mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7128
mod_vvisit_counterHôm Qua7975
mod_vvisit_counterTuần Này38783
mod_vvisit_counterTuần Trước32590
mod_vvisit_counterTháng Này96734
mod_vvisit_counterTháng Trước182520
mod_vvisit_counterTất cả11959375

We have: 119 guests online
Your IP: 54.224.118.247
 , 
Today: Oct 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THANH LUCA PDF Print E-mail

Kristie Phan chuyển

THÁNH LUCA THÁNH SỬ

Thánh Luca là người Hy-lạp ngoại giáo trở lại, và là môn đệ của Thánh Phaolô. Người là tác giả sách Phúc Âm thứ ba và sách Tông Ðồ Công Vụ.
Thánh Luca là người học thức, có tài viết văn, có tài kể chuyện, người đề tặng cả hai tác phẩm của mình cho một nhân vật thế giá tên là Tê-ô-phim, mới theo đạo Kitô. Thánh Luca viết sách Phúc Âm khoảng giữa năm 70 và 75 sau công lịch, nhấn mạnh đến:
- Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ mọi người, giao hoà nhân loại với Thiên Chúa. Chúa thu hút nhân loại bằng những đức tính cao cả của Ngài. Ngài luôn cầu nguyện ngợi khen Chúa Cha.
- Thiên Chúa nhân từ và thương xót.
- Tinh thần bỏ mình và nghèo khó.
Thánh Luca dùng lời lẽ có ý nghĩa để diễn tả lại những trường hợp Chúa Giêsu tỏ lòng thương xót các phụ nữ hư hỏng, và phục hồi quyền lợi thế giá cho họ. Người đã kể lại những câu chuyện có ích lợi đặc biệt cho dân ngoại, như các chuyện bà Ma-đa-lê-na, ông Gia-kêu, người trộm lành, người Sa-ma-ri-a nhân hậu. Phúc Âm theo Thánh Luca có lẽ là sách Phúc Âm hấp dẫn nhất đối với thế giới mới.

1. Thánh Luca là ai?
Luca bắt nguồn từ danh từ Latin "Lucanus" nói lên nguồn gốc của ngài là dân ngoại. Theo lá thư Phaolô gởi cho Ti-mô-thê "chỉ mình Luca ở với Cha," có nghĩa là Luca là bạn đồng hành truyền giáo của thánh Phaolô. Trong Phi-lê-môn câu 24, Thánh Phaolô liệt kê thánh Luca vào số "những cộng sự viên của ngài"; còn trong Cô-lô-xê ngài được gọi là "lương y."

2. Luca đã đóng vai trò nào trong Tân Ước?
Ngài không chỉ là tác giả của Phúc Âm thứ ba mà còn là tác giả sách Tông Ðồ Công Vụ nữa.

3. Thánh Luca viết sách Phúc Âm nhằm mục đích gì?
Ngài viết Phúc Âm để minh chứng rằng đạo Chúa Kitô là một đạo giáo toàn cầu qua cách giảng diễn lòng nhân từ của Chúa đối với những người nghèo khổ và bị áp bức; nêu cao lòng thiện cảm của Chúa dành cho dân ngoại. Phúc Âm ngài đã diễn đạt chân lý mà Thánh Phaolô công bố trong thư Ga-lát chương 3 câu 28 như sau: “Không còn Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, vì tất cả anh em là một trong Ðức Giêsu Kitô.”

4. Thánh Luca viết Phúc Âm nhằm cho loại độc giả nào?
Là một người dân ngoại, nên ngài viết cho các tín đồ dân ngoại.

5. Thê-ô-phi-lô là ai mà Thánh Luca đề tặng ở đầu sách Phúc Âm của ngài?
Thê-ô-phi-lô là một danh từ Hy Lạp, có nghĩa là "kẻ yêu mến Thiên Chúa." Có thể ông là kẻ mới trở lại đạo và đại diện cho nhóm độc giả mà Luca nhắm tới, hầu họ am tường về giáo huấn của đạo mới.
6. Luca đã làm gì để minh chứng đạo Chúa Kitô là đạo phổ quát?
Ngài đã chứng minh gia phả của Chúa Giêsu không chỉ qua dòng dõi vua Ða-vít lên tới Abraham như Thánh Matthêu đã làm, mà còn trở ngược lên tới Adam. Chủ đích muốn nhấn mạnh rằng: Giêsu không phải chỉ là một người gốc Do Thái, mà Ngài còn là con người của hoàn vũ, mang dòng máu nhân loại. Hơn nữa Ngài còn đề cập tới cuộc thăm viếng của Chúa tại một làng dân ngoại tên là Sa-ma-ria. Ngài đã đề cập tới người ngoại tốt lành Sa-ma-ri-ta-nô. Ngài nhắc tới người ngoại trong số 10 người phong cùi được chữa lành, chỉ mình Luca tường thuật những lời Chúa tuyên bố về sứ vụ của Người.

7. Cho biết vắn tắt nội dung và bố cục của Phúc Âm Thánh Luca?
- Tin Mừng thời niên thiếu của Chúa (chương 1-2)
- Sứ vụ của Chúa tại Galilê (chương 3-9)
- Hành trình lên Giêrusalem (chương 9-19)
- Sứ vụ tại Giêrusalem (chương 19-21)
- Thương khó và sống lại (chương 22-24)

8. Phúc Âm của Luca có những đặc tính nào?
- Là một soạn tác lịch sử được diễn đạt một cách văn chương trau chuốt.
- Là một Phúc Âm cho những người bị áp bức .
- Là một Phúc Âm cho dân ngoại.
- Là một Phúc Âm của cầu nguyện.
- Là một Phúc Âm của niềm vui.
- Và là Phúc Âm đặc biệt nói về nữ giới.

9. Tính cách văn chương trong Phúc Âm của Thánh Luca như thế nào?
Vì là một người học thức uyên thâm, nên lối viết của ngài thật chải chuốt, tránh những từ Do Thái; nhưng vì tác giả cố bắt chước lối hành văn Cựu Ước của bản dịch Hy Lạp nên kiểu nói "và xảy ra là..." được lặp đi lặp lại nhiều quá hoá nhàm. Bù lại tác giả biết bố cục câu chuyện, xếp đặt ý tưởng mạch lạc, đón trước rào sau kỹ lưỡng... Tóm lại Phúc Âm của Thánh Luca là một soạn tác thật là công phu.

10. Làm sao Phúc Âm của ngài được gọi là Phúc Âm của người nghèo và bị áp bức?
- Không Phúc Âm nào chúng ta có được một sự lưu tâm đáng yêu mà Chúa dành cho những người thu thuế và tội lỗi như trong Phúc Âm thánh Luca: Chúa đến để tìm kiếm những gì đã mất.. một người nữ ngoại tình, một người thu thuế thống hối, một tên trộm ăn năn...
- Không một Phúc Âm nào diễn tả được tấm lòng tha thiết của Chúa dành cho những người bơ vơ nghèo đói cho bằng dưới ngòi bút điêu luyện của Luca.

11. Tại sao gọi Phúc Âm Thánh Luca là Phúc Âm của niềm vui?
Là Phúc Âm của niềm vui vì ngay từ đầu, và bàn bạc trong Phúc Âm của ngài nhiều chỗ nói về niềm vui như ở đầu Phúc Âm là tin vui loan báo cho Za-cha-ri-a, truyền tin cho Maria. Những niềm vui liên tục khi Thánh Gioan chào đời, lúc Chúa giáng sinh...
Những niềm vui trong chương 15 khi tìm thấy con chiên lạc, tìm được đồng tiền mất, gặp lại người con hoang và niềm vui nân hoan của các tông đồ khi trở lại Giêrusalem. Ðúng như Harnack đã nói: "Có những nét vui tươi, can trường và chiến thắng âm vang trong toàn bộ cuốn Phúc Âm của Thánh Luca từ trang đầu cho tới trang chót."

