mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay58
mod_vvisit_counterHôm Qua7688
mod_vvisit_counterTuần Này45922
mod_vvisit_counterTuần Trước43672
mod_vvisit_counterTháng Này99642
mod_vvisit_counterTháng Trước155737
mod_vvisit_counterTất cả12295875

We have: 68 guests online
Your IP: 54.221.147.93
 , 
Today: Dec 16, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THU BA CN2MV-C PDF Print E-mail

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: Is 40, 1-11

"Thiên Chúa an ủi dân Người".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa ngươi phán: Hỡi dân Ta, hãy an tâm, hãy an tâm! Hãy nói với Giêrusalem, và kêu gọi rằng: Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá, Chúa đã ban ơn nhiều gấp hai lần tội lỗi.

Và có tiếng kêu trong hoang địa rằng: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa chúng ta trong hoang địa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng. Và vinh quang Chúa sẽ xuất hiện, mọi người sẽ được thấy vinh quang Thiên Chúa, vì Ngài đã phán. Có tiếng bảo: "Hãy hô lên!", và tôi nói: "Tôi sẽ hô lên điều gì?" Mọi xác phàm như cỏ dại; mọi vinh quang của nó đều như hoa ngoài đồng. Cỏ dại đã khô, hoa đã tàn, vì hơi Chúa đã thổi trên chúng. Vì chưng, dân là cỏ dại: Cỏ dại đã khô, hoa đã tàn, mà lời Chúa chúng ta tồn tại đến muôn đời.

Hỡi ngươi là kẻ đem tin mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao. Hỡi ngươi là kẻ đưa tin mừng cho Giêrusalem, hãy mạnh dạn cất tiếng. Hãy cất tiếng cao, đừng sợ! Hãy nói cho các dân thành thuộc chi họ Giuđa rằng: Ðây Thiên Chúa các ngươi, đây Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ đến trong quyền lực, và cánh tay Người sẽ thống trị. Người mang theo những phần thưởng chiến thắng, và đưa đi trước những chiến lợi phẩm. Người chăn dắt đoàn chiên Người như một mục tử. Người ẵm những chiên con trên cánh tay, ôm ấp chúng vào lòng, và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 95, 1-2. 3 và 10ac. 11-12. 13

Ðáp: Thiên Chúa chúng ta sẽ đến trong uy quyền (Is 40, 9-10).

Xướng: 1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới, hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người. - Ðáp.

2) Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc. Hãy công bố giữa chư dân rằng: Thiên Chúa ngự trị, Người cai quản chư dân theo đường đoan chính. - Ðáp.

3) Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan. Biển khơi và muôn vật trong đó hãy reo lên; đồng nội và muôn loài trong đó hãy mừng vui. - Ðáp.

4) Các rừng cây hãy vui tươi hớn hở, trước nhan Thiên Chúa: vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người sẽ cai quản địa cầu cách công minh và chư dân cách chân thành. - Ðáp.

Alleluia: Lc 3, 4. 6

Alleluia, alleluia! - Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng; và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 18, 12-14

"Chúa không muốn những kẻ bé nhỏ phải hư đi".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, thì quả thật, Thầy bảo các con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc. Cũng vậy, Cha các con ở trên trời không muốn để một trong những kẻ bé nhỏ này phải hư đi".

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần Thứ Hai Mùa Vọng hôm nay là Bài Phúc Âm được Thánh ký Luca thuật lại về dụ ngôn con chiên lạc Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người:

"Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, thì quả thật, Thầy bảo các con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc. Cũng vậy, Cha các con ở trên trời không muốn để một trong những kẻ bé nhỏ này phải hư đi".

Bài Phúc Âm con chiên lạc này cũng có ý nghĩa tương tự như Bài Phúc Âm hôm qua và cũng rất hợp với Mùa Vọng. Tại sao? Tại vì, "con chiên lạc" đây là hình ảnh của một loài người đã vấp phạm ngay từ ban đầu. "Lạc" ở chỗ không vâng nghe lời Chúa mà theo ý riêng của mình. "Lạc" ở chỗ cứ tưởng tự mình có thể nên giống như Thiên Chúa bằng việc làm trái với ý muốn của Ngài, và nhờ theo ý mình mới là Chúa tể ngang hàng với Ngài. "Lạc" ở chỗ tin theo ma quỉ gian dối lừa đảo hơn là tin vào Thiên Chúa chân thật. "Lạc" ở chỗ đi tìm sự sống và hạnh phúc trong sự chết và bất hạnh. "Lạc" ở chỗ sau khi sa ngã chẳng những không nhận lỗi mình và xin lỗi Chúa lại còn đổ lỗi cho nhau. "Lạc" ở chỗ tự cho mình là công chính do bởi việc mình giữ luật, và vì thế không cần đến ơn cứu độ của Thiên Chúa, không cần đến LTXC v.v.

