mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay485
mod_vvisit_counterHôm Qua7663
mod_vvisit_counterTuần Này32123
mod_vvisit_counterTuần Trước48347
mod_vvisit_counterTháng Này116346
mod_vvisit_counterTháng Trước232383
mod_vvisit_counterTất cả11568432

We have: 81 guests online
Your IP: 54.92.174.226
 , 
Today: Aug 17, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - TIN VA SONG THEO LOI CHUA PDF Print E-mail

CÓ THỂ TIN VÀ SỐNG VỚI HAI TÔN GIÁO CÙNG MỘT LÚC?

              *TÔI TIN VÀ SỐNG THEO LỜI CHÚA*

Trần Mỹ Duyệt

Tôn giáo và đức tin tự nó đã là một định nghĩa rất mông lung, rất trìu tượng mang nặng tính triết học, và thần thánh. Ở một nghĩa nào đó, nó tiềm ẩn những hình thức mê tín, dị đoan và huyền bí. Dưới con mắt của một người vô thần thì "Tôn giáo là một cái gì nhảm nhí, nhưng lại không ai có thể dẹp bỏ được điều nhảm nhí đó".Và cái mà những người này cho là nhảm nhí của tôn giáo chính là đức tin, niềm tin tưởng vào Thượng Đế, vào sức mạnh vô hình, và vào cõi siêu nhiên.

Vì thế, nếu có người này, người khác biểu lộ nếp sống tôn giáo của họ qua những hình thức khác nhau, những thực hành khác nhau, điều này không có gì lạ. Tuy nhiên, khi đã đề cập đến tôn giáo, đến niềm tin, đến thiêng liêng một cách nghiêm chỉnh, thì câu hỏi cốt lõi vẫn là:

1. Tôi sinh ra để làm gì? Mục đích của đời sống con người ở cõi tạm này là gì? Tại sao tôi lại sinh vào thế gian này?

Để trả lời câu hỏi tại sao tôi có mặt trên cõi đời này, việc này tốt hay không tốt đối với tôi, Thánh Augustine (354-430) đã có câu nói hết sức thời danh, đó là, "Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến bạn khi Ngài dựng nên bạn." Theo thánh nhân, nguyên một việc được đưa ra từ hư vô vào cõi nhân sinh đối với ta đã là một ân huệ của Thượng Đế. Vì vậy, khi Thiên Chúa thưởng ban ơn huệ cho ta là Ngài thưởng ban do những nỗ lực của ta, chứ những việc làm của ta chẳng thêm bớt gì cho vinh quang Ngài cả. Sách Giáo Lý Công Giáo dạy, "Thiên Chúa dựng nên ta vì sự thánh thiện của Ngài, và để chia sẻ với chúng ta hạnh phúc viên mãn của Ngài trên thiên đàng" (God made us to show forth His goodness and to share with us His everlasting happiness in heaven), 1 một hạnh phúc mà "mắt chưa hề xem, tai chưa hề nghe, lòng trí chưa hề tưởng tượng những gì mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những kẻ yêu mến Ngài" (I Cor 2:9).

Ngay từ khi còn trên gối mẹ, mẹ tôi đã dạy tôi những lời kinh đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa này: "Tôi cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ tôi, chẳng để tôi không đời đời, mà lại sinh ra tôi, cho tôi được làm người, cùng hằng gìn giữ tôi, hằng che chở tôi..., và cho tôi được đạo thánh Đức Chúa Trời..." Lời kinh đơn sơ ấy có thể được diễn nghĩa theo văn chương hiện nay là: Con cảm ơn Thiên Chúa tốt lành vô cùng, Ngài đã nghĩ đến con. Đem con từ hư vô ra hiện hữu. Ngài luôn che chở và đồng hành bên con. Nhất là ban cho con ơn huệ được nhận biết Ngài, được sống trong Hội Thánh của Ngài.

Đối với nhân loại kể cả các Kitô hữu, quan trọng nhất vẫn là được cứu độ, được phúc lộc trường sinh, "Vì chưng, nếu không được cứu chuộc, chúng ta sinh ra có ích gì?"2

2. Con đường nào dẫn đến vĩnh hằng?

Để đạt tới hạnh phúc viên mãn, để lên được vĩnh hằng, Niết Bàn, hay Thiên Đàng, con người dựa vào những con đường - đạo. Đạo chính là đường. Phật Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Tin Lành, và Công Giáo... Mỗi đạo đều có những triết lý, những giáo lý, những cách thức biểu lộ niềm tin, thực hành đạo. Như vậy, trên hành trình dẫn về vĩnh cửu, về Thiên Đàng, về miền cực lạc, về Niết Bàn... Trên con đường tìm gặp Thượng Đế, Đấng Toàn Năn, Thiên Chúa, mỗi người hoặc nhiều người sẽ đi trên những con đường đạo giáo phù hợp với môi trường, hoàn cảnh, kiến thức và tâm linh mà mình có. Từ cái nhìn này, một số người vẫn thường quan niệm đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, đạo nào cũng tốt. Và dẫn đến việc là trong thực hành, có những người không theo đạo nào, ngược lại, có những người không chỉ theo một đạo mà nhiều đạo.

Giáo Hội Công Giáo trong quá khứ đã không dễ dàng chấp nhận, cũng như tôn trọng những giá trị tinh thần của nhiều tôn giáo. Quan niệm và lối nhìn ấy có thể đến từ việc hiểu và cắt nghĩa một cách hẹp hòi lời của Thiên Chúa: "Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu rỗi. Còn ai không tin sẽ bị luận phạt" (Mc 16: 16). Như thế, chỉ những ai may mắn được tiếp nhận giáo lý Công Giáo, nghe và học hỏi rồi được rửa tội theo nghi thức Công Giáo mới được cứu rỗi, mới được lên Thiên Đàng, được vào Niết Bàn, được đến miền cực lạc. Nhưng con số những người được rửa tội theo nghi thức Công Giáo, tính đến nay vẫn chỉ là một con số ít ỏi so với toàn thể nhân loại. Sau hơn 2000 năm được thành lập, theo tài liệu của Wikipedia, the free encyclopedia, hiện nay trên toàn thế giới, Giáo Hội Công Giáo dưới sự cai trị của Đức Giáo Hoàng Phanxicô mới chỉ có:

640 Tổng Giáo Phận.

2.851 Giáo Phận.

221.700 Giáo Xứ.

1.299 tỷ tín đồ, 3 với:

5.304 Giám Mục.

415.656 Linh Mục.

42.255 Phó Tế.

Vậy thì so với con số thống kê toàn thế giới tính đến tháng 5 năm 2018 là 7.6 tỷ người, liệu đã được bao nhiêu người nghe tới Phúa Âm, biết về Thiên Chúa, và được rửa tội? Những người này sẽ đi về đâu sau khi chết?!

Có lẽ vì nhận thấy mình quá khép kín, quá lạc lõng, quá bảo thủ giữa thế giới hiện đại nên Công Đồng Vaticano II mới được triệu tập, và sau Công Đồng này cái nhìn về các tôn giáo khác, về ơn cứu độ, và về con người của Giáo Hội Công Giáo đã có những đổi mới, cũng như đã có những canh tân về giáo lý, tín lý, và cơ cấu của Giáo Hội.