12. Thánh Luca có những nét cá biệt đặc sắc nào trong tường thuật giáng sinh của Chúa Cứu Thế?
Bằng giọng văn chương, Thánh Luca đã ghi lại cuộc truyền tin cho Ðức Maria, bài hoan ca của Mẹ Maria, bài ca của ông Gia-ca-ri-a chúc tụng Chúa, bài ca vinh danh của các thiên sứ trong đêm Chúa giáng sinh và bài ca của ông Si-mê-on: Giờ đây, lạy Chúa.

13. Lễ của ngài được mừng kính vào ngày nào trong năm phụng vụ?
Ngày 18 tháng 10 với danh tước là Luca thánh sử.

--------------------------------------

 

 
HOC HOI DE SONG DAO -CN26TN-B PDF Print E-mail

HOC HỎI-CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA -CN26TN-B

Bài Ðọc I: Ds 11, 25-29

"Ngươi phân bì giùm ta làm chi? Ước gì toàn dân được nói tiên tri".

Trích sách Dân Số.

Trong những ngày ấy, Chúa ngự xuống trong đám mây, và phán cùng Môsê, đồng thời lấy thần trí trong Môsê mà phân phát cho bảy mươi vị bô lão. Khi Thần Trí ngự trên các ông, các ông liền nói tiên tri, và về sau các ông không mất ơn ấy.

Vậy có hai vị ở lại trong lều trại, một người tên là El-đad, và người kia tên là Mê-đad. Thần Trí đã ngự trên hai ông: vì hai ông được ghi tên vào sổ, nhưng không đến ở trong nhà xếp. Khi hai ông nói tiên tri trong lều trại, thì có đứa trẻ chạy đến báo tin cho ông Môsê rằng: "El-đad và Mê-đad đang nói tiên tri trong lều trại". Tức thì Giosuê, con ông Nun, tuỳ tùng của ông Môsê, và là kẻ được chọn trong số đông người, liền thưa rằng: "Hỡi ông Môsê, xin hãy cấm chỉ các ông ấy đi". Ông Môsê đáp lại rằng: "Ngươi phân bì giùm ta làm chi? Chớ gì toàn dân được nói tiên tri và Chúa ban Thần Trí Người cho họ".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 18, 8. 10. 12-13. 14

Ðáp: Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can (c. 9a).

Xướng: 1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. - Ðáp.

2) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy. - Ðáp.

3) Dù tôi tớ Chúa quan tâm về những điều luật đó, lại hết sức ân cần tuân giữ, nhưng có nhiều chuyện lầm lỗi, nào ai hay? Xin rửa con sạch những lỗi lầm không nhận thấy. - Ðáp.

4) Cũng xin ngăn ngừa tôi tớ Chúa khỏi tính kiêu căng, đừng để tính đó làm chủ trong mình con. Lúc đó con sẽ được tinh toàn và thanh khiết, khỏi điều tội lỗi lớn lao. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Gc 5, 1-6

"Của cải các ngươi bị mục nát".

Trích thư của Thánh Giacôbê Tông đồ.

Này đây, hỡi những người giàu có, các ngươi hãy than khóc kêu la, vì các tai hoạ sắp giáng xuống trên các ngươi. Của cải các ngươi bị mục nát, áo quần các ngươi đã bị mối mọt gặm. Vàng bạc của các ngươi đã bị ten sét, và ten sét sẽ là bằng chứng tố cáo các ngươi, và sẽ ăn thịt các ngươi như lửa đốt. Các ngươi đã tích trữ cho các ngươi cơn thịnh nộ trong ngày sau hết. Này tiền công thợ gặt ruộng cho các ngươi mà các ngươi đã gian lận, tiền đó đang kêu gào và tiếng kêu gào của người thợ gặt đã lọt thấu đến tai Chúa các đạo binh. Các ngươi đã ăn uống say sưa ở đời này, lòng các ngươi đã tận hưởng khoái lạc trong ngày sát hại. Các ngươi đã lên án và giết chết người công chính, vì họ đã không kháng cự lại các ngươi.

Ðó là lời Chúa.

Allluia: Ga 15, 15b

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: " Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết". - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 9, 37-42. 44. 46-47

"Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con. Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Gioan thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con thấy có kẻ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không theo chúng ta, và chúng con đã ngăn cấm y". Nhưng Chúa Giêsu phán: "Ðừng ngăn cấm y, vì chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy. Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con. Ai nhân danh Thầy mà cho các con một ly nước vì lẽ các con thuộc về Ðấng Kitô, Thầy bảo thật các con: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu. Nhưng nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn.

"Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt".

Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa

Chủ đề sự sống cho Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh vẫn tiếp tục ở phụng vụ Chúa Nhật Tuần XXVI Thường Niên Năm B hôm nay, một sự sống siêu nhiên đầy tin yêu hiệp nhất, một sự sống vô giá không gì sánh bằng, như Phúc Âm của Thánh ký Marco là bài đọc chính yếu trong phần phụng vụ lời Chúa hôm nay cho thấy.

Một sự sống siêu nhiên đầy tin yêu hiệp nhất:

"Khi ấy, Gioan thưa cùng Chúa Giêsu rằng: 'Lạy Thầy, chúng con thấy có kẻ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không theo chúng ta, và chúng con đã ngăn cấm y'. Nhưng Chúa Giêsu phán: 'Ðừng ngăn cấm y, vì chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy. Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con. Ai nhân danh Thầy mà cho các con một ly nước vì lẽ các con thuộc về Ðấng Kitô, Thầy bảo thật các con: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu. Nhưng nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn'".

Thái độ và hành động có vẻ bè phái của vị tông đồ được Chúa Giêsu yêu là Gioan đây cũng dễ hiểu thôi. Có thể là vì ngài muốn bảo vệ danh thánh của Thày mình, không muốn bất cứ ai lạm dụng danh thánh ấy, dù việc họ làm không có tính cách xấu xa và trục lợi, trái lại hoàn toàn tốt lành và phúc lợi, như việc "trừ quỉ" trong bài Phúc Âm hôm nay.

Tuy nhiên, thái độ và hành động của vị tông đồ trẻ nhất trong tông đồ đoàn và hầu như hiếm thấy lên tiếng như tông đồ Phêrô đây, khách quan mà nói, tự bản chất, mang tính cách thủ thân và ghen tương, như thể chỉ có người trong nhóm tông đồ của ngài mới có tư cách sử dụng danh thánh của Thày, và một khi nhân danh Thày thì các vị chắc chắn sẽ có khả năng trừ được ma quỉ hay chữa lành bệnh tật cho dân, chứ người ngoài không làm được.

Thái độ và hành động có tính cách kỳ thị và bè phái này có thể xẩy ra ở khắp mọi nơi, mọi lúc và mọi người, như đã xẩy ra trong dân Do Thái, ở trường hợp điển hình được Sách Dân Số thuật lại trong Bài Đọc 1 hôm nay, liên quan đến Gioduệ là nhân vật "tùy tùng" thân tín với vị lãnh đạo Moisen và là nhân vật sau này thay thế vai trò thủ lãnh của Moisen:

"Trong những ngày ấy, Chúa ngự xuống trong đám mây, và phán cùng Môsê, đồng thời lấy thần trí trong Môsê mà phân phát cho bảy mươi vị bô lão. Khi Thần Trí ngự trên các ông, các ông liền nói tiên tri, và về sau các ông không mất ơn ấy. Vậy có hai vị ở lại trong lều trại, một người tên là El-đad, và người kia tên là Mê-đad. Thần Trí đã ngự trên hai ông: vì hai ông được ghi tên vào sổ, nhưng không đến ở trong nhà xếp. Khi hai ông nói tiên tri trong lều trại, thì có đứa trẻ chạy đến báo tin cho ông Môsê rằng: 'El-đad và Mê-đad đang nói tiên tri trong lều trại'. Tức thì Giosuê, con ông Nun, tuỳ tùng của ông Môsê, và là kẻ được chọn trong số đông người, liền thưa rằng: 'Hỡi ông Môsê, xin hãy cấm chỉ các ông ấy đi'. Ông Môsê đáp lại rằng: 'Ngươi phân bì giùm ta làm chi? Chớ gì toàn dân được nói tiên tri và Chúa ban Thần Trí Người cho họ'".