Tại sao con người "lạc", nếu không phải là vì con người chưa có hay không có Thánh Linh là Thần Chân Lý, Đấng duy nhất có thể "dẫn vào tất cả sự thật" (xem Gioan 16:13). Vá đó là lý do Thiên Chúa cần phải nhập thể để nhờ đó thông ban Thánh Linh của Người cho họ. Và cũng chính vì thế mà sau khi con người được thông ban Thánh Linh qua Lời Nhập Thể và Vượt Qua mà vẫn cố tình "lầm", ở chỗ không chấp nhận tất cả mạc khải thần linh nơi Chúa Giêsu Kitô thì họ đã phạm tội lộng ngôn phạm đến Thánh Linh, một tội không thể tha thứ cả đời này lẫn đời sau (xem Mathêu 12:31-32; Marco 3:28-29; Luca 12:10).

Sở dĩ Luxiphe và bọn ngụy thần phạm tội chỉ một lần duy nhất là hư đi liền, không được cứu độ như con người, là vì: 1- loài thần thiêng là loài thiêng liêng sáng láng, thông biết hơn con người một trời một vực, biết được tội mình phạm đến Thiên Chúa khủng khiếp là chừng nào, kèm theo hậu quả vô cùng khốn nạn của tội họ phạm, mà họ cứ phạm; 2- loài thần thiêng không sống trong thời gian như loài người, nên không có thời gian ăn năn thống hối và cải thiện đời sống; 3- loài thần thiêng không bị cám dỗ như con người, tự mình làm những gì bất xứng với thân phận tạo vật của mình, lộng ngôn phạm thượng đến chính Đấng vô cùng toàn thiện, khôn ngoan và toàn năng, đã tạo dựng nên mình.

Chính vì thương cảm con người tạo vật của mình thật sự là "lạc", ở chỗ "lầm không biết việc mình làm" (Luca 23:34), mà Thiên Chúa chẳng những không chấp thái độ vô cùng phạm thượng của họ, khi họ tỏ ra không tin tưởng vào Ngài cho bằng tin tưởng vào ma quỉ lừa dối họ, không chấp hành động bất tuân Thánh Ý vô cùng thiện hảo của Ngài, và không chấp hành vi cử chỉ mù quáng không biết nhận lỗi và xin lỗi của họ, mà trái lại còn chộp ngay lấy cơ hội ngàn năm một thuở hiếm có là tội lỗi của họ để tự động hứa cứu độ họ, bằng cách tìm kiếm họ nơi "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), và mang họ về nhà Cha nơi Chúa Kitô vượt qua.

Thật vậy, trong Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến, đoạn 7, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói đến việc Thiên Chúa tìm kiếm con chiên lạc nơi Lời Nhập Thể và vượt Qua như sau:

"Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa chẳng những nói với loài người mà còn tìm kiếm họ nữa. Việc Con Thiên Chúa nhập thể chứng tỏ là Thiên Chúa đi tìm kiếm con người. Chúa Giêsu nói về việc tìm kiếm này như tìm kiếm một con chiên lạc đàn (x.Lk.15:1-7). Đó là một cuộc tìm kiếm mà khởi điểm bắt đầu từ cõi lòng của Thiên Chúa và đích điểm ở nơi việc nhập thể của Ngôi Lời. Nếu Thiên Chúa đi tìm con người, loài được dựng nên theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài, là vì đời đời Ngài yêu thương họ nơi Ngôi Lời, và trong Đức Kitô Ngài muốn nâng họ lên danh phận làm một người con được thừa nhận. Thế nên, Thiên Chúa đi tìm kiếm con người là sở hữu đặc biệt của Ngài bằng một đường lối không giống như các tạo vật khác. Con người là sở hữu của Thiên Chúa bởi việc yêu thương chọn lựa: Thiên Chúa tìm kiếm con người theo tấm lòng hiền phụ rung cảm của mình.

"Tại sao Thiên Chúa lại tìm kiếm con người? Là vì con người đã bỏ Ngài mà đi, ẩn mình đi như Adong đã làm trong Vườn Địa Đàng (x.Gn.3:8-10). Con người đã để cho mình bị kẻ thù của Thiên Chúa (x.Gn.3:13) làm lạc hướng. Satan đã đánh lừa con người, làm cho con người tin rằng họ cũng là một thần linh, như Thiên Chúa, họ có khả năng biết lành biết dữ, cai trị thế giới theo ý mình mà không cần phải căn cứ vào ý muốn thần linh (x.Gn.3:5). Đi tìm kiếm con người qua Con của mình như thế là Thiên Chúa muốn chinh phục con người, để họ rời bỏ những đường nẻo gian ác đã dẫn họ càng ngày càng đi sai lạc. 'Làm cho họ rời bỏ' những đường nẻo này nghĩa là làm cho họ hiểu được rằng họ đang đi sai đường lạc hướng; nghĩa là chế ngự sự dữ ở bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử loài người. Chế ngự sự dữ: đó là ý nghĩa của việc cứu chuộc".

Hình ảnh Thiên Chúa đi tìm kiếm con chiên lạc loài người trong Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy Ngài thực sự là một vị mục tử vô cùng nhân lành, luôn ở với chiên của mình và biết từng con chiên của Ngài; Ngài hết lòng yêu thương và tận tình chăm sóc cho từng con chiên một, như Ngôn Sứ Isaia cảm nhận trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Người chăn dắt đoàn chiên Người như một mục tử. Người ẵm những chiên con trên cánh tay, ôm ấp chúng vào lòng, và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ".

