêm hoặc phạm tội thêm được nữa. Họ là những người có hy vọng chắc chắn được cứu rỗi, và chỉ còn chờ thời gian sớm hay muộn mà thôi. Vậy làm sao họ có thể bị coi là "khốn nạn" được ? Có chăng chỉ có những linh hồn đã phải lìa xa Chúa đời đời trong nơi gọi là "hoả ngục" thì mới "khốn nạn" mà thôi, vì phải lìa xa Chúa vĩnh viễn. Và chúng ta cũng không thể làm gì để cứu họ được, vì không có sự hiệp thông nào giữa những ai ở hoả ngục với các thánh ở trên trời và các tín hữu còn trong Giáo Hội lữ hành trên trần gian.( x. SGLGHCG số 1033)
Vậy dứt khoát không có vấn đề cầu cho những linh hồn "khốn nạn" trong luyện hình vì từ ngữ này không đúng để mô tả tình trạng của các linh hồn ở nơi đó.
Họ có đau khổ bao lâu chưa được hưởng Nhan Thánh Chúa, là nguồn mọi vinh phúc , hoan lạc của các thánh và các thiên thần, nhưng họ được bảo đảm ơn cứu độ muôn đời , vì đã ra đi trong ơn nghĩa của Chúa, nghĩa là sẽ có ngày họ được hưởng Nhan Thánh Ngài.. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, vì chưa được thánh thiện hoàn toàn để vào ngay Thiên Đàng nên họ phải chịu thanh tẩy ở nơi thanh lọc cuối cùng này trong một thời gian dài ngắn tuỳ theo lượng khoan dung và công bình của Chúa đòi hỏi. (x Sđd, số 1030-1031)
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

----------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO- NHỮNG CÂY NẾN MÙA VỌNG PDF Print E-mail

DM Tran

NHỮNG CÂY NẾN MÙA VỌNG

Trần Mỹ Duyệt

Giáo Hội đã bước vào Mùa Vọng, 4 Chúa Nhật chuẩn bị đón mừng biến cố trọng đại là kỷ niệm ngày hạ sinh của Chúa Cứu Thế. Ngài đến với trần gian qua hình hài một trẻ sơ sinh, và mang thân phận con người. Ngài chính là Emmanuel (Mt 1:23), có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thánh Phaolô Tông Đồ diễn tả về Ngài: "Ngài trở nên giống như con người ngoại trừ tội lỗi" (Hebrews 4:15). Biến cố lịch sử ấy đã diễn ra giữa đêm đông giá lạnh tại đồng quê Belem, hơn 2000 năm trước.

Lịch sử Mùa Vọng

Trong ý nghĩa phụng vụ, Mùa Vọng là thời gian của hy vọng và chờ đợi. "Advent" có nghĩa là "đến". Nó nhắc chúng ta dừng lại mỗi ngày trong tháng Mười Hai để nhớ lại Chúa Giêsu đã đến với nhân loại vào đêm Giáng Sinh. Truyền thống tại nhiều quốc gia tuy khác nhau đôi chút, nhưng cách chung để nhắc nhớ đến ngày sinh nhật của Chúa Giêsu là những vòng hoa, những cây nến Mùa Vọng.

Chữ "Advent" bắt nguồn từ chữ "adventus" của Latin, có nghĩa là "đến". Nó được dịch từ chữ parousia trong tiếng Hy Lạp. Phần lớn chúng ta ngày nay đều hiểu rằng đây là thời gian của việc chuẩn bị và trông mong ngày giáng trần của Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, những Mùa Vọng đầu tiên ở các thế kỷ thứ 4 và thứ 5 là thời gian mang ý nghĩa ăn chay và cầu nguyện cho những tân Kitô hữu. Nhưng Mùa Vọng mang ý nghĩa chuẩn bị đón mừng ngày hạ sinh của Chúa Cứu Thế chỉ được bắt đầu khoảng năm 300 A.D, trong cuộc họp của các vị lãnh đạo Giáo Hội gọi là Công Đồng Sargossa. Nó được diễn tiến từ từ thành một mùa suốt trong tháng Mười Hai, kéo dài 4 tuần cho đến lễ Giáng Sinh. Mùa Vọng không chỉ là dấu hiệu mong chờ để kỷ niệm ngày sinh nhật của Chúa Kitô, nhưng còn là dấu hiếu chờ đợi ngày Ngài đến lần thứ hai.

Những cây nến Mùa Vọng

Như những cây nến Mùa Vọng chiếu sáng giữ đêm trường tăm tối. Những cây nến Mùa Vọng mang ý nghĩa tượng trưng và nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu đến như Ánh Sáng chiếu vào thế giới tăm tối của con người. Những cây nến được sắp thành vòng tròn trong một vòng hoa Mùa Vọng. Theo một tục lệ, tại Scandinavia các nhà thờ Tin Lành thắp một cây nến mỗi ngày trong tháng Mười Hai. Đến Lễ Giáng Sinh, họ có 24 cây nến sáng.