Ở đây, nhân vật Gioduệ trong Bài Đọc 1 hôm nay giống như tông đồ Gioan là người môn đệ thân tín với Chúa Giêsu nhất trong bài Phúc Âm hôm nay, và cả hai đã có thái độ và hành động giống như nhau. Nhưng điểm chính yếu và quan trọn hơn ở đây, qua Bài Đọc 1 hôm nay, đó là quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn về nơi chốn và tác động của Thiên Chúa có thể thể hiện qua tất cả mọi người, mọi phương tiện.

Thực tế cho thấy, trong sinh hoạt tông đồ giáo dân hay mục vụ, đôi khi, nếu không muốn nói là nhiều khi hay thường khi, xẩy ra những vụ cạnh tranh giữa nhóm này với nhóm kia, giữa hội đoàn này với hội đoàn nọ, giữa cha này với cha khác, giữa giáo xứ này với giáo xứ kia, giữa cộng đoàn này với cộng đoạn nọ..., về vấn đề tổ chức sống đạo hay mục vụ, theo khuynh hướng tranh chấp, cho rằng chỉ có mình mới làm được, chỉ có mình mới khá hơn, từ đó tỏ ra tự hào, tự mãn, chê bai nhau, hạ bệ nhau...

Tại sao chúng ta làm việc cho Vị "Thiên Chúa là tình yêu" (1Gioan 4:8,16) mà lại kỵ nhau, mà lại đụng nhau, mà lại lỗi đức bác ái chứ? Nếu vậy thì xin hãy đặt lại vấn đề động lực nào đã thúc đẩy chúng ta dấn thân làm việc tông đồ, và mục đích tối hậu cho việc tông đồ của chúng ta là gì? Tại sao ở đây tổ chức được mà ở đó không được tổ chức, như thể chúng ta độc quyền tổ chức về Đức Mẹ, hay về Thánh Linh, hoặc về Lòng Thương Xót Chúa? Tại sao chúng ta không vui mừng khi thấy trăm hoa đua nở theo Thần Linh là Đấng "muốn thổi đâu thì thổi" (Gioan 3:8) chứ!

Đó là lý do trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã dạy cho riêng tông đồ Gioan và chung tông đồ đoàn là "Ðừng ngăn cấm y, vì chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy. Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con".

Trong câu phán dạy này của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Người xác định rằng danh thánh của Người dù uy quyền mấy chăng nữa cũng sẽ chẳng có tác dụng gì khi danh thánh của Người bị lạm dụng, nhất là bởi kẻ xấu. Thậm chí các môn đệ của Người cũng không thể nhân danh Thày mà trừ quỉ được, nếu các vị thiếu lòng tin tưởng (xem Mathêu 17:16,19-20), hay thiếu cầu nguyện (xem Marco 9:18,28-29). Ngược lại, nếu danh thánh của Người mang lại hoa trái thì bất cứ ai cũng như nhau thôi, dù là môn đệ của Người hay không. Đó là ý nghĩa của câu Người nói: "Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con".

Một sự sống vô giá không gì sánh bằng:

"Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt".

Sở dĩ có phần thứ hai này của bài Phúc Âm hôm nay là vì ở cuối phần trên ngay trước đó, Chúa Giêsu có nhắc đến hiện tượng gương mù gương xấu: "Nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn".

Theo giáo huấn của Chúa Kitô, nếu chúng ta gây gương mù gương xấu, như Kitô hữu Công giáo gian lận hơn cả người ngoại giáo, hay như linh mục xài sang hơn cả con chiên v.v., và vì thế "làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy", thì muốn tránh khỏi hình phạt bị "buộc thớt cối xay vào cổ mà xô xuống biển", chính phạm nhân gây vấp ngã cho anh chị em mình là chúng ta cần phải dứt khoát với dịp tội, với chính bản thân chúng ta trước đã, vì dịp tội ở ngay bản thân chúng ta, chứ không phải ở bên ngoài, ở thế gian, ở người nữ ăn mặc hở hang, ở tính chủ quan cố chấp của người chồng, ở tật nói dai nói dài của người vợ, ở đời sống hư thân mất nết của người con v.v.

Đó là lý do Chúa Giêsu không bảo chúng ta tránh dịp tội là xa lánh thế gian, là tránh xa người ác, mà là làm chủ bản thân mình, ở những cơ quan tiêu biểu nhất trên thân xác, đó là "tay" (làm những gì không được phép, chẳng hạn trộm cắp, thủ dâm, sờ mó vị thành niên v.v.), "chân" (đi đến những chỗ không nên đi, chẳng hạn bãi tắm là nơi khiến chúng ta có những cái nhìn tò mò gợi dục, hay đi tới những chỗ không được tới v.v. chẳng hạn ổ điếm!), và "mắt" (thấy những gì mất lòng Chúa, chẳng hạn xem phim ảnh khiêu dâm, hay nhìn người nữ một cách thèm thuồng dâm ô v.v.).

Trong việc tránh dịp tội này, theo tinh thần của lời Chúa huấn dụ ở phần hai trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta cần phải dứt khoát với dịp tội bằng cách "mất tay", "chặt chân", "móc mắt". Nhưng chúng ta sẽ không thể nào làm được, bởi bản tính nhiễm lây nguyên tội của chúng ta vốn đã đầy những mầm mống tội lỗi, luôn xu hướng về tội, lại còn mù quáng và yếu đuối, nếu chúng ta không tìm những sự trên trời trước hết và trên hết, đến độ dám liều mạng của mình (mới cứu được nó - Mathêu 16:25), dám đi vào con đường hẹp theo chiều hướng độc đạo: "thà... còn hơn":

"... thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục... thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục... thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt".

Chiều hướng giáo huấn của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay về dịp tội và việc tránh dịp tội đã được phản ảnh trong Bài Đọc 2 hôm nay, trong đó Tông Đồ Giacôbê đã khuyên chung Kitô hữu Do Thái thuở Giáo Hội còn sơ khai và riêng "những người giàu có" - "hãy than khóc kêu la" - "vì các tai hoạ sắp giáng xuống trên các ngươi", ở chỗ, những gì họ ham mê theo đuổi và tích trữ là của cải bạc vàng sẽ trở thành các phương tiện hành hạ họ hơn là làm cho họ hạnh phúc như lòng họ tin tưởng và đời họ vồ vập, bởi họ đã trở thành nên dịp tội cho chính họ: "mắt" của họ tham lam, "chân" của họ tìm kiếm, và "tay" của họ vơ vét, đến độ họ chỉ biết hưởng thụ hơn là chia sẻ phục vụ tha nhân!

"Này đây, hỡi những người giàu có, các ngươi hãy than khóc kêu la, vì các tai hoạ sắp giáng xuống trên các ngươi. Của cải các ngươi bị mục nát, áo quần các ngươi đã bị mối mọt gặm. Vàng bạc của các ngươi đã bị ten sét, và ten sét sẽ là bằng chứng tố cáo các ngươi, và sẽ ăn thịt các ngươi như lửa đốt. Các ngươi đã tích trữ cho các ngươi cơn thịnh nộ trong ngày sau hết. Này tiền công thợ gặt ruộng cho các ngươi mà các ngươi đã gian lận, tiền đó đang kêu gào và tiếng kêu gào của người thợ gặt đã lọt thấu đến tai Chúa các đạo binh. Các ngươi đã ăn uống say sưa ở đời này, lòng các ngươi đã tận hưởng khoái lạc trong ngày sát hại. Các ngươi đã lên án và giết chết người công chính, vì họ đã không kháng cự lại các ngươi".