Cái nhìn thần học mới về ơn cứu độ sau Công Đồng, đó là mặc dù vẫn khẳng định ơn cứu độ có được do bởi Đức Kitô, bởi đức tin và bởi Bí tích Rửa tội, và thuộc về Giáo Hội, nhưng người ngoài Công Giáo cũng có thể được cứu độ, do họ có liên kết với Giáo Hội, thí dụ, thuộc hẳn về Giáo Hội như các tín hữu đã chịu phép Rửa Tội, hoặc hiệp thông với Giáo Hội nếu là những người ngoài Công Giáo.

Trong số những người thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, dưới cái nhìn của Vaticano II lúc này thì họ là những người thuộc về các tôn giáo ngoài Công Giáo. Họ là những người không do lỗi của họ chưa biết Thiên Chúa. Hoặc họ là những người vẫn sống một cuộc đời tốt lành theo lương tâm ngay thẳng, tuy không thuộc về bất cứ một tôn giáo nào, mà chỉ là những người thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa.

Công Đồng Vaticano II tuy không trả lời rõ ràng những người không Công Giáo có thể được cứu độ ngoài hay trong chính tôn giáo của họ, hoặc các tôn giáo này tự nó có những giá trị cứu độ hay không, nhưng thừa nhận rằng mặc dù Giáo Hội là Bí Tích phổ quát của ơn cứu độ 4, các tôn giáo khác cũng có những giá trị tích cực, vì mọi tôn giáo đều tìm kiếm câu trả lời cho những khắc khoải của kiếp người, vấn đề nhân sinh. Tất cả mọi dân tộc làm nên một cộng đồng, chia sẻ một định mệnh chung, ở đó có những "hạt giống của Lời Chúa" 5 "những tia chân lý soi sáng con người" 6 và có hoa trái của Chúa Thánh Thần. Công Đồng cũng cho rằng nơi các tôn giáo này có chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, ngay cả đức tin cứu độ. Bỏ qua những giới hạn, sai lầm và tội lỗi của con người, các tôn giáo này là một chuẩn bị cho Tin mừng.

3. Các vị Giáo Hoàng của thế kỷ.

Vấn đề đối thoại liên tôn, vấn nhìn nhận những giá trị Kitô Giáo, và sự hiệp nhất giữa các tôn giáo có cùng một niềm tin vào Thiên Chúa, cùng nguồn gốc như Công Giáo, Anh Giáo, Chính Thống Giáo, và Tin Lành được trình bày bàng bạc trong tài liệu Công Đồng Vaticano II. Ở đây xin dẫn chứng các vị Giáo Hoàng của Công Đồng và sau Công Đồng với những suy nghĩ và tầm nhìn liên quan đến những vấn đề trên:

- Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), vị Giáo Hoàng của "đối thoại". Ngài là người đã có những cái nhìn mới và thiện cảm với các tôn giáo bạn. Ngài sẽ được tuyên phong hiển thánh ngày 14 tháng Mười, 2018.

Kế vị Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), đấng triệu tập và khai mạc Công Đồng, Đức Phaolô VI đã điều khiển và bế mạc Công Đồng Vaticano II, và ngài đã có một tầm nhìn phong phú, sâu sắc về các tôn giáo khác như sau:

"Thiên Chúa đến cho nhân loại. Giáo Hội phải đối thoại với 1) toàn thế giới, 2) các phần tử của các tôn giáo khác, 3) các giáo hội Kitô khác, và 4) ngay chính trong lòng Giáo Hội."

"Cần phải tôn trọng các gía trị luân lý và tâm linh nơi các tôn giáo khác." Ngài viết trong thông điệp của mình: "Giáo Hội kính trọng và đánh gía cao các tôn giáo Không-Kitô giáo, bởi vì các tôn giáo đó là cách diễn tả sống động tâm hồn của vô số các nhóm dân tộc. Chúng mang trong mình tiếng vang vọng cuộc tìm kiếm Thiên Chúa từ hàng ngàn năm nay, một cuộc tìm kiếm tuy bất toàn nhưng được thực hiện với thành tâm thiện ý.... Chúng có vô số "các hạt giống của Lời Chúa" và do đó, hình thành một "chuẩn bị đích thực cho Tin Mừng" 7 .

- Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), bằng một tầm nhìn của một triết gia, ngài đã khẳng định tư tưởng của mình trong thông điệp Redemptoris Missio (Sứ Vụ Đấng Cứu Chuộc): "Giáo Hội cần cho ơn cứu độ vì Giáo Hội được thiết lập do ý muốn của Thiên Chúa và Giáo Hội tham dự vào kế hoạch cứu độ của Người. Ơn cứu độ không chỉ ban cho những ai là thành viên của Hội Thánh, minh nhiên tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô, nhưng cũng được ban cho những ai sống ngoài ranh giới của Giáo Hội" 8

Vẫn theo ngài, cần phải có sự kính trọng đối với mọi điều đã được Thánh Thần thổi bất cứ nơi đâu Người muốn. Qua đối thoại, Giáo Hội muốn khám phá "hạt giống Lời Chúa" nơi các tôn giáo khác. Tuy nhiên, đối thoại không thể thay thế cho sứ vụ rao giảng Tin mừng của Giáo Hội, vì đối thoại liên tôn là một phần của sứ vụ Giáo Hội. Đối thoại là con đường hiểu biết lẫn nhau và làm phong phú lẫn nhau. Đối thoại và sứ vụ rao giảng Tin mừng liên hệ mật thiết với nhau nhưng không hoán vị nhau.

- Là nhà thần học lỗi lạc của thế kỷ và cũng là Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo, Đức Bênêđíctô XVI (2005-2013) "không tin rằng hằng triệu triệu sinh linh bị luận phạt đời đời do một Thiên Chúa tình yêu chỉ vì cũng một Thiên Chúa tình yêu và toàn năng đã an bài cho họ được sinh ra tại những quốc gia mà ở đó không phải là Kitô Giáo." (He can't believe that untold millions are being tormented forever by a loving God just because the same loving and omnipotent God arranged for them to be born in countries that are not Christian). 9 Trong buổi triều yết chung, ngày 30 tháng 11, 2005, nhận định về bài suy niệm của Thánh Augustine (354-430), ngài đã nói: "Bất cứ những ai tìm kiếm sự bình an và thiện hảo của tôn giáo với một lương tâm tinh tuyền, và tuân giữ sống động ước muốn về sự hoàn thiện, sẽ được cứu độ mặc dù họ thiếu hiểu biết về niềm tin của Thánh Kinh." Whoever seeks peace and the good of the community with a pure conscience, and keeps alive the desire for the transcendent, will be saved even if he lacks biblical faith, says Benedict XVI. 10

- Sau cùng là Đức Giáo Hoàng Phanxicô (2013 - ) đang điều khiển Giáo Hội. Ngài không ngừng hô hào, cổ võ đối thoại, hiệp thông với các tôn giáo, kể cả Hồi Giáo. Hiện ngài còn hướng đến việc đối thoại và hiệp thông với cả những giám mục quốc doanh, với giáo hội quốc doanh Trung Hoa nữa. Điều này đang nổi lên những phê bình, những quan tâm từ phía các giáo phẩm, những nhà chuyên môn, những chính khách lỗi lạc, cũng như những trí thức Công Giáo.