Truyền thống chung về nến Mùa Vọng chính là 4 cây nến quanh một vòng hoa. Mỗi cây được thắp lên vào đầu mỗi Chúa Nhật trong tháng Mười Hai. Mỗi cây mang một ý nghĩa tượng trưng riêng. Nhưng cây nến số 1, số 2, và số 4 có màu tím. Riêng cây số 3 là màu hồng. Cũng có nơi, tất cả 4 cây nến đều là màu đỏ, hoặc 4 cây nến cùng là màu xanh da trời hoặc trắng. Một vài nơi còn dùng cây nến thứ 5 màu trắng để ở giữa và nó được đốt lên ngay chính lễ Giáng Sinh.

Ý nghĩa và biểu tượng

1. Cây nến đầu tiên, tượng trưng cho Hy Vọng. Nó cũng còn được gọi là cây nến "Tiên Tri" để tưởng nhớ đến các tiên tri trong Cựu Ước, đặc biệt là tiên tri Isaiah, người đã nói tiên tri về việc hạ sinh của Chúa Cứu Thế. Nó chính là biểu tượng cho niềm hy vọng hòa nhập trong mong chờ Đấng Thai Sai (Messiah). Ngài là Đấng sẽ xuất hiện để giải thoát nhân loại khỏi tội tình, khỏi vòng nô lệ của Satan.

2. Cây nến thứ hai, tượng trưng Đức Tin. Nó cũng được gọi là cây nến "Bethlehem" mang ý nghĩa tưởng nhớ đến cuộc hành trình về Bethlehem của Mẹ Maria và Thánh Giuse. Đức Tin của Mẹ Maria và Thánh Giuse đã phải trải qua những thử thách khi chứng kiến Con Thiên Chúa làm người giáng sinh trong máng bò lừa đơn hèn giữa đêm trường giá lạnh.

3.Cây nến thứ ba là cây màu hồng và tượng trưng niềm Vui Mừng. Nó còn được gọi là cây nến "Mục Đồng". Theo tinh thần phụng vụ, màu hồng tượng trưng cho niềm vui. Cũng vì thế, Chúa Nhật thứ ba mùa Vọng còn được gọi là Chúa Nhật Gaudete. Nó mang ý nghĩa nhắc nhở chúng ta sự vui mừng mà thế giới đã kinh nghiệm về sự giáng trần của Chúa Giêsu, cũng như sự vui mừng mà những Kitô hữu đã cảm nhận được ở giữa Mùa Vọng.

4.Vào Chúa Nhật thứ tư của Mùa Vọng, chúng ta thắp cây nến màu tím cuối cùng để kết thúc tuần lễ cuối của kinh nguyện, thống hối khi chúng ta trông chờ ngày hạ sinh của Chúa Cứu Thế của chúng ta. Cây nến cuối cùng cũng được gọi là cây nến "Thiên Thần" tượng trưng cho sự Bình An. Nó nhắc nhở chúng ta về thông điệp của các thiên thần: "Bình an dưới đất cho người lòng ngay" (Luc 2:14). Chúa đến để giải thoát nhân loại tội tình. Chúa đến để ban cho nhân loại hồng ân con Thiên Chúa. Món quà mà Ngài mang xuống từ trời cao cho con người là sự bình an. Sự bình an của con cái Chúa. Luôn luôn hạnh phúc vì có Chúa ở cùng.

Mùa Vọng đã bắt đầu, những ngọn nến Mùa Vọng sẽ từ từ được thắp lên để nhắc nhở chúng ta về thời gian chuẩn bị và đón chờ. Như 5 cô trinh nữ khôn ngoan, chúng ta cũng hãy trang trí cho hang đá tâm hồn mình được thắp sáng bằng những ngọn nến vui mừng, bình an, và hy vọng cùng với niềm tin yêu tha thiết để đón tiếp Hài Nhi Giêsu khi Ngài ngự đến trong đêm Giáng Sinh.

Noel 2020

Nguồn: Sưu tầm và tóm lược trên Internet

--------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - ĐTC TRẢ LỜI VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH PDF Print E-mail


Mon, Nov 9 at 2:50 PM

Thông cáo Tòa Thánh: Đức Thánh Cha Phanxicô trả lời về hôn nhân đồng tính

Những lời nhận định này của Đức Thánh Cha không đề cập đến Học thuyết Giáo Hội Công Giáo về hôn nhân và gia đình. Bí tích Hôn nhân, cũng như định nghĩa hôn nhân theo luật dân sự, luôn luôn là việc giữa người nam và người nữ.