Chỉ những ai có sự sống siêu nhiên cao cả và quí chuộng sự sống thần linh vô giá này trên hết mọi sự mới có được những cảm nhận và tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt.

2) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy.

3) Dù tôi tớ Chúa quan tâm về những điều luật đó, lại hết sức ân cần tuân giữ, nhưng có nhiều chuyện lầm lỗi, nào ai hay? Xin rửa con sạch những lỗi lầm không nhận thấy.

4) Cũng xin ngăn ngừa tôi tớ Chúa khỏi tính kiêu căng, đừng để tính đó làm chủ trong mình con. Lúc đó con sẽ được tinh toàn và thanh khiết, khỏi điều tội lỗi lớn lao.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LE CAC THIEN THAN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE, RAPHAEL VÀ GRABRIEL

(tgpsaigon.net)
Theo Sách Thánh thì Thiên Chúa đã dựng nên rất đông các tạo vật thiêng liêng vô hình, và các thánh tiến sĩ thì nói có lẽ các thần này được dựng nên trong ngày thứ nhất khi bắt đầu công việc tạo dựng.
Thiên Chúa dựng nên các thiên thần để chầu chực hầu hạ Đức Chúa Trời, giúp đỡ loài người và gìn giữ vũ trụ.
Theo như các lần các ngài xuất hiện, hiện ra, ta thấy các ngài là những vị thiêng liêng, tốt lành, quyền phép, mạnh mẽ và mau lẹ. Các ngài cũng đã từng trải qua cuộc thử thách. Trong cuộc thử thách này có một số đông đã tỏ ra không chịu thần phục Thiên Chúa. Đứng đầu là Luciphe nên đã bị Thiên Chúa loại bỏ.

MICAE
Theo sách Khải huyền của thánh Gioan thì khi ấy trên trời có một cuộc đại chiến. Một bên do Đức Micae lãnh đạo, bên kia là do Luciphe. Micae là thiên thần dũng mãnh. Với khẩu hiệu: "AI BẰNG THIÊN CHÚA", ngài đã anh dũng đẩy lui bè lũ Luciphe. Khẩu hiệu này đã trở thành tên của ngài (MICAE).
Hôm nay Giáo hội mừng kính thánh Micae, vị thủ lãnh các thiên thần lành trên trời và còn là bổn mạng của Giáo hội dưới thế. Chính Ngài đã nhiều lần hiện xuống trần gian với nhiều nhiệm vụ khác nhau để thực hiện sứ mạng cao cả của Ngài.
Chúng ta hãy bắt chước Ngài: luôn trung thành với Chúa. Mỗi khi chúng ta bị thế gian xác thịt cám dỗ muốn xa lìa Chúa, chúng ta hãy lập lại lời của Ngài: Ai bằng Thiên Chúa? Vâng! Chẳng ai bằng Thiên Chúa cả. Tiền bạc, vui sướng xác thịt, chức quyền không có gì sánh được với Thiên Chúa cả.
Không có một ai, một vật nào được phép đứng ngang hàng với Thiên Chúa của chúng ta. Chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng tốt lành, thánh thiện, mạnh mẽ phép tắc vô cùng. Người nhân từ vô biên, hiểu biết mọi sự, làm được mọi sự. Ngài là cội rễ mọi sự, là cùng đích của mọi loài. Không ai bằng Thiên Chúa.

RAPHAEL
Raphael xuất hiện ở trong Cựu Ước. Cựu Ước nói về Raphael như thế này:
"Ông Tobia người Do thái thuộc chi họ Neptali bị bắt làm tôi mọi bên nước Assyria vì dân Do thái bị bại trận. Thời gian ở đất khách quê người Tobia luôn giữ lòng trung thành làm tôi Chúa. Ông bị tai nạn làm cho đôi mắt bị mù hoàn toàn. Gia đình ông túng đói quá không có cách nào xoay trở. Lúc đó ông nhớ đến món tiền trước kia ông đã cho nhà Gabelo mượn. Ông sai người con của ông cũng có tên là Tobia - Để khỏi lầm lẫn sau này người ta gọi là Tobia-con đến nhà Gabelo để xin lại món tiền đã cho vay. Tobia-con sẵn sàng vâng lời nhưng Tobia-con không biết đường đi. Tổng lãnh Grabriel đã hiện ra dưới hình dạng một người thanh niên để đẫn đường. Dọc đàng Raphael cứu Tobia-con khỏi bị cá nuốt. Tới nơi Grabriel còn giúp cho Tobia-con cưới được vợ là Sara và đồng thời còn đòi nợ giùm Tobia.
Công việc xong, Tobia-con cùng với vợ trở về nhà. Raphael bảo cho Tobia-con lấy mật cá mà xức vào mắt cho Tobia cha. Tobia cha được khỏi mù. mắt được sáng trở lại, cha con Tobia hết sức vui mừng. Đứng trước những ơn mà cả nhà vừa mới được: đòi được nợ, cưới được vợ, lại khỏi bị mù cha con ông Tobia muốn lấy phân nửa số tiền đòi được để gọi là đền ơn đáp nghĩa đối với người thanh niên đã tận tình giup đỡ gia đình mình. Khi ấy "người thanh niên" tốt lành đó mới tỏ ra cho cha con Tobia biết mình là thiên thần của Thiên Chúa đã được sai đến để giúp đỡ gia đình ông. Nói xong điều đó thiên thần liền biến đi.
Câu truyện của cha con Tobia cho chúng ta thấy Thiên Chúa hằng yêu thương chăm sóc những kẻ kính sợ Người. Raphael có nghĩa là "THẦY THUỐC CỦA THIÊN CHÚA"

GRABRIEL
Tên Grabriel có nghĩa là "SỨC MẠNH CỦA THIÊN CHÚA".
Chính đức Grabriel đã hiện ra với tiên tri Đaniel để cho Đaniel biết Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra.
Chính đức Grabriel đã hiện ra với Giacaria báo tin cho ông biết ông sẽ sinh được một người con trai và đặt tên là Gioan.
Luca ghi lại quang cảnh cảm động này như sau: "Khi ấy ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong đền thờ của Đức Chúa. Sứ thần của Chúa hiện ra với ông... thấy vậy ông bối rối. Sự sợ hãi ập xuống trên ông. Những sứ thần bảo ông: "Này ông Giacaria, đừng sợ vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin. Bà Elizabeth vợ của ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai và ông phải đặt tên cho con là Gioan"
Ông thưa lại: "Dựa vào đâu mà tôi biết được điêu ấy? Vì tôi đã già và bà nhà tôi cũng đã lớn tuổi.?
Sứ thần đáp lại:" Tôi là Grabriel, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa. Tôi được sai đến với ông và loan báo Tin vui đó cho ông. Và này đây ông sẽ bị câm không nói được cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không chịu tin lời tôi là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi. (Lc 1,1-20) v.v... Và sau đó mọi việc xẩy ra như thế nào thì chúng ta đều đã được biết.
Rồi cũng theo Tin Mừng của Luca, sau sáu tháng, sứ thần Grabriel còn được Thiên Chúa gửi đến trần gian với một sứ mạng còn cao trọng hơn nhiều: Đó là sứ mạng truyền tin cho Đức Maria. Nếu Giacaria đã ngỡ ngàng thì Đức Mẹ còn ngỡ ngàng hơn. Việc của Giacaria với bà Elizabeth chỉ là việc giữa con người với con người. Còn việc của Đức Maria là việc của Thiên Chúa: "Thánh thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng đấng tối cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế người con do bà sinh ra sẽ là thánh và được gọi là con Thiên Chúa"(Lc 1,35)
Sau tiếng Xin vâng của Đức Mẹ cả vũ trụ đều phải nhảy mừng. Thi sĩ Hàn mặc Tử khi nghĩ đến biến cố này thôi cũng đã phải run rảy mà thốt lên như thế này:
"Hỡi sứ thần Thiên Chúa Grabriel.
Khi người xuống truyền tin cho thánh nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn loài?"
Chúng ta hãy cám ơn Chúa vì Chúa đã thực hiện những việc lạ lùng trước mắt chúng ta.