Bởi thế, Thiên Chúa, Đấng "sẽ đến trong quyền lực, và cánh tay Người sẽ thống trị. Người mang theo những phần thưởng chiến thắng, và đưa đi trước những chiến lợi phẩm", như Tiên Tri Isaia tiên báo trong Bài Đọc 1 hôm nay, đã trấn an dân của Ngài, một dân tộc được Ngài yêu thương nhưng lạc loài, ở chỗ hằng liên lỉ bất trung với Ngài như một người vợ ngoại tình với đủ mọi tà thần và ngẫu tượng, rằng: "Hỡi dân Ta, hãy an tâm, hãy an tâm! Hãy nói với Giêrusalem, và kêu gọi rằng: Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá, Chúa đã ban ơn nhiều gấp hai lần tội lỗi".

Chính vì thế, vì Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa, vì được Thiên Chúa vô cùng nhân hậu cứu độ, mà dân của Ngài, trong Bài Đọc 1 hôm nay, được kêu gọi "hãy trèo lên núi cao... hãy mạnh dạn cất tiếng. Hãy cất tiếng cao, đừng sợ!", theo tâm tình hân hoan chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới, hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người.

2) Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc. Hãy công bố giữa chư dân rằng: Thiên Chúa ngự trị, Người cai quản chư dân theo đường đoan chính.

3) Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan. Biển khơi và muôn vật trong đó hãy reo lên; đồng nội và muôn loài trong đó hãy mừng vui.

4) Các rừng cây hãy vui tươi hớn hở, trước nhan Thiên Chúa: vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người sẽ cai quản địa cầu cách công minh và chư dân cách chân thành.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN 2 MV -C PDF Print E-mail

HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - CN2MV-C

Mùa Vọng là Mùa đợi trông Đấng Thiên Sai Cứu Thế, Đấng mang đến cho chung loài người và riêng dân Do Thái Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa. Bởi vì, từ sau nguyên tội, loài người đã sống trong đau thương, về cả tâm hồn lẫn thể xác, đến độ, đúng như cảm nghiệm của Phật giáo: "đời là bể khổ".

Thế nhưng, vì Thiên Chúa dựng nên con người là để được sống đời đời, để được hưởng phúc trường sinh bất diệt, mà họ không thể nào chấp nhận được thân phận khổ đau bất hạnh của mình. Theo giòng lịch sử, họ đã tìm đủ cách để làm sao có thể "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24).

Đó là là lý do mới có các "đạo" giáo khác nhau, tức là có những "con đường", những "đạo lộ" khác nhau để con người vừa có thể thoát khổ vừa có thể được đạt được hạnh phúc. Một trong những "con đường" hay "đạo lộ" rõ ràng có chủ trương "cứu độ" con người như "đạo" Do Thái và "đạo" Thiên Chúa (Kitô giáo) đó là "đạo" Phật (Phật giáo).

Tuy nhiên, trong khi "đạo" Phật chủ trương "tự độ", nghĩa là tự cứu mình, bằng cách diệt dục là tham sân si khi còn sống trên đời này cũng như bằng đường lối đầu thai luân hồi sau khi chết nếu chưa hoàn toàn diệt dục, cho tới khi giác ngộ mới được siêu thoát vào cõi niết bàn, thì Do Thái giáo và Kitô giáo lại trông chờ "Ơn Cứu Độ" từ Trời Cao.

Thật vậy, tự bản tính thụ tạo của mình, một tạo vật hữu hình và hữu hạn, so với Thiên Chúa Hóa Công là Đấng tự hữu, toàn thiện và toàn năng, con người chẳng là gì ngoài bản chất bất toàn và bất lực của mình, chỉ có thể trở thành viên mãn nhờ Ngài và trong Ngài, như họ đã được thông phần vào sự hiện hữu của Ngài nhờ được Ngài dựng nên.

Thậm chí khi mới được tạo dựng, còn sống trong tình trạng công chính nguyên thủy, chưa biết đến tội lỗi là gì: "trần truồng không biết xấu hổ" (Khởi Nguyên 2:25), loài người còn sa ngã phạm tội, huống chi bởi nguyên tội họ lại càng mù quáng, sai lạc và yếu nhược hơn nữa, làm sao có thể "tự độ", tự cứu được bản thân mình như lòng mong ước.

Đó là lý do, ngay từ ban đầu, nghĩa là ngay sau nguyên tội, Thiên Chúa chẳng những đã tự động hứa ban Ơn Cứu Độ cho con người qua Đấng Thiên Sai Cứu Tinh của Ngài (xem Khởi Nguyên 3:15), mà còn khôn ngoan không để con người có thể "tự độ", bằng cách đuổi họ ra khỏi địa đường, kẻo họ hái cây sự sống mà ăn (xem Khởi Nguyên 3:22).

Thế là lịch sử của loài người nói chung và lịch sử của dân Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn nói riêng đã trở thành Lịch Sử Cứu Độ, lịch sử đợi trông Ơn Cứu Độ, một Mùa Vọng đợi trông cho được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết là những gì liên lỉ chẳng những hành hạ con người mà còn giúp cho con người càng có lý do sâu xa chính đáng mãnh liệt trông chờ Đấng Thiên Sai Cứu Thế mau đến.