Tóm lại, có thể kết luận: "Giáo Hội là phương tiện mang lại ơn cứu độ cho nhân loại theo như dự án của Thiên Chúa. Chỉ có một lịch sử là lịch sử cứu độ, qua lịch sử này, Thiên Chúa mạc khải dần dần chương trình cứu độ của Người. Đỉnh cao của lịch sử, ơn cứu độ tuyệt đối và mạc khải là chính Đức Giêsu Kitô." 11 Tuy nhiên, bên cạnh đạo Công Giáo, vẫn có những con đường khác mở ra cho những ai đang nỗ lực tìm kiếm cho mình một lối đi an toàn dẫn đến gặp gỡ Thiên Chúa.

4. "Ta là đường, là sự thật, và là sự sống" (Gioan 14:6).

Giải thích cho thiếu phụ Samarita bên bờ giếng Giacob về tôn giáo, và cách thức thể hiện niềm tin, Chúa Giêsu đã nói với chị: "Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật" (Gioan 4:23-24). Chúng ta chỉ có thể tìm được thần khí ấy, sự thật ấy nơi Đấng đã tự xưng: "Ta là đường, là sự thật, và là sự sống" (Gioan 14:6). Do đó, cũng trong niềm tin vào Thiên Chúa, dưới ánh sáng thần linh của Ngài khởi dẫn, nếu như ai đó phát hiện, nhận ra niềm xác tín của mình qua đức tin Công Giáo, đòi hỏi họ phải suy niệm, phải sống, và thực hành theo đúng ý nghĩa là một tôn giáo.

Tóm lại, khi chưa biết Thiên Chúa, chưa nghe về Ngài, và chưa được học hỏi về Ngài, người ta có thể tìm kiếm, thay đổi, hoặc tin theo đạo này, đạo khác. Nhưng khi lời mặc khải đã đến, và khi đã tìm được Ngài, thì không có lý do gì để cho phép chúng ta chọn lựa và hành động như người không có niềm tin. Mátthêu đã ghi lại sự chọn lựa cuối cùng của chúng ta trên con đường đi tìm chân lý. Thánh sử viết: "Nước Trời cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quí, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy". (Mat 13: 45-46)

________

Tài liệu tra cứu:

1.Lesson 1 from the Baltimore Cathechism

2.Công bố Nến Phục Sinh

3."Presentazione dell'Annuario Pontificio 2018 e dell' "Annuarium Statisticum Ecclesiae" 2016" (in Italian). Sala Stampa della Santa Sede. 13 June 2018. Retrieved 13 June 2018.

4.Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng số 45

5.Nostra Aetate số 11

6.Lumen Gentium số 17

7.Evangelii Nuntiandi 53

8.Redemptoris Missio số 10

9.Andrew Brown, "If a former pope says non-Catholics can go to heaven, why be Catholic?", THE GUARDIAN. Tue 22 Mar 2016 09.46 EDT Last modified on Wed 23 Mar 2016 04.09 EDT

10.VATICAN CITY, NOV. 30, 2005 (Zenit.org)

11.Nguồn tin: Học Viện Đaminh

Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời

15 tháng 8 năm 2018

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BA CN19TN-B PDF Print E-mail

Phụng Vụ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 2, 8 - 3, 4

"Người ban cho tôi cuốn sách ấy làm lương thực: nó trở nên ngọt ngào như mật trong miệng tôi".

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Chúa phán như thế này: "Phần ngươi, hỡi con người, hãy nghe các lời Ta sẽ phán cùng ngươi; ngươi chớ phản nghịch như loài phản nghịch kia. Hãy mở miệng mà ăn những sự Ta sẽ ban cho ngươi". Tôi nhìn, thì có một bàn tay đưa về phía tôi, trong tay có cuốn sách cuộn lại. Người mở cuốn sách ra trước mặt tôi: sách viết cả mặt trong, mặt ngoài. Trong sách viết những lời than van, rên rỉ và kêu trách.

Người phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, ngươi hãy ăn sự ngươi tìm được. Hãy ăn cuốn sách này và đi nói với con cái Israel". Tôi mở miệng và Người cho tôi ăn cuốn sách ấy và bảo tôi rằng: "Hỡi con người, hãy lấy cuốn sách Ta ban cho ngươi làm lương thực mà ăn cho no". Tôi ăn và nó trở nên ngọt ngào như mật trong miệng tôi. Và Người phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, hãy đi đến nhà Israel và nói cho chúng nghe những lời của Ta".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 118, 14. 24. 72. 103. 111. 131

Ðáp: Các lời sấm của Chúa ngọt ngào trong cổ họng con là dường nào (c. 103a).

Xướng: 1) Con vui vì đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường bằng được mọi thứ giàu sang. - Ðáp.

2) Vì lời nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ của Ngài là những bậc cố vấn của con. - Ðáp.

3) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn. - Ðáp.

4) Các lời sấm của Ngài ngon ngọt thay cho cổ họng con, ngọt hơn cả mật ong đổ miệng con. - Ðáp.

5) Lời Ngài nghiêm huấn là sản nghiệp của con muôn đời: vì những điều đó khiến cho lòng con hoan hỉ. - Ðáp.

6) Con há miệng để hút nguồn sinh khí, vì con ham muốn những chỉ thị của Ngài. - Ðáp.

Alleluia: 1 Sm 3, 9

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe: Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 18, 1-5. 10. 12-14

"Các con hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những kẻ bé mọn này".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy các môn đệ đến bên Chúa Giêsu mà hỏi: "Chớ thì ai là kẻ lớn nhất trong Nước Trời?" Chúa Giêsu gọi một trẻ nhỏ lại, đặt nó giữa các ông mà phán rằng: "Thật, Thầy bảo thật các con: nếu các con không hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời. Vậy ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời.

"Và kẻ nào đón nhận một trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón nhận Thầy. Các con hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những kẻ bé mọn này, vì Thầy bảo các con, thiên thần của chúng trên trời hằng chiêm ngưỡng thánh nhan Cha Ta, Ðấng ngự trên trời.

"Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, Thầy bảo thật các con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó, hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc. Cũng vậy, Cha các con trên trời không muốn để một trong những kẻ bé mọn này phải hư mất".

Ðó là lời Chúa.

Cảm Nghiệm Suy Niệm

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XIX hôm nay chất chứa câu trả lời của Chúa Giêsu được các môn đệ đặt ra về vấn đề "ai là kẻ lớn nhất trong Nước Trời"

Câu trả lời của Người như thế này: "Chúa Giêsu gọi một trẻ nhỏ lại, đặt nó giữa các ông mà phán rằng: 'Thật, Thầy bảo thật các con: nếu các con không hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời. Vậy ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời'".