Tổng lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa

Trong bức tranh vẽ trên trần nhà, tường vách thánh đường kính các Thiên Thần ở Palermo có hình cùng tên và chức vị của bảy vị Tổng lãnh Thiên Thần:
1. Michael - Victoriosus - Người chiến thắng
2. Gabriel – Nuntius - Sứ gỉa
3. Raphael – Medicus - Thầy thuốc
4. Uriel – Fortis Socius – Người đồng hành mạnh mẽ
5. Jehudiel – Remunerator - Người làm ơn
6. Barachiel – Adjutor - Người trợ giúp
7. Sealthiel – Oarator - Người bầu cử

Tổng lãnh Thiên Thần Michael
Tổng lãnh Thiên Thần Michael đứng đầu bảy vị Tổng lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa. Tiên Tri Daniel đã diễn tả Tổng lãnh Thiên Thần Michael đứng về phía Thiên Chúa: "Thời đó, Michael là đấng vẫn thường che chở dân người." ( Daniel 12,1).
Tổng lãnh Thiên Thần Michael được xưng tụng với danh xưng bằng tiếng Latinh: Quis ut Deus? – Ai bằng Thiên Chúa?.
Theo tương truyền:
-Thiên Thần Michael được liệt vào hàng Thiên Thần quân đội chiến đấu đã đánh thắng Thiên Thần quỉ dữ Lucifer.
-Thiên Thần Michael đã vâng lệnh Thiên Chúa cầm gươm đuổi Ông Bà nguyên tổ Adong-Evà ra khỏi vườn địa đàng, sau khi Ông bà phạm tội bất phục tùng Thiên Chúa.
- Thiên Thần Michael cũng là vị Thiên Thần thổi kèn Posaune đánh thức gọi những người đã qua đời sống lại ra khỏi mồ.
Tổng lãnh Thiên Thần Michael là vị Thiên Thần có sức mạnh khả năng đi đến quyết định dứt khoát lại mang chiến thắng cho Thiên Chúa, khi giết chết con rồng mãng xà ma qủi, như sách Kinh Thánh thuật lại:„ Bấy giờ, có giao chiến trên trời: thiên thần Mi-ca-en và các thiên thần của người giao chiến với Con Mãng Xà. Con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến.8 Nhưng nó không đủ sức thắng được, và cả bọn không còn chỗ trên trời nữa.9 Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Xa-tan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ; nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó." Khải Huyền 12, 7-9).
Tổng lãnh Thiên Thần Michael, theo vâng mệnh Thiên Chúa, đã quyết định lằn ranh giữa Trời và hỏa ngục. Vì thế, Vị Tổng lãnh Thiên Thần Michael được chọn là quan thầy bầu cử cho những người trong giờ phút cơn hấp hối.

Tổng lãnh Thiên Thần Gabriel
Tên Gabri-El có ý nghĩa „ sức mạnh của Thiên Chúa". Là Vị sứ gỉa của Thiên Chúa được sai đến báo tin cho thiếu nữ Maria ở làng Nazarethê, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa sẽ đầu thai làm người trong cung lòng Maria: "Sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng sẽ phủ rợp bóng trên chị... (Lc 1,26/38).
Khi hiện ra với Ngôn sứ Dacharia trong đền thờ, vị Tổng lãnh Thiên Thần đã nói: "Tôi là Gabriel, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông." (Lc 1,19).
Hằng ngày trong đời sống đức tin của Hội Thánh, vào lúc 12.00 giờ trưa chuông thánh đường đổ hồi, kinh tuyền tin được xướng đọc lên. Như vào mỗi ngày Chúa Nhật lúc 12.00 giờ trưa, Đức Thánh Cha từ trên cửa sổ văn phòng làm việc cùng đọc kinh truyền tin với mọi người Gíao dân đứng tụ tập ở quảng trường Thánh Phero bên Vatican.
Tiếng chuông lúc 12.00 trưa và Kinh Truyền tin nhắc nhớ đến Tổng lãnh Thiên Thần Gabri-El, là Sứ Gỉa của Thiên Chúa mang loan báo tin vui Chúa Giêsu Con Thiên Chúa xuống trần gian làm người.

Tổng lãnh Thiên Thần Rafael
Tên Rafa-El mang ý nghĩa „ Thiên Chúa chữa lành". Trong Kinh Thánh sách Tobia thuật lại Thiên Thần Rafael vâng mệnh Thiên Chúa chữa lành bệnh mắt cho Tobia:
"Ngay lúc ấy, lời cầu xin của hai người là Tô-bít và Xa-ra đã được đoái nghe trước nhan vinh hiển của Thiên Chúa. Và thiên sứ Ra-pha-en được sai đến chữa lành cho cả hai. Ông Tô-bít thì được khỏi các vết sẹo trắng ở mắt, để ông được ngắm nhìn tận mắt ánh sáng của Thiên Chúa." (Tobia 3, 16)
Thiên Thần Rafael luôn hằng đồng hành che chở Tobia trên đường đi. (Tobia 6, 10)
Tổng lãnh Thiên Thần Rafael trở thành bổn mạng phù hộ cho con người đi xa du lịch
Ông Bà Cha Mẹ nào ngay từ lúc con cháu còn nhỏ thơ bé cũng đều to nhỏ âm thầm cầu xin với các Thiên Thần phù hộ cho đời sống thể xác lẫn tinh thần của chúng. Bằng an hồn xác là nhu cầu căn bản rất cần thiết cho đời sống.
Sống lòng bác ái giúp đỡ nhau, kính trọng sự sống, điều chân thật lẽ phải luôn là nhu cầu làm nên khung nền kiến tạo đường đời sống tình liên đới con người với nhau trong xã hội.
Sống thể hiện một đời sống trong tương quan tình liên đới với Đấng là nguồn đời sống, nguồn tình yêu và ơn tha thứ, luôn là nhu cầu khát vọng của tinh thần con người ở đời.
Nhu cầu tinh thần này không chỉ là nhu cầu thiêng liêng đạo giáo, nhưng đó là nhu cầu đời sống văn hóa của con người ở vào mọi thời đại. Nhu cầu tinh thần văn hóa này cùng với những nhu cầu khác cho sự sống thể xác giúp đời sống có đầy đủ ý nghĩa, triển nở cùng mang đến niềm vui hạnh phúc.
Các Thiên Thần của Thiên Chúa là Sứ gỉa được Thiên Chúa gửi sai đến cùng đồng hành trợ giúp con người trong mọi hoàn cảnh đời sống thể hiện tình lòng thương xót bác ái vị tha.
Với người tín hữu Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa là Đấng của sự chân thật, sự tốt lành thiện hảo, là Thiên Chúa của lòng khoan dung tha thứ qua Thánh Gía Chúa Giêsu Kitô.
Lòng tin vào Thiên Thần vượt qúa khỏi sự suy hiểu cùng thắc mắc của trí khôn con người. Thắc mắc thuộc về đời sống con người. Và thắc mắc giúp con người tỉnh thức thêm ra.

Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long

-----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU SAU VN25TN-B PDF Print E-mail

HOC HỎI- CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ - Thứ Sáu CN25TN-B

Bài Ðọc I: (Năm II) Gv 3, 1-11

"Vạn vật dưới bầu trời đều trải qua thời gian của chúng".