Lời Chúa qua miệng Tiên Tri Barúc trong Bài Đọc 1 cho Chúa Nhật Thứ Hai Mùa Vọng hôm nay đã cho thấy Thiên Chúa không quên lời hứa cứu độ của Ngài từ ban đầu, trái lại, Ngài vẫn hiện diện trong giòng lịch sử của loài người nói chung và Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái nói riêng. Bởi thế, trong Bài Đọc 1 hôm nay, Ngài đã phấn khởi dân Ngài chẳng những ở chỗ kêu gọi họ sống cả về mặt tiêu cực lẫn tích cực mà còn hướng họ về một tương lai sáng lạn tràn đầy sự sống như sau:

Trước hết, Thiên Chúa đã phấn khởi dân Ngài sống cả về mặt tiêu cực lẫn tích cực:

"Hỡi Giêrusalem, hãy cởi áo tang chế và sầu khổ của ngươi ("vượt qua sự chết" - Gioan 5:24), hãy mặc lấy sự huy hoàng và vinh quang đời đời của Chúa mà Chúa ban cho ngươi ("mà vào sự sống" - Gioan 5:24). Chúa sẽ mặc cho ngươi áo công lý ("được sự sống" - Gioan 10:10), và đặt vương miện vĩnh cửu trên đầu ngươi ("và được sự sống viên mãn" - Gioan 10:10). Vì chưng, Chúa sẽ tỏ bày huy hoàng của Chúa trong ngươi cho mọi kẻ trần gian (ám chỉ việc Thiên Chúa tỏ mình ra qua Con của Ngài nơi dân Do Thái: "Ơn cứu độ xuất phát từ dân Do Thái" - Gioan 4:22). Vì Thiên Chúa sẽ đời đời gọi tên ngươi là Hoà bình trong công lý và Vinh dự trong hiếu nghĩa".

Sau nữa, Thiên Chúa hướng họ về một tương lai sáng lạn tràn đầy sự sống:

"Hỡi Giêrusalem, hãy chỗi dậy, đứng nơi cao, và nhìn về hướng đông (là hướng mặt trời mọc, mặt trời Công Chính là Chúa Kitô - xem Luca 1:78). Hãy nhìn con cái ngươi từ đông sang tây (ám chỉ cả dân ngoại, cả loài người cũng được thừa hưởng giao ước Thiên Chúa đã thiết lập với dân Do Thái) họp lại theo lệnh của Ðấng Thánh ("Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ" - 1Timothêu 2:4), họ hân hoan thấy Chúa nhớ đến họ. Họ bị quân thù dẫn đi xa ngươi, nhưng Chúa đã đem họ về cho ngươi trong vinh dự như các hoàng tử (có thể là ám chỉ loài người bị ngụy thần bắt cóc, sống nô lệ cho hắn, nhưng được lấy lại chức phận con cái Thiên Chúa). Vì Chúa đã ra lệnh triệt hạ (bằng cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô) mọi núi cao và mọi đồi từ ngàn xưa (có thể là ám chỉ các thứ quyền lực sự dữ), lấp đầy những hố sâu (có thể là ám chỉ các cám dỗ gian tà dối trá lừa đảo), để trái đất được bằng phẳng, hầu Israel vững vàng bước đi cao rao vinh quang Thiên Chúa. Theo lệnh Chúa, những cánh rừng, những cây có hương thơm, đã cho Israel núp bóng, vì Chúa sẽ hân hoan lấy lòng từ bi và công bình của Người dẫn dắt Israel đến ánh vinh quang".

Theo chiều hướng được Thiên Chúa cứu độ kêu gọi và phấn khích trong Bài Đọc 1 hôm nay, dân Do Thái cảm thấy hân hoan vui sống với tràn đầy những tâm tình hứng khởi được chất chứa trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Khi Chúa đem những người Sion bị bắt trở về, chúng tôi dường như người đang mơ, bấy giờ miệng chúng tôi vui cười, lưỡi chúng tôi thốt lên những tiếng hân hoan.

2) Bấy giờ dân thiên hạ nói với nhau rằng: Chúa đã đối xử với họ cách đại lượng. Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.

3) Lạy Chúa, xin hãy đổi số phận chúng con, như những dòng suối ở miền nam. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan.

4) Thiên hạ vừa đi vừa khóc, tay mang thóc đi gieo. Họ trở về trong hân hoan, vai mang những bó lúa.

Phải, lịch sử của loài người nói chung và của dân Do Thái nói riêng là một Mùa Vọng trông chờ Ơn Cứu Độ, trông chờ Ngày Giải Thoát, một thời điểm quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại và Do Thái, như thể tất cả mọi sự đều chẳng những hướng về thời điểm định mệnh ấy, thời điểm được Tiên Tri Giêrêmia của Cựu Ước trong Bài Đọc 1 của Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng tiên báo một cách trống trống là "Ngày ấy" (liên quan đến lần đến thứ nhất của Chúa Kitô), mà còn từ thời điểm quyết liệt ấy, thời điểm được Thánh Tông Đồ Phaolô của Tân Ước xác định rõ 2 lần trong Bài Đọc 2 hôm nay là "ngày của Ðức Giêsu Kitô" (liên quan đến lần đến thứ hai của Chúa Kitô): "anh em đã thông phần vào việc rao giảng Phúc Âm từ ngày đầu cho tới nay. Tôi tin tưởng rằng Ðấng đã khởi đầu việc lành đó trong anh em, cũng sẽ hoàn tất cho đến ngày của Ðức Giêsu Kitô..."