Hành động "gọi một trẻ nhỏ lại, đặt nó giữa các ông" của Chúa Giêsu cho thấy Người rất quí yêu con trẻ, và con trẻ là mô phạm cho cả thành phần môn đệ của Người, thành phần chứng nhân tiên khởi của Người và là nền tảng của Giáo Hội được Người thiết lập. Tuy nhiên, trẻ nhỏ là mô phạm cho các vị về tinh thần mà thôi, chứ không phải về thể lý. Bởi thế, Người không bảo các vị rằng "nếu các con không hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ này...", mà là bảo các vị: "ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ này...", nghĩa là việc "hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ" chính là việc "hạ mình xuống".

Đúng thế, nếu "Nước Trời" đây là chính bản thân Người, mà Người đã "hóa ra như không, mặc lấy thân phận tôi đòi v.v." (Philiphê 2:6), thì chỉ có "ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ này..." mới có thể nhận ra Người, chấp nhận Người và đáp ứng Người mà thôi, nghĩa là mới có thể "vào Nước Trời". Ý nghĩa sâu xa của cụm từ "vào Nước Trời" là như vậy, là đến được với Chúa Giêsu, bằng không, không thể nào, như trường hợp của thành phần luật sĩ và biệt phái vừa kiêu kỳ vừa giả hình không đơn sơ chân thật như trẻ nhỏ trong dân Do Thái.

Chưa hết, việc "hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ" là "hạ mình xuống" này chẳng những giúp cho con người "vào Nước Trời" là nhận biết Chúa Kitô, mà còn trở thành "kẻ lớn nhất trong Nước Trời" nữa. Ở chỗ được Chúa Kitô yêu thích nhất, được hiệp nhất nên một với Người nhất, như một Con Trẻ Maria "đầy ân phúc" (Luca 1:28), vì Con Trẻ Maria này liên lỉ sống "đức tin tuân phục" (Roma 1:5) ở mọi nơi, trong mọi lúc và hết mọi sự - quả thực Con Trẻ Maria "có phúc vì đã tin" (Luca 1:45).

Tuy nhiên, trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu dường như nói đến "trẻ nhỏ" ở hai ý nghĩa trái nghịch nhau. Ý nghĩa thứ nhất là tính cách bé nhỏ "khiêm nhượng" của "trẻ nhỏ" để có thể chẳng những "vào Nước Trời" là gặp gỡ Chúa Kitô mà còn trở nên cao trọng nhất trong Nước Trời là được hiệp nhất nên một với Người. Ý nghĩa thứ hai về "trẻ nhỏ" đó là tính chất "dại dột" vụng về của chúng.

Phải chăng đó là lý do ở phần sau của bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Kitô đã cảnh giác các môn đệ là đừng khinh dể "trẻ nhỏ" ở tính chất dại khờ vụng dại của chúng: "Các con hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những kẻ bé mọn này"? Bởi vì, ngay sau đó Người nói đến tình trạng con chiên lạc: "Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao?"

Sở dĩ các môn đệ không được khinh dể thành phần "trẻ nhỏ" dại khờ hèn yếu này là vì 2 lý do: Lý do thứ nhất đó là "kẻ nào đón nhận một trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón nhận Thầy", và lý do thứ hai đó là: "vì Thầy bảo các con, thiên thần của chúng trên trời hằng chiêm ngưỡng thánh nhan Cha Ta, Đấng ngự trên trời".

Thật vậy, trước nhan Thiên Chúa hằng được các thiên thần chiêm ngưỡng trên trời, biết đâu những kẻ tầm thường trên thế gian này, thậm chí những con người tội lỗi đáng khinh bỉ lại được Thiên Chúa tuyển chọn để làm những việc cả thể cho Ngài, như đã từng xẩy ra trong giòng lịch sử loài người nói chung và Giáo Hội nói riêng. Biết đâu thành phần bé mọn yếu hèn này lại biết nhận lỗi và hối lỗi trước nhan Chúa, như người thu thuế trong đền thờ mà lại nên công chính hơn người Pharisiêu cũng cầu nguyện với họ bấy giờ (xem Luca 18:13-14).

Nếu thành phần "trẻ nhỏ" dại khờ hèn yếu chẳng khác gì như "một con chiên lạc" (chứ không phải con dê), được Thiên Chúa chú ý và tìm kiếm cho đến cùng và cho bằng được như thế thì quả thực từng "con chiên lạc" là những gì rất quí báu trước nhan Thiên Chúa, đến độ "kẻ nào đón nhận một trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón nhận Thầy" - Nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa thật, chúng ta không thể nào lại khinh thường những gì được Thiên Chúa yêu thương quí chuộng, nhất là thành phần tội nhân vô cùng đáng thương của Ngài.

Thái độ dễ dậy và hành động tin tưởng đáp ứng của Tiên Tri Êzêkiên trong Bài Đọc 1 hôm nay trước lệnh truyền của Thiên Chúa, một lệnh truyền có vẻ bất bình thường phản tự nhiên là "'Hỡi con người, ngươi hãy ăn sự ngươi tìm được. Hãy ăn cuốn sách này và đi nói với con cái Israel'. Tôi mở miệng và Người cho tôi ăn cuốn sách ấy và bảo tôi rằng: 'Hỡi con người, hãy lấy cuốn sách Ta ban cho ngươi làm lương thực mà ăn cho no'".

Và chính vì "ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời", và."kẻ nào đón nhận một trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón nhận Thầy", mà sau khi đã "ăn" "cuốn sách viết cả mặt trong, mặt ngoài. Trong sách viết những lời than van, rên rỉ và kêu trách" ấy, vị tiên tri sống như trẻ nhỏ liền này cảm thấy: "nó trở nên ngọt ngào như mật trong miệng tôi. Và Người phán cùng tôi rằng: 'Hỡi con người, hãy đi đến nhà Israel và nói cho chúng nghe những lời của Ta'".

Đúng thế, chỉ khi nào con người cảm nghiệm được Lời Chúa hay được gặp gỡ Chúa (đúng hơn được Chúa gặp gỡ, chiếm đoạt và biến đổi), như trường hợp của Tiên Tri Êzêkiên trong Bài Đọc 1 hôm nay, bấy giờ họ mới có đủ khả năng và thu hút để rao giảng Lời Chúa, để làm chứng cho Chúa, vì không phải tâm trí của họ có thể hiểu được Lời Chúa mà chính Lời Chúa làm cho họ hiểu và qua họ soi sáng trần gian tăm tối, và chính vì thế Lời Chúa là tất cả những gì chân thật nhất, khôn ngoan nhất và quí báu nhất hơn tất cả mọi sự trên thế gian này, đúng như cảm nhận của Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Con vui vì đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường bằng được mọi thứ giàu sang.

2) Vì lời nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ của Ngài là những bậc cố vấn của con.

3) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn.

4) Các lời sấm của Ngài ngon ngọt thay cho cổ họng con, ngọt hơn cả mật ong đổ miệng con.

5) Lời Ngài nghiêm huấn là sản nghiệp của con muôn đời: vì những điều đó khiến cho lòng con hoan hỉ.