Tài liệu này cống hiến một số điểm hữu ích, với mong muốn trình bày một cách hiểu thích đáng về những tuyên bố của Đức Thánh Cha.

* * *

Trong những ngày qua, một số khẳng định trong phim tư liệu "Phanxicô", của đạo diễn Evgeny Afineevsky, đã gây nên những phản ứng và cách giải thích khác nhau. Vì thế, xin được trình bày một số yếu tố hữu ích, theo ý muốn của Đức Thánh Cha, giúp hiểu biết cách thích đáng những tuyên bố của ngài.

Hơn một năm trước, trong một buổi phỏng vấn, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trả lời hai câu hỏi riêng biệt ở hai lúc khác nhau, thế rồi chúng đã được biên tập và xuất bản trong đoạn phim nói trên, thành như một câu trả lời duy nhất mà không hề đề cập đến bối cảnh của nó, điều đó đã gây nên những lẫn lộn, bối rối. Điều đầu tiên Đức Thánh Cha đã nói liên quan đến vấn đề mục vụ: trong gia đình, tuyệt đối đừng bao giờ kỳ thị những đứa con có xu hướng tính dục đồng giới. Những lời liên quan đến vấn đề này đó là: «Las personas homosexuales tienen derecho a estar en familia; son hijos de Dios, tienen derecho a una familia. No se puede echar de la familia a nadie ni hacerle la vida imposibile por eso» ["Những người đồng tính luyến ái có quyền sống trong gia đình; họ là con Thiên Chúa, họ có quyền có một gia đình. Không thể loại trừ bất kỳ ai ra khỏi gia đình, hay khiến cho đối với người này đời sống là không thể vì lý do đó"].

Đoạn văn sau đây của Tông huấn Hậu Thượng hội đồng về tình yêu trong gia đình Amoris laetitia (2016) có thể soi sáng cho ý trên: "Cùng với các Nghị phụ Thượng Hội đồng, tôi đã xem xét hoàn cảnh của các gia đình sống kinh nghiệm trong nhà mình có người mang xu hướng đồng tính, một kinh nghiệm không dễ dàng đối với cha mẹ cũng như con cái. Vì vậy, trước hết chúng tôi muốn khẳng định lại rằng mọi người, không phân biệt khuynh hướng tính dục, phải được tôn trọng theo phẩm giá của họ và phải được đón nhận với lòng kính trọng, hết sức tránh "mọi dấu hiệu kỳ thị bất công" và nhất là mọi hình thức gây hấn và bạo lực. Còn đối với gia đình thì cần bảo đảm một sự đồng hành trân trọng, để người có xu hướng đồng tính có thể nhận được sự trợ giúp cần thiết, để họ hiểu và thi hành trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa trên cuộc đời của mình" (số 250).

Còn câu hỏi tiếp theo của cuộc phỏng vấn thì liên quan đến một luật địa phương tại Argentina mười năm trước gọi là «matrimonios igualitarios de parejas del mismo sexo» ["các cuộc hôn nhân bình đẳng của các cặp đồng tính"] và liên quan đến những đối chứng phản kháng của Đức Tổng Giám mục Buenos Aires khi đó. Về vấn đề này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định rằng «es una incongruencia hablar de matrimonio homosexual» ["thật không hợp lý khi nói về hôn nhân đồng tính"], trong bối cảnh cụ thể như thế, ngài đề cấp đến quyền của những người này, họ có quyền được pháp luật bảo vệ, nên ngài nói thêm: «lo que tenemos que hacer es una ley de convivencia civil; tienen derecho a estar cubiertos legalmente. Yo defendí eso» ["việc chúng ta phải làm là tạo ra một đạo luật về sự chung sống dân sự; họ có quyền được pháp luật bảo vệ. Tôi đã ủng hộ điều này"].

Trong cuộc phỏng vấn năm 2014 Đức Thánh Cha đã phát biểu: "Hôn nhân là việc giữa một người nam và một người nữ. Các nhà nước dân sự muốn biện minh cho việc kết hiệp dân sự để điều chỉnh những tình huống khác nhau của việc chung sống, được thúc đẩy bởi đòi hỏi phải điều chỉnh những tương quan kinh tế giữa con người với nhau, chẳng hạn như bảo đảm có được sự hỗ trợ y tế. Đó là những thỏa thuận chung sống có bản chất khác nhau mà tôi không thể liệt kê hết được. Cần phải xem xét và đánh giá các trường hợp khác nhau trong chính sự đa dạng của chúng".

Do đó hiển nhiên là Đức Thánh Cha Phanxicô đã đề cập đến những quy định cụ thể của nhà nước, chứ không hề nói về giáo thuyết của Hội Thánh, giáo thuyết mà ngài đã xác nhận nhiều lần trong những năm qua.

Nguồn: hdgmvietnam.com

Kính chuyển:
Hồng

--------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 168