Đúng thế, đối với Kitô hữu thì Chúa Kitô đã tới rồi, như mặt trời công chính chiếu tỏa khắp nhân gian, như một "Ngày" vô tận. Bởi thế, khi lãnh nhận Phép Rửa, tức khi họ chấp nhận Chúa Kitô "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12), họ đã mặc lấy Người và nhờ đó cũng trở nên "ánh sáng trần gian" (Mathêu 5:14), trở thành "con cái sự sáng, con cái ban ngày" (1Thessalonica 5:5), ở chỗ, như Thánh Phaolô viết trong Bài Đọc 2 hôm nay: "Lòng bác ái của anh em ngày càng gia tăng trong sự thông biết và am hiểu, để anh em xác định những điều quan trọng hơn, nhờ đó anh em được trong sạch và không đáng trách cho đến ngày của Ðức Kitô".

Vẫn biết là Ơn Cứu Độ được ban nhưng không cho con người từ Vị Thiên Chúa vô cùng nhân hậu qua Đấng Thiên Sai Cứu Thế Con của Ngài. Thế nhưng, về phần mình, con người phải làm sao để có thể lãnh nhận và xứng đáng hoan hưởng Ơn Cứu Độ nhưng không và vô cùng cao quí đó nữa.

Trong việc sửa soạn cho con người có thể đón nhận Ơn Cứu Độ vô cùng cao quí này, tức là đón nhận chính Đấng Thiên Sai Cứu Thế được Thiên Chúa sai đến, Thiên Chúa đã phải cho xuất hiện vào một thời điểm lịch sử trong "đời hoàng đế Tibêriô năm thứ mười lăm, Phongxiô Philatô làm toàn quyền xứ Giuđêa, Hêrôđê làm thủ hiến xứ Galilêa, còn em là Philipphê làm thủ hiến xứ Ituria và Tracônitêđê; Lysania làm thủ hiến xứ Abilêna; Anna và Caipha làm thượng tế", một Vị Tiền Hô của Con Ngài và cho Con Ngài là "Gioan, con Giacaria, trong hoang địa", như được Bài Phúc Âm Thánh Luca hôm nay đề cập tới.

Nhân vật lịch sử Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này xuất hiện với mục đích "đi trước Chúa để sửa soạn đường lối ngay thẳng cho Người, bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên" (Luca 1:76-77). Bằng cách, như Phúc Âm hôm nay cho biết: "Ông liền đi khắp miền sông Giođan, rao giảng phép rửa sám hối cầu ơn tha tội, như lời chép trong sách Tiên tri Isaia rằng: 'Có tiếng kêu trong hoang địa: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng. Và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa".

Vâng, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, với tư cách là "tiếng kêu trong hoang địa", được Thiên Chúa sai đến trước Chúa Kitô là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) để thực hiện sứ vụ "sửa soạn đường lối ngay thẳng cho Chúa" nơi dân Do Thái, nhờ đó "dân Chúa" mới có thể nhận biết Đấng Thiên Sai Cứu Thế của họ. Và ngài đã "sửa soạn đường lối ngay thẳng cho Chúa" nơi dân Do Thái, ở chỗ "rao giảng phép rửa sám hối cầu ơn tha tội", bằng cách ngài ra tay "lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy uốn cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng".

Điển hình là thành phần Pharisiêu và Saducê đến chịu phép rửa với mình, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đã thẳng thắn "lấp... bạt" và "uốn... san" như thế này: "Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối. Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: 'Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham.' Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra-ham. Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa" (Mathêu 3:7-10).

"Hỡi Chúa Hài Đồng, xin cho con biết hạ mình xuống, khiêm nhượng và đơn sơ như trẻ con, để con được làm bạn thân của Chúa!" (Lời nguyện tắt của Linh Mục Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC).

----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - DIEU RAN THU HAI PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Dec 3 at 11:39 PM

Những tội phạm Điều Răn Thứ Hai của Chúa

Linh mục Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi: Xin cha giải thích rõ tội phạm điều răn Thứ Hai của Chúa

Trả lời : Là người tín hữu Công giáo, ai cũng thuộc lòng điều răn thứ hai: cấm kêu tên Chúa vô cớ. Tại sao như vậy ?

Câu trả lời là chính Thiên Chúa đã truyền cho dân Do Thái qua miệng ông Môsê mệnh lệnh sau đây:

“Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người cách bất xứng” (Xh 20: 7; Đnl 5: 11)

Nhưng thế nào là dùng Danh Chúa cách bất xứng ?

Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nhớ lại sự kiện Thiên Chúa tỏ mình cho ông Môsê từ bụi cây bốc cháy và truyền cho ông sứ mạng dẫn đưa dân Do Thái từ Ai Cập trở về quê hương sau bao năm sống nô lệ và thống khổ trên đất Ai Cập. Ông Môsê, trước hết, đã ngần ngại, không dám nhận làm việc đó, nên đã hỏi tên Chúa để có cớ nói với dân, và Chúa đã trả lời ông như sau:

“Ta là Đấng Tự Hữu. Ngươi hãy nói với con cái Ỉsrael thế này: “Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Ap-ra ham, Thiên Chúa của Ixaác, Thiên Chúa của Giacóp sai tôi đến với anh em. Đó là Danh Ta cho đến muôn thủa. Đó là Danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời này đến đời kia.” (Xh 3 : 14-15)

Như thế, Danh của Thiên Chúa là Đức Chúa, Đấng Tự hữu đã mặc khải cho ông Môsê để nói lại cho dân Do Thái trước tiên và cho hết mọi người , mọi dân trên trần thế này được biết để tôn thờ, tôn kính đến muôn đời.

Tác giả Thánh Vịnh 29 và 113 đã ca tụng Danh Thánh Chúa như sau :

“ Hãy dâng Chúa vinh quang xứng Danh Người

Và thờ lậy Chúa uy nghiêm thánh thiện.” (Tv 29: 2)

Hoặc :

“Halêluia !

Hởi tôi tớ Chúa, hãy dâng lời ca ngợi.

Nào ca ngợi Danh thánh Chúa đi.

Chúc tụng Danh thánh Chúa.

Tự bậy giờ cho đến mãi muôn đời.” (Tv 113: 1-2)

Do đó, tôn kinh Thánh Danh Chúa cũng thuộc về nhân đức thờ phượng Chúa trên hết mọi sự như nội dung điều răn Thứ Nhất dạy ta.

Giáo lý của Giáo Hội dạy như sau về việc kính Thánh danh Chúa:

“ Trong số các lời của Mặc Khải, có một lời rất đặc biệt : đó là lời Mặc khải Danh Thánh của Thiên Chúa, qua đó, Thiên Chúa cho con người biết Danh của Ngài. Nghĩa là Thiên Chúa tự mặc khải mình cho những ai tin Người trong mầu nhiệm riêng tư về Người. Danh Thánh của Thiên Chúa là một quà tặng tin cẩn và mật thiết. Danh của Người là thánh, vì thế con người không được lạm dụng Thánh Danh của Thiên Chúa, mà phải yêu mến tôn thờ trong tâm hồn, và chỉ nhắc đến Danh Thánh Chúa để cảm tạ, ngợi khen và tôn vinh Thánh Danh đó mà thôi.” (SGLGHCG số 2143)

Cũng cần nói thêm nữa là Thánh Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đều phải được tôn thờ tôn kính như nhau, vì cùng là Một Thiên Chúa duy nhất mặc dù với Ba Ngôi Vị. Thêm vào đó, cũng phải kinh danh thánh của Đức Mẹ và các thánh Nam nữ , vì các ngài là vinh quang của Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng, thánh hóa và nâng đỡ để các ngài được bước lên bậc hiển thánh trên Nước Trời để cùng với các đạo binh Thiên Quốc ,ngày đêm chúc tụng, ngợi khen Thiên Chúa đến muôn đời.

Do đó, những hành động hay việc làm sau đây được coi là xúc phạm đến Thánh Danh Chúa :

1- Trước hết là phải có can đảm xưng danh Chúa trước mặt người đời và nhất là trước những kẻ muốn bách hại đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa, vào Chúa Kitô, Đấng đã đến trong trần gian làm Con Người để “cứu chuộc muôn người”. Nghĩa là nếu không dám xưng mình là người tin có Thiên Chúa thì cũng được coi là chối Chúa và xúc phạm đến Danh Thánh của Người trước mặt người khác. Khi được rửa tội, chúng ta được rửa “nhân Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28: 19) Do đó, người tín hữu Chúa Kitô chân chính mang danh Chúa Ba Ngôi, không thể nói ba phải là “Lậy Chúa, lậy Phật, lậy Đấng Mohammed”... để muốn làm vui lòng người khác tín ngưỡng với mình. Ta tôn trọng niềm tin của họ, nhưng phải có can đảm và hãnh diện tuyên xưng Thiên Chúa là Cha duy nhất của mình trong mọi hoàn cảnh.

2- Nếu nhân danh Chúa để thề hứa với ai điều gì thì phải tôn trọng và thi hành lời hứa đó vì đã lấy Danh Chúa mà hứa với họ. Nếu không tôn trọng lời hứa vì Danh Chúa thì đã coi Chúa là Người nói dối như Thánh Gioan đã dạy như sau:

“Nếu chúng ta nói là chúng ta đã không phạm tội thì chúng ta coi Người (Thiên Chúa) là kẻ nói dối, và lời của Người không ở trong chúng ta.” (1 Ga 1 :10)

3- Nói phạm thánh (blasphemy) là trực tiếp phạm điều răn thứ hai. Tội phạm thánh bao gồm những tư tưởng và lời nói xúc phạm đến Danh Thánh Chúa như những lời giận dữ, oán trách Chúa – hoặc ghê gớm hơn nữa - là nguyền rủa Thiên Chúa chỉ vì một bất mãn, hay tai họa chẳng may gặp phải, khiến mất niềm tin và kính trọng đối với Chúa, như thánh Giacôbê Tông Đồ đã nói như sau: “Chẳng phải họ nói xúc phạm đến Danh Thánh cao đẹp mà anh em được mang đó sao?” (Gc 2: 7)