6) Con há miệng để hút nguồn sinh khí, vì con ham muốn những chỉ thị của Ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

--------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - TAI SAO YEU MÊN K. THANH PDF Print E-mail

Kristie Phan

BÍ QUYẾT YÊU MẾN KINH THÁNH

Cuối tháng Chín hàng năm, Giáo hội kính nhớ Thánh tiến sĩ Giêrônimô, bổn mạng các dịch giả. Ngài sinh ra không là thánh ngay, ngài có tính nóng này và gay gắt nên nhiều người không ưa, ngài còn bị cám dỗ dữ dội về đức khiết tịnh nên ngài chiến đấu bằng cách cầu nguyện và ăn chay nhiều.

Mặc dù khuyết điểm về tính khí và thường xuyên bị kẻ thù tấn công, ngài vẫn là người thông minh xuất chúng, đam mê nghiên cứu, nhất là say mê Lời Chúa.

Giáo Hội rất biết ơnThánh Giêrônimô, đặc biệt về lòng yêu mến Lời Chúa và tác phẩm nghiên cứu của ngài. Có điều quan trọng là ngài đã hoàn tất bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latin – chúng ta gọi là "Vulgate" (bản phổ thông), và từ bản phổ thông này, Kinh Thánh đã tiếp tục được chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ khác – tiếng Anh, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Việt Nam,... Kinh Thánh là sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất, khoảng 2.500 ngôn ngữ. Tất cả đều nhờ công việc khó nhọc của Thánh Giêrônimô.

Đúng vậy! Nếu chúng ta không đọc Kinh Thánh, đặc biệt là các Phúc Âm, chúng ta không thể biết Chúa Giêsu là ai, không biết Ngài thì không thể yêu mến Ngài, do đó mà khó có thể đi theo Ngài và làm môn đệ của Ngài được. Vì thế, chúng ta phải dành cho Chúa tâm hồn mình, yêu mến và quý trọng Lời Chúa, bằng cách thực hiện ít nhất vài điều trong số các điều này:

1. SỞ HỮU KINH THÁNH – Kinh Thánh có nhiều cuốn và đa dạng, nhưng bạn nên có được cuốn Kinh Thánh của Giáo Hội Công giáo. Với điện thoại thông minh, bạn có thể sử dụng các Apps liên quan Kinh Thánh, nhưng phải cẩn trọng và chọn đúng Kinh Thánh Công giáo!

2. TRAO TẶNG KINH THÁNH – Các dịp đám cưới, sinh nhật, kỷ niệm ngày rửa tội, thêm sức, ngân khánh, kim khánh,... Thật là rất ý nghĩa nếu chúng ta tặng nhau một cuốn Kinh Thánh.

3. YÊU MẾN KINH THÁNH – Hãy đặt cuốn Kinh Thánh ở nơi trang trọng, đừng bao giờ bất kính. Điều đó có nghĩa là đừng bao giờ để sách Kinh Thánh ở nơi bất xứng – để trên nền nhà, ghế ngồi,... Kinh Thánh là Lời Chúa, chúng ta phải nâng niu, trân quý.

4. ĐỌC VÀ SUY NIỆM – Kinh Thánh không là phần trang trí hoặc bộ sưu tập của lễ Giáng Sinh, cũng chẳng là vật kỷ niệm. Kinh Thánh là để đọc và suy niệm không ngừng. Hãy khắc dạ ghi tâm lời Thánh Vịnh: "Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày" (Tv 1:1-2). Ước gì chúng ta cũng thích đọc Kinh Thánh và suy niệm Lời Chúa suốt ngày đêm!

5. GHI NHỚ NHỮNG CÂU QUAN TRỌNG – Chúa Giêsu là gương mẫu của chúng ta! Ngài ăn chay 40 đêm ngày, ma quỷ cám dỗ Ngài. Cơn cám dỗ thứ nhất nó xúi giục Chúa Giêsu biến đá thành bánh mà ăn. Ngài nói thẳng với nó: "Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra" (Mt 4:4).

6. BẢO VỆ ĐỨC TIN BẰNG LỜI CHÚA – Thánh Phaolô nói rằng Lời Chúa như gươm hai lưỡi tách xương và tủy. Ngài có ý nói rằng Lời Chúa mạnh mẽ, nên được dùng làm linh khí để chiến đấu với Satan và đồng bọn của nó – những kẻ dối trá. Hãy đọc Thánh Thomas Aquinô v��i Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica) và cách ngài bảo vệ tín lý dựa vào Lời Chúa.

7. THÁNH LỄ VÀ LỜI CHÚA – Hãy tham dự Thánh Lễ hằng ngày – cách cầu nguyện tuyệt vời nhất trên thế gian này! Hiến chế Sacrosanctum Concilium giải thích về Thánh Lễ và Phụng Vụ, cho biết rằng có hai bàn tiệc nuôi dưỡng chúng ta trong Thánh Lễ: Bàn Tiệc Lời Chúa v�� Bàn Tiệc Thánh Thể. Hãy tham dự Thánh Lễ – thực sự là Bàn Tiệc Nước Trời!

8. LINH THAO VÀ LỜI CHÚA – Khi có cơ hội, cố gắng sống theo cách Linh Thao (Spiritual Exercises) của Thánh Inhaxiô Loyola. Có thể đó là cuộc tĩnh tâm một tháng, tám ngày, hoặc một tuần, hoặc ngay hôm nay, tĩnh tâm giữa đời thường, có thể kéo dài sáu tháng hoặc một năm, cùng với một vị linh hướng. Phương pháp Linh Thao của Thánh Inhaxiô Loyola là cách suy niệm hoặc chiêm niệm Lời Chúa. Hãy thử và bạn sẽ không bao giờ hối tiếc!

9. ĐỨC MẸ VÀ LỜI CHÚA – Khi cố gắng phát triển lòng yêu mến đối với Lời Chúa,đừng quên đến với Đức Trinh Nữ Maria, vì chính Đức Mẹ đã cưu mang Ngôi-Lời-hóa-thành-nhục-thể trong cung lòng 9 tháng. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Đức Mẹ đã suy niệm Lời Chúa trong Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ. Sau khi các mục đồng đến kính viếng Hài Nhi, Đức Mẹ hoàn toàn im lặng: "Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng" (Lc 2:19). Cầu xin Đức Mẹ thêm sức cho chúng ta làm được như vậy – suy niệm Lời Chúa bằng cách đọc Kinh Thánh, cầu nguyện bằng Kinh Thánh, thấm nhuần Kinh Thánh và noi gương Đức Mẹ sống Lời Chúa!