Trích sách Giảng Viên.

Mọi sự đều có thì giờ của chúng. Vạn vật dưới bầu trời đều trải qua thời gian của chúng. Có thời gian sinh, thì cũng có thời gian chết. Có thời gian trồng xuống, thì cũng có thời gian nhổ lên cái đã trồng. Có thời gian giết chết, thì cũng có thời gian chữa lành. Có thời gian phá huỷ, thì cũng có thời gian xây dựng. Có thời gian khóc lóc, thì cũng có thời gian cười vui. Có thời gian than van, thì cũng có thời gian nhảy múa. Có thời gian rải đá, thì có thời gian thu lượm lại. Có thời gian gần gũi, thì cũng có thời gian xa cách. Có thời gian thâu hoạch, thì cũng có thời gian tiêu tán đi. Có thời gian gìn giữ, thì cũng có thời gian loại bỏ. Có thời gian xé rách, thì cũng có thời gian vá lại. Có thời gian thinh lặng, thì cũng có thời gian nói năng. Có thời gian yêu thương, thì cũng có thời gian giận ghét. Có thời gian chinh chiến, thì cũng có thời gian hoà bình.

Con người còn được gì do công lao vất vả của mình? Tôi suy nghĩ về sự khổ cực mà Thiên Chúa đã để cho con cái loài người phải chịu đựng.

Chúa tác tạo vạn vật trong thời gian Chúa muốn, và trao phó thế gian cho loài người tranh giành, nhưng con người không hiểu được việc Thiên Chúa đã làm từ đầu đến cuối.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 143, 1a và 2abc. 3-4

Ðáp: Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! (c. 1a)

Xướng: 1) Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! Chúa là Tình Thương và là chiến lũy, là Ðấng phù trợ và giải phóng con. Chúa là khiên thuẫn, là chỗ con nương náu. - Ðáp.

2) Lạy Chúa, nhân loại là chi mà Chúa chăm nom, con người là chi mà Chúa thương nghĩ tới? Con người ta như hơi gió thoảng, đời người ta như bóng thoáng qua. - Ðáp.

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 9, 18-22

"Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa. Con Người phải chịu nhiều đau khổ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Việc xảy ra là khi Chúa Giêsu cầu nguyện riêng một nơi, và có các môn đệ ở với Người, thì Người hỏi các ông rằng: "Những đám dân chúng bảo Thầy là ai?" Các ông thưa rằng: "Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, kẻ khác lại cho là Êlia, còn người khác thì cho là một trong các tiên tri thời xưa, đã sống lại". Người lại hỏi các ông rằng: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa". Và Người ngăn cấm các ông không được nói điều đó với ai mà rằng: "Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại".

Ðó là lời Chúa.

Related image

Suy Nghiệm Lời Chúa

Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, Thứ Sáu Tuần XXV Thường Niên, trùng với bài Phúc Âm của Thánh ký Marco của Chúa Nhật XXV đầu tuần vừa rồi, cũng như trùng với bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu cho Thứ Năm Tuần XVIII Thường Niên.

Cả 3 bài Phúc Âm đều thuật lại sự kiện dân chúng nói chung và các môn đệ nói riêng cảm nhận về căn tính của Chúa Giêsu: "Phần các con, các con bảo Thày là ai?". Ở Phúc Âm của Thánh ký Marco thì câu trả lời của vị đại diện tông đồ đoàn bấy giờ là Thánh Phêrô đã thưa ngắn nhất: "Thày là Đức Kitô" (8:29), và ở Phúc Âm của Thánh ký Mathêu câu trả lời của ngài lại dài nhất: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (16:16), còn ở bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay câu trả lời của ngài vừa phải, hòa hợp giữa 2 câu trả lời ngắn dài trên đây: "Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa".

Câu trả lời tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô được 3 Phúc Âm trong bộ Phúc Âm Nhất lãm thuật lại hơi khác nhau về văn tự, nhưng nội dung vẫn như nhau. Ở chỗ "Thày là Đức Kitô" (Phúc Âm Thánh Marco), cho dù "Đức Kitô" ấy "của Thiên Chúa" (Phúc Âm Thánh Luca) hay là "Con Thiên Chúa hằng sống" (Phúc Âm Thánh Mathêu). Bởi vì, tự bản chất "Đức Kitô" phải là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai Cứu Thế, bằng không, không phải là "Đức Kitô".

Tuy nhiên, theo mạc khải thần linh, "Đức Kitô" này, "Đức Kitô" được chung dân chúng cảm nhận như là một vị đại tiên tri, như Gioan Tẩy Giả hay như Elia, cũng như được riêng các tông đồ tuyên xưng đúng như căn tính của Người, đúng như sự thật nơi nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét này, lại có một dung nhan lưỡng diện, chẳng những có mặt phải mà còn có cả mặt trái nữa.

Vậy nếu mặt phải của dung nhan lưỡng diện này của "Đức Kitô" là gì, nếu không phải là "Con Thiên Chúa hằng sống" (Phúc Âm Thánh Mathêu), thì mặt trái của dung nhan Người là gì, nếu không phải là Đấng Vượt Qua, như cả 3 Phúc Âm Nhất lãm này cho thấy, hay trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay thuật lại: "Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại".

Chính mặt trái nơi dung nhân của "Đức Kitô" này đã khiến cho chung dân Do Thái, đặc biệt là thành phần thày dạy lề luật của họ là luật sĩ và biệt phái, nhất là Hội Đồng Đầu Mục Do Thái lãnh đạo trong dân, thậm chí bao gồm cả thành phần môn đệ thân tín nhất của "Đức Kitô" là các tông đồ, tất cả đều vấp phạm vì Người, tức không nhận ra Người, đến độ phản nộp Người, chối bỏ Người, lên án Người, thách đố nhạo báng Người xuống khỏi thập giá để họ tin Người quả thực là Đấng Thiên Sai (xem Mathêu 27:39-42; Marco 15:29-32; Luca 23:35).

Thật vậy, làm sao dân Do Thái nói chung và các tông đồ môn đệ của Người nói riêng có thể nhận ra Người và chấp nhận Người được, nếu qua lời tiên báo về cuộc vượt qua của Người lần thứ nhất này trở thành hiện thực, khi mà một "Đức Kitô" khôn ngoan giảng dạy và quyền năng chữa lành ấy lại có một dung nhan thật trái khuấy, hoàn toàn bị biến dạng trông vô cùng ghê rợn, đến độ Người không còn dung nhan hình hài gì nữa (xem Isaia 52:14), thậm chí Người còn trở nên như sâu bọ đất không còn là người (xem Thánh Vịnh 22:7), một sự thật quá ư là phũ phàng và vô cùng bất xứng với danh phận vô cùng uy nghi cao cả và thiện hảo của một Đấng Thiên Sai, "Con Thiên Chúa hằng sống".

Trong đời sống tu đức cũng thế, theo bản tính và khuynh hướng tự nhiên, không ai trong loài người nói chung và Kitô hữu nói riêng lại yêu thích đau khổ thử thách, trái lại, còn tìm cách xa lánh và tiêu diệt nó bao nhiêu có thể. Bởi thế, ai cũng sung sướng khi được may lành và chúc phúc trong cuộc sống, cũng như nơi mọi việc mình làm, nhất là khi được ơn an ủi lúc mới bước chân vào đường trọn lành hay khi mới tĩnh tâm xong v.v. Thế nhưng khi đụng độ với đau khổ, tức khi giáp mặt với một "Đức Kitô" khổ nạn và tử giá đầy thương tích vô cùng khủng khiếp và ghê rợn, mới biết được cường độ đức tin của chúng ta mạnh mẽ tới đâu, mức độ đức cậy của chúng ta vững chắc tới chừng nào, và nhiệt độ đức mến của chúng ta sốt nóng tới bao nhiêu!