Đó là những kẻ mang danh Chúa, tự nhận mình là người có Đạo của Chúa Kitô nhưng lại làm hoặc tham gia vào những việc tỗi lỗi như ức hiếp, bóc lột, tra tấn người khác, buôn bán dâm ô, cần sa ma túy, làm chứng gian cho người khác thay vợ đổi chồng, lường gạt trộm cướp... Người Kitô-hữu Công giáo mà làm những việc vô luân vô đạo này thì chắc chắn sẽ khiến cho người khác thù hận tôn giáo của mình và căm thù cả Đấng mà mình mang Danh Thánh là Chúa Kitô. Đây là tội phạm thánh rất nghiêm trọng phải tránh cho được xứng đáng là người tin yêu Chúa Kitô sống giữa những người không chia sẻ cùng niềm tin với mình, giữa những kẻ gian ác vì không có niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành, công bình và đầy yêu thương.

Cũng được kể là tội phạm thánh khi nói hay có hành động xúc phạm đến Đức Mẹ và các thánh, như quăng ảnh tượng Đức Mẹ và thánh nam nữ nào vào thùng rác hay lấy chân đạp lên các thánh tượng đó. Đặc biệt ai lấy Mình Thánh Chúa đem về nhà để làm chuyện mê tín nào đó thì cũng là hành động phạm thánh nghiêm trọng.

4- Tội bội thệ (perjury) là tội xúc phạm đến Thanh Danh Chúa vì cố ý tuyên thệ để làm chứng một việc gian dối hay phủ nhận một lỗi nặng của chính mình trước luật pháp xã hội. Bội thệ cũng cố ý hứa với ai điều gì nhưng cố ý không thi hành lời đã thề hứa nhân danh Chúa.Do đó, người “bội thệ” không những có lỗi nặng đối với luật pháp xã hội, mà còn lỗi phạm đến Thiên Chúa là Đấng công bình và chân thật tuyệt đối nữa .

Chúa Giêsu đã ngăn cấm việc bội thệ như sau: “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: chớ bội thệ, nhưng hãy giữ trọn lời thề với Thiên Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả... Hễ có thì nói “có”, không thì phải nói “không”.Thêm thắt điều gì, là do ác quỷ.” (Mt 5 : 33,37)

Như thế, đủ cho thấy bội thệ là một tội trọng đối với người tín hữu Chúa Kitô vì đã lạm dụng Thánh danh Chúa để làm chứng cho việc gian dối, lỗi đức công bằng và bảo vệ chân lý mà mình phải tuân giữ để xứng đáng là người mang Thánh Danh Chúa như Thánh Chúa Kitô đã dạy

5- Thề gian (false oaths) cũng là một hình thức bội thệ vì đã cố ý che dấu sự thật về việc mình hay kẻ khác đã làm để mong tránh hình phạt của xã hội. Người tín hữu Chúa Kitô, khi giơ tay thề gian với ai, đã mang Thánh Danh Chúa ra làm chứng cho sự gian dối, hay tội đã phạm, cho nên đã xúc phạm đến Thánh Danh Chúa cách nghiêm trọng. Nhưng ngược lại, nếu lấy Danh Chúa mà thề để bênh vực cho sự thật, sự ngay chính của mình trước kẻ tố cáo gian vì tư lợi, tư thù thì đã nhân danh Chúa để bênh vực cho sự thật và lẽ phải, nên không có lỗi gì liên quan đến Điều răn thứ hai, cấm kêu tên Chúa vô cớ.

Nói khác đi, lời thề chính đáng là sự kêu cầu danh Chúa để làm chứng cho sự thật. Nghĩa là chỉ được thề khi phải bênh vực cho lẽ phải và sự công chính mà mình muốn nhằm tới qua lời thề mà thôi.

Tóm lại, Danh Chúa là thánh. Danh Đức Mẹ và các Thánh cũng là thánh. Danh xưng là tín hữu Chúa Kitô, kể cả tên Thánh bổn mạng lãnh nhận khi được rủa tội cũng là thánh.

Do đó, khi xử dụng Danh Thánh của Chúa hay của Đức Mẹ và các Thánh, kể cả danh xưng mình là tín hữu Chúa Kitô, vào những mục đích bất xứng như đã kể trên đây thì đều lỗi phạm điều răn thứ hai cấm dùng Danh Thánh cách bất xứng.

Ước mong giải đáp này thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

Linh mục Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY CN34TN-B PDF Print E-mail

HỌC HỎI-CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: (Năm II) Kh 22, 1-7

"Sẽ không còn đêm tối nữa, Thiên Chúa sẽ soi sáng cho họ".

Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan Tông đồ.