Lm Ed Broom, OMV - Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ Catholic

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LM NGO TON HUAN 13-8-18 PDF Print E-mail

CÓ LUẬT NÀO ĐÒI CHA MẸ PHẢI XIN LỖI CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ NẾU CON GÁI CÓ THAI TRƯỚC KHI LÀM LỄ CƯỚI KHÔNG ?
Một độc giả viết email cho tội nói về một chuyên "lạ đời" nữa diễn ra ở một giáo xứ kia với nội dung như sau:
Cha xứ kia , sau khi rao hôn phối cho hai người muốn lấy nhau, đã "bổ túc " thêm như thế này: Cặp này đã có "bầu", rồi nhưng vì ông bố là người siêng năng đi lễ mỗi ngày nên cha tha không buộc ông ấy phải xin lỗi Cộng Đoàn. Cha xin thay mặt gia đình để xin lỗi !!!Một cặp hôn nhân khác cũng trong trường hợp tương tự, cha cũng nói: đáng lẽ cha mẹ của cô gái phải xin lỗi Công Đoàn nhưng vì có hai người chị gái siêng năng quét dọn nhà thờ và người anh trai cũng giúp sửa đèn điện ở nhà thờ nên cha không buộc cha mẹ phải xin lỗi vì con đã có "bầu" trước khi làm đám cưới !!!
Tôi thật kinh ngạc và buồn sau khi đọc email trên đây của một độc giả không biêt viết từ đâu.
Nhưng nếu câu chuyện kể trên là đúng sự thật, thì đây lại là một điều rất quan trọng nữa cần lưu ý các vị có trách nhiệm đào tạo linh mục cho Giáo Hội để các linh mục tương lai này được bảo đảm tối thiểu về kiến thức thần học, giáo lý , giáp luật và mục vụ để khi ra thi hành sứ vụ rao giảng, dạy dỗ, cử hành các bí tích và phục vụ cách hữu hiệu cho dân Chúa được trao phó cho các ngài.coi sóc về mục vụ , về mặt thiêng liêng.
Vì nếu được đào tạo đúng mức, thì linh mục kia không thể làm chuyện hoàn toàn sai trái về giáo lý, giáo luật và nhất là lỗi đức bác ái Kitô Giáo như độc giả nói trên đã tố cáo. Tôi cũng không hiểu tại sao Giáo quyền địa phương -cho đến giờ này- lại không biết việc sai trái này để ngăn chặn cũng như chỉ giáo cho linh mục kia về sự sai trái nặng nề đó.
Sai trái nặng nề vì trước hết linh mục kia đã phạm tội công khai bêu xấu người khác (lỗi đức bác ái Công giáoi, đòi buộc tôn trọng danh dự và đời tư của người khác). Ở Mỹ, tội này ( public defamation) có thể bị truy tố ra tòa vì đã công khai làm thương tổn danh dự, đời tư của người khác trước công chúng là Công Đoàn Giáo xứ.
Sai trái nặng nề hơn nữa là trong Giáo Hội, tuyệt đối không có giáo lý, giáo luật nào cho phép cha xứ tiết lộ "sự kín" của ai và đòi cha mẹ phải xin lỗi Công Đoàn vì con mình đã "có bầu" trước khi cử hành hôn phối.!.
Ở Mỹ, khi chuẩn bị cho đôi hôn phố nào, có câu hỏi được đạt ra cho đôi hôn nhân là người nữ có thai hay không.Nếu họ nhìn nhận là đang có thai, thì linh mục phụ trách thường khuyên họ hoãn ngày cưới cho đến sau khi đứa bé được sinh ra.. Lý do là có sự e ngại "cái bào thai" kia có thể là áp lực khiến đôi bạn trẻ phải lấy nhau vội vàng để bảo vệ danh dự của người nữ trong khi cũng có thể họ chưa tin chắc là đã yêu nhau đủ và thành tâm muốn tiến đến hôn nhân.Nhưng việc này chỉ diễn ra giữa linh mục phụ trách và đôi hôn phối mà thôi. Tuyệt đối linh mục không được loan báo cho ai biết bất cứ điều gì về lý lịch, đời tư của đôi hôn phối.
Vậy xin hỏi : linh mục Quản Xứ kia căn cứ vào giáo lý, giáo luật nào mà hành xử như vậy ?
Việc làm trên của linh mục này đã gợi cho người ta nhớ lại một hủ tục xưa kia trong một số xã thôn ở Miền Bắc Việt Nam, nơi có hủ tục "phạt vạ và ăn khoán" áp dụng cách độc đoán và vô nhân đạo cho những cô gái chẳng may "chửa hoang"..Khi việc này xảy ra, thì cha mẹ phải nộp phạt cho dân làng và xấu hổ vì có con " hư" khiến cả làng vừa được ăn khoán vừa cười chê, dù cho gia đình nạn nhân nghèo túng không có đủ tiền để nộp phạt.!
Đó là tệ nạn xã hội xa xưa ở Miền Bắc Việt Nam.
Nay trong giáo xứ Công giáo mà cha xứ lại công khai rao cho Công Đoàn biết việc cô gái có thai trước khi cử hành hôn lễ và buộc cha mẹ phải xin lỗi Cộng Đoàn thì cũng tương tự như hủ tục vô nhân đạo nói trên mà thôi.Chắc chắn như vậy.
Như thế, phải chăng cha xứ muốn làm sống lại hủ tục vô nhân đạo nói trên của xã thôn Việt Nam thời phong kiến lạc hậu, thay vì phải thi hành đúng trách nhiệm mục vụ của mình trong việc chuẩn bị và cử hành hôn phối cho ai ?
Trách nhiệm này chỉ đòi linh mục điểu tra và dạy giáo lý hôn nhân cho đôi hôn phối- và sau đó- chứng hôn chọ họ ( làm lễ cưới) Phải nói rõ là chứng hôn ( witness) chứ không phải là ban bí tích hôn phối như người ta vẫn sai lần quen gọi,. nếu không có ngăn trở gì chánh đáng theo giáo luật. Tuyệt đối không có luật nào cho phép cha xứ loan báo "chuyện không hay" của người nữ và đòi cha mẹ cô phải xin lỗi Công Đoàn như linh mục Quản xứ kia đã làm, theo lời tố cáo của một nhân chứng gửi mail này cho tôi..
Như vậy còn gì giáo lý, là bác ái Kitô Giáo đòi buộc không những phải yêu thương mà còn phải tôn trọng đời tư, danh dự của người khác như giáo lý của Giáo Hội dạy ( x SGLGHCG, số II-2284-85..)
Cũng liên quan đến việc bảo vệ danh dự và đời tư của người khác, Giáo luật số 220 của Giáo Hội đòi buộc như sau :
" Không ai được phép làm thiệt hại cách bất hợp pháp đến thanh danh mà mỗi người được hưởng, hoặc vi phạm quyền của mỗi người được bảo vệ bí mật riêng tư của mình."
Như thế, rõ ràng linh mục Quản xứ kia đã vi phạm giáo luật nêu trên khi công khai rao trong nhà thờ việc có gái nào đã có thai trước khi cử hành hôn lễ .Lại càng sai trái hơn nữa khi buộc cha mẹ cô gái phải xin lỗi Cộng Đoàn. Xin hỏi : căn cứ vào đâu mà buộc người ta như vậy ???
Linh mục quản xứ kia hành xử theo giáo luật hay theo luật rừng rú nào đây ?
Nói khác đi,,Linh mục kia áp dụng luật của Giáo Hội hay luật phong kiến vô nhân đạo của xã thôn ViệtNam thời xa xưa ?
Thật là kinh khủng khi một linh mục đang sống và thi hành sứ vụ trong thế kỷ 21 này mà lại có não trạng và kiến thức của thời cách nay mấy trăm năm, khi Đạo Công Giáo mới được khai sinh ở Việt Nam, thời mà có những cha xứ công khai mắng chửi giáo dân trên Tòa giảng và giáo dân còn phải " xin phép lậy cha' mỗi khi gặp một linh mục già hay trẻ.
Nếu thi hành đúng giáo lý, giáo luật và đường hướng mục vụ của Giáo Hội thì linh mục kia không thể tự ý làm điều sai trái mà hậu quả tai hại là gây hoang mang và hiểu lầm cho giáo dân về đường lối phục vụ cho dân Chúa theo gương Chúa Kitô, Đấng đến " không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người ." (." Mt 20:28 )..
Phục vụ theo gương Chúa thì không thể bêu xấu ai, làm mất danh dự của ai vì bất cứ lý do nào.Ai làm như vậy thì chắc chắn sẽ đẩy giáo dân ra khỏi Giáo Hội, vì chủ chăn đã coi giáo xứ như của riêng mình nên muốn làm gì , nói gì tùy ý, không cần áp dụng đúng giáo lý, giáo luật của Giáo Hội và nhất là tinh thần phục vụ theo gương Chúa Kitô.
Nói khác đi, không linh mục nào trong Giáo Hội được phép tự ý "chế" ra luật và giáo lý riêng của mình, thay vì phải dạy đúng theo ý Giáo Hội trong mọi lãnh vực giáo lý, tín lý, luân lý, bí tích , phụng vụ và đường lối mục vụ để phục vụ hữu hiệu cho dân Chúa được trao phó cho mình coi sóc và dạy dỗ . Nếu ai cũng tự ý "phăng ra" luật riêng,, giáo lý riêng riêng của mình thì còn gì là kỷ luật phải tôn trọng việc dạy giáo lý,tín lý, giáo luật của Giáo Hội trong khi thi hành sứ mạng mục vụ của mình ?
Sau hết, giáo dân ở nơi nào có linh mục tự ý thi hành "luật riêng" như trường hợp nói trên thì xin mạnh bạo tố cáo hay trình cho Đấng Bản quyền địa phương ( Giám mục Giáo Phận) biết để ngăn ngừa và sửa sai kịp thời. .Đây chính là trách nhiệm và bổn phận của giáo dân góp phần xây dựng Giáo Hội của Chúa Kitô cùng với hàng Giáo Phẩm, giáo sĩ và tu sĩ theo giáo huấn của Công Đồng Vaticanô I
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn vấn đề nêu ra.. .
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU HAI CN19TN-B PDF Print E-mail