Đúng vậy, đúng như Sách Giảng Viên đã kết luận trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Con người không hiểu được việc Thiên Chúa đã làm từ đầu đến cuối", mà chính vì thế, cho dù các vị tông đồ nói chung và vị trưởng tông đồ đoàn Simon Phêrô nói riêng, cho dù đã tuyên xứng chính xác về căn tính của Thày mình "là Đấng Kitô của Thiên Chúa", các vị vẫn không thể nào tự mình có thể hiểu thấu và chấp nhận một sự thật hết sức phũ phàng đối với các vị, đó là sự thật: "Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại".

Chính vì thế, chính vì con người thuộc hạ giới, hạn hẹp, mà con người cần phải tin tưởng vào Thiên Chúa thuộc thượng giới là Đấng Tối Cao ở mọi nơi, trong mọi lúc và hết mọi sự, như là "Đá tảng của con" (câu họa của Bài Đáp Ca hôm nay), với tất cả ý thức về thân phận thấp hèn của mình là tạo vật trước nhan Thiên Chúa, Đấng chăm sóc cho tạo vật của mình và bao bọc chở che tạo vật của mình, như Bài Đáp Ca hôm nay cho thấy, cho dù loài tạo vật "nhân linh ư vạn vật" này chẳng những bất xứng mà còn tội lỗi nữa:

1) Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! Chúa là Tình Thương và là chiến lũy, là Ðấng phù trợ và giải phóng con. Chúa là khiên thuẫn, là chỗ con nương náu.

2) Lạy Chúa, nhân loại là chi mà Chúa chăm nom, con người là chi mà Chúa thương nghĩ tới? Con người ta như hơi gió thoảng, đời người ta như bóng thoáng qua.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - YEU CHO ROI CHO VOT PDF Print E-mail

YÊU CON CHO ROI CHO VỌT

Trần Mỹ Duyệt

Chuyện yêu con bằng cách "cho roi cho vọt" vào thời điểm này tưởng như lỗi thời và thiếu văn hóa, nhất là tại các xứ tự do, họ coi việc sửa phạt trẻ em như những hành vi mang tính xâm phạm, gây tổn hại về tâm lý cũng như thể lý của trẻ. Nhưng mấy hôm nay tôi vẫn bị thôi thúc để viết về một điều mà tôi cho là có ích trong vấn đề giáo dục, đặc biệt, đối với những cha mẹ còn có chút quan tâm đến phẩm hạnh và tương lai con cái.

Không lẽ làm cha mẹ - những cha mẹ tốt, những cha mẹ biết quan tâm, lo lắng cho tương lai con cái - thời nay lại đành khoanh tay ngồi nhìn con mình muốn lớn lên như thế nào cũng mặc kệ? Không lẽ vì luật pháp ngăn cấm mà lại không sửa phạt, giáo dục con cái? Đối với những phụ huynh tránh né trách nhiệm, bỏ mặc con cái không quan tâm đến việc giáo dục, thì sẽ dễ dàng chấp nhận quan niệm dễ dãi và để mặc con cái, phó mặc con cái cho học đường, cho xã hội. Tuy nhiên, không quan tâm giáo dục con cái là một lỗi lầm nghiêm trọng đối với phụ huynh. Ca dao Việt Nam có câu: "Sinh con chẳng dạy chẳng răn. Thà rằng nuôi lợn ăn lòng còn hơn."

Như vậy, liệu phụ huynh có nên sửa phạt con cái trong tầm nhìn giáo dục không? Nếu có, phải như thế nào? Và ảnh hưởng của việc sửa phạt ấy sẽ như thế nào đối với tư cách, lối sống của con cái sau này?

Đã lâu rồi, trong một buổi hội thảo với các nhà tâm lý và giáo dục, một nhà tâm lý người Mỹ nhìn tôi đoán biết là người Việt Nam hoặc ít nhất cũng Á Châu, nên ghé tai hỏi:

- Người Việt Nam dạy con có "đánh" không?

- Có. Con nít hư thì phải đánh. Đánh vài roi tốt chứ có sao đâu!

Xem như đã đạt được điều mình muốn biết, nhà tâm lý này nói như mỉa mai:

- Chỉ ở những nước lạc hậu con nít mới bị đánh mà thôi. Thế anh là một nhà tâm lý, anh có đánh con anh khi dạy dỗ chúng không?

Câu chuyện giáo dục đến đây đã đến hồi gây cấn. Tự nhiên mình bị cho là thứ dân lạc hậu, và dĩ nhiên, có thể là một thứ tâm lý gia lạc hậu nếu giáo dục mà dùng đến hình phạt. Tôi tự nhủ, vậy thì cũng nên lợi dụng dịp này "giáo dục lại" mấy ông tiến sỹ tâm lý chỉ biết suy diễn "lý thuyết" mà thiếu kinh nghiệm thực hành. Nghĩ vậy, tôi liền nói với người đang hỏi mình những câu hỏi mà theo tôi, rất vớ vẩn mà cũng rất kém tâm lý thực hành sau:

- Này bạn. Nhìn ra vườn hoa bên ngoài hội trường. Nhiều hoa và cây cảnh đẹp, bạn có nghĩ là tự chúng những hoa lá, cây cảnh ấy được như vậy không?

- Dĩ nhiên là không? Chúng cần người làm vườn chăm sóc và tỉa cắt.

- Vậy công việc tỉa cắt ấy là những gì mà một phụ huynh phải làm với con cái dưới cái nhìn giáo dục. Nói nôm na là sửa phạt.

Sau câu trả lời của tôi, không thấy người bạn kia hỏi gì thêm, chỉ biết là những giờ phút sau đó trong suốt buổi hội thảo người này ngồi im lặng...

Cũng nhân câu truyện này, tôi muốn hỏi các bậc phụ huynh, các người làm cha mẹ là liệu chúng ta có muốn và có dám làm công việc của người làm vườn đối với cây hoa, cây cảnh tâm hồn của con chúng ta không? Nếu không, tôi dám tin rằng những cây cảnh non nớt kia sẽ phát triểm um tùm, và sẽ không có được những cây lá, bông hoa xinh tươi, đẹp đẽ. Tóm lại, là phụ huynh, là cha mẹ, chúng ta phải học hỏi, phải biết dành thời giờ, và phải biết tìm hiểu cách thức giáo dục con cái mình.

Câu hỏi mà tôi nhận được nhiều nhất và xem như cũng đang khiến nhiều phụ huynh băn khoăn nhất qua những buổi thuyết trình, hội thảo đó đây là những câu hỏi về con cái, về giáo dục. Và câu trả lời thoái thác mà nhiều cha mẹ trẻ thời nay vẫn dùng để trả lời khi có ai hỏi về con cái, đại khái, em có 1 con, hoặc chúng em có 2 con. Tại sao? Sinh nhiều tốn kém, nhất là giáo dục gặp khó khăn quá. Và vì con cái thời nay khó dạy. Nhưng quan niệm giáo dục của người xưa vô tình đã đúng trong trường hợp này. Theo Ca dao Việt Nam: "Có nhiều mà tốt, có một mà hư!" Đúng vậy, một hoặc hai con không bao đảm tính chất giá trị của giáo dục, nếu như cha mẹ không phải là người quan tâm đến việc giáo dục con cái.

Sửa phạt và tâm lý:

Theo tâm lý học, sửa phạt cũng là một hình thức mang tính cách giáo dục. Đi vào chuyên môn, đó là lý thuyết giáo dục của nhà "nhân cách học" (behaviorists) Burrhus Frederic Skinner (B.F. Skinner), gồm Reinforcement, Punishment, và Extinction.