Phụng Vụ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 1, 2-5. 24 - 2, 1a

"Ðây là hình lạ trông giống vinh quang của Chúa".

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Ngày mồng năm trong tháng, năm thứ năm vua Gioakim bị lưu đày, có lời Chúa phán cùng tư tế Êdêkiel, con của Buzi, ở xứ Calđêa, trên bờ sông Côbar. Chính tại đây, bàn tay Thiên Chúa đã đặt trên tôi.

Tôi nhìn thấy có một cơn gió mạnh từ phương bắc thổi đến. Có một đám mây to lớn và lửa bao bọc chung quanh và bốn bề có ánh sáng phát ra, và ở giữa bầu lửa như vàng pha sáng chói. Chính giữa, có giống gì như bốn con vật hình dáng giống như hình người.

Và tôi nghe tiếng cánh của chúng như tiếng nước lũ, như tiếng của Chúa vạn năng; khi chúng đi thì khác nào như đám đông người, như tiếng đạo quân: khi chúng dừng lại thì chúng xếp cánh xuống. Vì khi chúng nghe có tiếng trên không trung, trên đầu chúng, thì chúng dừng lại và xếp cánh xuống.

Và trên không trung, trên đỉnh đầu chúng, có cái gì như một viên ngọc thạch, hình như chiếc ngai, và trên ngai đó, phía trên hẳn, có hình giống như hình người. Và tôi thấy người như vàng pha sáng chói, bên trong, tứ bề khác nào như lửa, từ lưng người trở lên, và từ lưng trở xuống, tôi thấy có gì như lửa chiếu sáng chung quanh, giống như cái mống hiện ra trên mây trong ngày mưa: đó là hình thể chiếu sáng chung quanh. Ðây là hình lạ trông giống vinh quang của Chúa. Tôi nhìn thấy thì sấp mặt xuống đất.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 148, 1-2. 11-12ab. 12c-14a. 14bcd

Ðáp: Trời đất đầy vinh quang của Người.

Hoặc đáp: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy ca tụng Chúa từ muôn cõi trời, hãy ca tụng Người trên nơi cao thẳm. Các thiên thần Chúa, hãy ca tụng Người đi; ca tụng Người đi, hỡi các đạo thiên binh. - Ðáp.

2) Quân vương địa cầu và tất cả chư dân, quan chức và các vị chính quyền nơi cõi đất, các thanh nhiên và cả những cô trinh nữ, những ông cụ già với đoàn con trẻ. - Ðáp.

3) Họ hãy ca tụng danh Chúa, vì danh Người siêu phàm, độc nhất, oai nghiêm Người tràn lan trên trời dưới đất, và Người nâng cao quyền thế dân Người. - Ðáp.

Alleluia: Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 17, 21-26

"Họ sẽ giết Người, nhưng Người sẽ sống lại. Con cái thì được miễn thuế".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, các môn đệ và Chúa Giêsu còn đang ở Galilêa, thì Chúa Giêsu bảo các ông rằng: "Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết người, nhưng ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Các môn đệ rất đỗi buồn phiền.

Khi các ngài đến Capharnaum, thì những người thu thế đền thờ đến gặp Phêrô và hỏi rằng: "Thầy các ông không nộp thuế "đền thờ' sao?" Ông nói: "Có chớ".

Khi ông về đến nhà, Chúa Giêsu hỏi đón trước rằng: "Simon, con nghĩ sao? Vua chúa trần gian thu thuế má hạng người nào? Ðòi con cái mình hay người ngoài?" Ông thưa rằng: "Ðòi người ngoài". Chúa Giêsu bảo ông rằng: "Vậy thì con cái được miễn. Nhưng để chúng ta không làm cho họ vấp phạm, con hãy ra biển thả câu: con cá nào câu lên trước hết thì bắt lấy, mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng tiền có 4 quan thì con hãy lấy tiền đó mà nộp cho họ, trả phần Thầy và phần con".

Ðó là lời Chúa.

 Mt 17, 21-26

Cảm Nghiệm Suy Niệm

Nội Thuế = Nộp Mạng

Hôm nay, Thứ Hai Tuần XIX Thường Niên, bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu thuật lại cho chúng ta 2 sự kiện liên quan đến lời Chúa Kitô tiên báo lần đầu tiên về cuộc Vượt Qua của Người và liên quan đến vấn đề nộp thuế đền thờ của Người.

Lời Chúa Kitô tiên báo lần đầu tiên về cuộc Vượt Qua của Người: "Khi thầy trò tụ họp ở miền Galilêa, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: 'Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại'. Các môn đệ buồn phiền lắm".

Vấn đề nộp thuế đền thờ của Người: "Khi thầy trò tới Caphanaum, thì những người thu thuế cho đền thờ đến hỏi Phêrô: 'Thầy của các anh không nộp thuế sao?' Ông đáp: 'Có chứ!' Ông về tới nhà, Chúa Giêsu đón hỏi ông: 'Anh Si-môn, anh nghĩ sao? Vua chúa trần gian bắt ai đóng sưu nộp thuế? Con cái mình hay người ngoài?' Phêrô đáp: 'Thưa, người ngoài'. Chúa Giêsu liền bảo: 'Vậy thì con cái được miễn. Nhưng để khỏi làm gai mắt họ, anh ra biển thả câu; con cá nào câu được trước hết, thì bắt lấy, mở miệng nó ra: anh sẽ thấy một đồng tiền bốn quan; anh lấy đồng tiền ấy, nộp thuế cho họ, phần của Thầy và phần của anh'".

Có thể nói 2 sự kiện này có liên hệ mật thiết với nhau, chứ không phải là hai sự kiên hoàn toàn tách biệt chẳng nhắm nhò gì với nhau. Sự kiện thứ nhất là một sự kiện lịch sử và thực hữu. Còn sự kiện thứ hai là một sự kiện cụ thể nhưng mang tính cách của một dụ ngôn, hàm chứ những ý nghĩa ám chỉ sâu xa liên quan tới sự kiện thứ nhất.

Thật vậy, sự kiện chính yếu trong bài Phúc Âm hôm nay là lời Chúa Giêsu tiên báo lần đầu tiên về cuộc vượt qua của Người từ khổ giá tới phục sinh, và sự kiện thứ hai về vấn đề nộp thuế đền thờ của cả Chúa Giêsu và Tông Đồ Phêrô là sự kiện ám chỉ đến cuộc vượt qua của riêng Chúa Giêsu, thậm chí bao gồm cả Tông Đồ Phêrô nữa.

Không phải hay sao, nếu đền thờ là nhà Cha của Người (xem Gioan 2:16), mà Người là Con của Cha, thì Người tất nhiên được ở free, tức là "con cái được miễn" không phải đóng thuế như những "người ngoài", đúng như Người đã nói với tông đồ Phêrô.

Đền thờ ở đây đồng thời còn ám chỉ đến thân xác của Chúa Kitô (xem Gioan 2:19,21) sẽ bị trao "nộp" (chữ "nộp" trong Việt ngữ ở đây được sử dụng 2 lần cho 2 sự kiện khác nhau trong bài Phúc Âm: "nộp" thuế và "nộp" mạng) cho thành phần giáo quyền trong dân để họ ra tay phá hủy đi. Vậy việc Chúa Giêsu nộp thuế đến thờ ám chỉ việc Người nộp mình vào tay thành phần âm mưu sát hại Người.

Phải chăng đó là lý do Chúa Giêsu bảo tông đồ Phêrô "ra biển thả câu" để bắt "cá", một sinh vật ám chỉ đến cái chết của Người trong ngôi mồ, một cái chết đã được tiên báo ở sự kiện Tiên Tri Giona ở trong bụng cá 3 ngày đêm, và nhờ cái chết này của Người mà Người mới có thể trả thuế đền thờ, ám chỉ Người mới có thể xây lại đền thờ thân thể Người bằng cuộc phục sinh của Người?

Chúng ta chắc không thắc mắc về vấn đề làm sao Chúa Giêsu lại biết được con cá đầu tiên Tông Đồ Phêrô câu được lại có "một đồng tiền bốn quan", vừa đủ trả tiền thuế đền thờ cho cả Người lẫn tông đồ Phêrô, cho bằng thắc mắc về vấn đề tại sao số tiền ấy lại chỉ được sử dụng để trả thuế đền thờ cho "phần của Thầy và phần của anh", nghĩa là chỉ cho tông đồ Phêrô mà không cho các tông đồ khác nữa.

Xin thưa, là vì trong các tông đồ chỉ duy mình tông đồ Phêrô là được Chúa Kitô báo cho biết trước số phận sẽ được kết thúc ra sao (xem Gioan 21:18), một số phận không khác gì của Người và như Người, nên Người đã kêu gọi vị tông đồ thủ lãnh này là "hãy theo Thày" (Gioan 21:19), nghĩa là ngài sẽ "được dự phần với Thày" (Gioan 13:8), ở chỗ ngài cũng sẽ trở thành một vị mục tử nhân lành hiến mạng sống mình vì chiên như Người (xem Gioan 10:11).

"Anh ra biển thả câu; con cá nào câu được trước hết, thì bắt lấy, mở miệng nó ra: anh sẽ thấy một đồng tiền bốn quan; anh lấy đồng tiền ấy, nộp thuế cho họ, phần của Thầy và phần của anh'". Trong lời Chúa Giêsu bảo tong đồ Phêrô trên đây có chi tiết "một đồng tiền bốn quan", và trong Bài Đoc 1 hôm nay, Tiên Tri Êzêkiên cũng thị kiến thấy "bốn con vật hình dáng giống như hình người". Không biết 4 quan tiền ở Bài Phúc Âm và 4 con vật ở Bài Đọc 1 hôm nay có liên hệ gì với nhau hay chăng, nhưng cả 2 đều liên quan đến một thực tại quan trọng hơn và cao trọng hơn chúng mà chúng phải hướng về và phục vụ.

Nếu ở Bài Đọc 1 Tiên Tri Êzêkiên đã thấy: "trên không trung, trên đỉnh đầu chúng (4 con vật), có cái gì như một viên ngọc thạch, hình như chiếc ngai, và trên ngai đó, phía trên hẳn, có hình giống như hình người. Và tôi thấy người như vàng pha sáng chói, bên trong, tứ bề khác nào như lửa, từ lưng người trở lên, và từ lưng trở xuống, tôi thấy có gì như lửa chiếu sáng chung quanh, giống như cái mống hiện ra trên mây trong ngày mưa: đó là hình thể chiếu sáng chung quanh. Ðây là hình lạ trông giống vinh quang của Chúa. Tôi nhìn thấy thì sấp mặt xuống đất", thì ở Bài Phúc Âm, "đồng tiền bốn quan" được sử dụng để "nộp thuế cho họ, phần của Thầy và phần của anh'".

Đó là lý do, chính vì tất cả mọi sự đều phải qui về Thiên Chúa là cùng đích của mình, Đấng thậm chí có thể biến dữ thành lành, có thể sử dụng mọi sự theo ý muốn tối hậu của Ngài, mà Bài Đáp Ca hôm nay đã chất chứa tâm tình ngợi khen chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa như sau:

1) Hãy ca tụng Chúa từ muôn cõi trời, hãy ca tụng Người trên nơi cao thẳm. Các thiên thần Chúa, hãy ca tụng Người đi; ca tụng Người đi, hỡi các đạo thiên binh.

2) Quân vương địa cầu và tất cả chư dân, quan chức và các vị chính quyền nơi cõi đất, các thanh nhiên và cả những cô trinh nữ, những ông cụ già với đoàn con trẻ.

3) Họ hãy ca tụng danh Chúa, vì danh Người siêu phàm, độc nhất, oai nghiêm Người tràn lan trên trời dưới đất, và Người nâng cao quyền thế dân Người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 144