Reinforcement - một tiến trình như khen thưởng hoặc sửa phạt nhằm thay đổi kết quả nhờ do khích lệ (a procedure, as a reward or punishment, that alters a response to a stimulus). Khuyến khích hay khích lệ (reinforcement) với hai hình thức, tích cực (positive) và tiêu cực (negative). Khuyến khích tích cực gồm những lời khen, những lời khích lệ hay phần thưởng luôn đem lại kết quả là những việc làm tốt được lặp lại. Tâm lý giáo dục qua ca dao Việt Nam có câu: "Nói ngọt nó lọt vào xương". Khuyến khích tiêu cực là hình thức nhằm làm cho những gì xấu, những khuyết điểm ngày càng giảm đi, và sau cùng là chừa hẳn. Hình thức này thường được xem như đồng nghĩa với sửa phạt vì cả đều ảnh hưởng đến một hành vị, một thái độ đặc biệt cần phải loại bỏ, tuy nhiên, trên thực tế, không giống nhau. Tóm lại, một đàng khuyến khích làm điều tốt để cho những đức tính tốt ngày càng phát triển. Một đàng khuyên răn tránh những cái xấu để những tính xấu ngày càng giảm đi. Và một đàng ngăn chặn tính xấu, cùng lúc khích lệ những đức tính tốt.

Trở lại vấn đề "cho roi, cho vọt". Tâm lý học không hoàn toàn loại bỏ việc dùng roi vọt một cách có kiểm soát và hợp với lứa tuổi. Thánh Kinh cũng cho biết, chính Thiên Chúa cũng sửa phạt chúng ta để cho chúng ta nên tốt hơn: "Chúa sửa phạt người Ngài yêu" (Do Thái 12:6; Cách Ngôn 3:13).

Và tuổi lý tưởng nhất để cái roi có ảnh hưởng tốt đến giáo dục là lúc các em lên 3, lên 5. Tuổi mà thấy bố mẹ cầm cái roi nhấp nhấp là sợ, là khóc thút thít. Nhưng cũng là tuổi mà tuy khóc, sợ nhưng vẫn chạy lại với bố mẹ. Với tuổi này việc đánh nhẹ một vài roi để chừa thói lè nhè, thói dành ăn với em, hay thói làm biếng là điều nên làm. Bởi vì sự hoàn chỉnh về tâm lý đạo đức cũng có nền tảng từ sợ hãi, hoặc không muốn mình bị phạt, bị la mắng. Tâm lý này vẫn có ảnh hưởng ngay đối với nhiều người lớn tuổi, thí dụ, giữ đạo vì sợ sa hỏa ngục và để được lên Thiên đàng.

Vậy thế nào là sửa phạt?

Như vừa phân tích ở trên, giữa khen và khuyến khích là sửa phạt, một hành động nhằm giảm thiểu hoặc hạn chế những thái độ đặc biệt nào đó thường xuất hiện trong cung cách và lối sống cần phải xa tránh. Do đó, sửa phạt cũng được coi là một phần trong những phương pháp giáo dục khi mà những lời khuyên hoặc những răn đe không đem lại hiệu quả. Phụ huynh tùy từng trường hợp và tùy vào tâm tính của mỗi đứa con, cũng có thể cho vài roi các cô, các cậu ở tuổi mới lớn mà làm biếng học hành, ham chơi, gian dối, hoặc không vâng lời cha mẹ. Chúng ta nhiều người đã có kinh nghiệm này khi nhắc lại thời gian mới lớn của mình. Thí dụ, nhờ trận đòn của bố tôi mà tôi đã siêng học, và hôm nay tôi nên người. Hoặc tôi chừa được cái tính nói láo nhờ vào ba roi của mẹ tôi.

Một hình thức sửa phạt nữa cũng có tác dụng giáo dục, đó là cấm đoán (extinction) nhằm mục đích ngăn chặn, chấm dứt hành vi ngoài ý muốn và không tốt. Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực có thể là qua việc cấm đoán hay khắt khe của cha mẹ, con cái sẽ hành động bằng cách "tránh né, luồn lách" nếu kỷ luật đã ra mà không được theo dõi, thi hành, hoặc dẫn đến việc "bất tuân" nếu sự cấm đoán chỉ là một cách duy nhất mà cha mẹ dùng để khống chế, hoặc áp đặt trên con cái. Điều khó khăn ở đây là làm cách nào để phân biệt được giữa một hành động sửa phạt và một hành động khuyến khích tiêu cực (punishment and negative reinforcement.) Sau đây là một số những lỗi lầm thường mắc phải của cha mẹ và phụ huynh khi sửa phạt con cái:

-Tha nhưng không quên. Sửa phạt, nhưng luôn nhắc tới, hoặc làm cho đứa trẻ mặc cảm về quá khứ, về khuyết điểm của mình. Hậu quả là đứa trẻ sẽ dễ dàng tái phạm khi những lỗi lầm đó vẫn còn là lý do để bị sửa phạt, hoặc quên mà không bị phạt.

-Những hành động sửa phạt làm tăng sự căm hận, đe dọa - coi căm thù như một cách sửa sai những khuyết điểm. Coi con cái như kẻ thù. Đánh đập con cái nhằm thỏa mãn sự bực tức, khó chịu cá nhân của cha mẹ.

-Tạo sự sợ hãi để có thể làm tổng quát hóa giữa những hành động không mong muốn. Thí dụ, phụ huynh có thể khiến con cái sợ đến trường khi đưa ra những đòi hỏi quá khả năng của các em trong việc học. Đe dọa, cấm đoán, hoặc áp đặt hình phạt nặng nề gây hoang mang sợ hãi.

Phải sửa phạt như thế nào?

Trở lại vấn đề sửa phạt. Thánh Kinh đã đưa ra những thái độ bình tĩnh, tự kìm hãm, và khoan dung như:

-Chậm nóng giận "Slow to anger..." (Ps 86:15; Ps 103:8; Jonah 4:2)

-Nóng giận nhưng đừng phạm tội "In your anger do not sin." (Eph 4:26a) . Nếu cha mẹ hoặc phụ huynh đã nóng giận thì "đừng sửa phạt" con cái. Hầu hết những sửa phạt trong lúc nóng giận đều đem lại hậu quả "hối hận" sau này cho cả cha mẹ lẫn con cái.

-Vì sự nóng giận của con người không đem lại sự công chính mà Chúa mong muốn "Because human anger does not produce the righteousness that God desires." (Giacôbê 1:20)

Như vậy sửa phạt là việc nên làm trong sự bình tĩnh, biết tự chủ và kìm hãm sự giận dữ của cha mẹ hay phụ huynh.

Những hướng dẫn của Thánh Kinh đem lại một ứng dụng thực hành vừa nhân bản, và cũng vừa tâm lý. Không thể sửa phạt con cái bằng cách "Giận cá chém thớt", bằng cách "Cả vú lấp miệng em", hoặc bằng những trận đòn mà mỗi khi nhắc lại con cái không biết phải biết ơn hoặc giận hờn cha mẹ?! Do đó, roi vọt ở đây chỉ được hiểu như những hình thức áp dụng trong giáo dục một cách chừng mực, có kiểm soát.

Tuy nhiên, một trong những cách thức sửa phạt hữu hiệu nhất vẫn là gương sáng của cha mẹ. Nếu những hành vi, ngôn ngữ của cha mẹ là một bài học tốt, là một gương sáng cho cách sống và cách cư xử của con cái, thì việc sửa phạt không còn là vấn đề roi vọt, chửi bới hoặc trách mắng. Người Việt Nam có một câu rất thích hợp trong cái nhìn tâm lý giáo dục, đó là: "Cha nào con nấy", hoặc "cha mẹ hiền lành để đức cho con". Còn Chúa Giêsu thì nói: "Thầy đã làm gương để các con noi theo mà bắt chước" (Gioan 15:13).

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 149