Thiên thần Chúa chỉ cho tôi là Gioan, thấy sông nước hằng sống, sáng ngời như thuỷ tinh, từ toà Thiên Chúa và Con Chiên chảy ra. Ở giữa công trường thành phố và hai bên sông, có cây sự sống sinh hoa kết quả mười hai mùa, mỗi tháng một mùa, và lá cây thì dùng cứu chữa các dân ngoại lành đã. Sẽ không còn lời nguyền rủa nào nữa. Toà Thiên Chúa và Con Chiên sẽ dựng lên trong thành ấy, các tôi tớ Người sẽ phụng thờ Người. Họ sẽ chiêm ngắm tôn nhan Người, và khắc tên Người trên trán họ. Cũng không còn đêm tối nữa: họ không cần đến ánh sáng đèn đuốc hay ánh sáng mặt trời nữa: vì Chúa là Thiên Chúa sẽ soi sáng cho họ, và họ sẽ thống trị muôn đời.

Thiên thần lại bảo tôi rằng: "Những lời này rất trung trực và chân thật. Chúa là Thiên Chúa thần trí các tiên tri, đã sai thiên thần Người đến chỉ cho các tôi tớ Người biết những sự sắp phải xảy đến. Và đây tôi vội vã tiến đến. Phúc cho kẻ vâng giữ các lời ghi trong sách này".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 94, 1-2. 3-5. 6-7

Ðáp: Ma-ra-na-tha! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến! (1 Cr 16, 22b và Kh 21, 20b)

Xướng: 1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của Ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người. - Ðáp.

2) Vì Chúa là Thiên Chúa cao sang, là Ðại Ðế siêu việt chư chúa tể. Ở nơi tay Người những vực sâu của địa cầu, là của Người những chỏm núi cao. Bể khơi là của Người: vì chính Người tạo tác, và đất khô do tay Người đúc nắn ra. - Ðáp.

3) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lại, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. - Ðáp.

Alleluia: Lc 21, 36

Alleluia, alleluia! - Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể xứng đáng đứng vững trước mặt Con Người. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 21, 34-36

"Các con hãy tỉnh thức, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề bởi chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất. Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!"

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Thứ Bảy cuối Tuần XXXIV Thường Niên cũng là ngày cuối cùng của phụng niên nói chung và của chu kỳ phụng niên năm B nói riêng, Bài Phúc Âm hôm nay chỉ có 3 trong 5 câu cuối cùng ở đoạn 21 Phúc Âm Thánh Luca.

Đúng thế, 2 câu cuối cùng 37 và 38 của đoạn 21 được Thánh ký Luca cho biết về lịch trình cùng nơi chốn sinh hoạt hay giảng dạy của Chúa Giêsu vào những giây phút cuối cùng của Người ở Giêrusalem trước cuộc khổ nạn và tử giá của Người: "Ban ngày Người giảng dạy trong đền thờ, và ban đêm Người rời thành này mà về Núi Cây Dầu. Khi ngày tới thì tất cả mọi người đều đến nghe Người trong đền thờ".

Tuy nhiên, cho dù "Khi ngày tới thì tất cả mọi người đều đến nghe Người trong đền thờ", mà loạt bài giáo huấn cuối cùng ở Giêrusalem của Người, từ bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước cho đến nay, Chúa Giêsu chỉ nói với các môn đệ của Người mà thôi, chứ Người không nói với các vị một cách riêng tư như Người sẽ làm thế khi cử hành Lễ Vượt Qua với các vị trong Bữa Tiệc Ly ở căn thượng lầu riêng biệt giữa Người và các vị, và kể cả trong bài Phúc Âm hôm nay, Người vẫn nói với các vị một cách công khai trước mặt quần chúng và nơi đền thờ Giêrusalem.

Thật vậy, trước ngay 2 câu cuối cùng ở đoạn 24 này, Thánh ký Luca đã ghi lại lời Chúa Giêsu huấn dụ sau hết của Người trong loạt giáo huấn cuối cùng của Người ở Giêrusalem, cho riêng các môn đệ của Người cũng như cho chung dân chúng đang qui tụ lại với các môn đệ của Người để nghe Người bấy giờ. Và lời huấn dụ cuối cùng mà Người muốn nhắn nhủ cho cả hai thành phần nghe Người bấy giờ được thánh ký Luca ghi lại trong bài Phúc Âm hôm nay đó là:

"Các con hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề bởi chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất. Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!"

Trong lời huấn dụ cuối cùng ở Giêrusalem này, Chúa Giêsu khuyên các môn đệ và toàn thể đám đông dân chúng đang lắng nghe Người bấy giờ 2 điều, một có tính cách tránh lánh tiêu cực: "hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề bởi chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất", và một có tính cách áp dụng thực hành tích cực: "hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!"

Về lời khuyên tránh lánh những gì là tiêu cực "hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề bởi chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất" là lời khuyên được Người lập lại theo lời cảnh báo của Người trước kia liên quan đến việc ứng phó của thành phần chứng nhân cuối thời khi thấy thành Giêrusalem bị công hãm thì làm sao phải thoát thân chứ đừng bị kẹt lại mà khốn, như lời Người trong Bài Phúc Âm Thứ Năm tuần này:

"Khốn cho những đàn bà đang mang thai và nuôi con thơ trong những ngày ấy: vì chưng sẽ có sự khốn cực cả thể trong xứ và cơn thịnh nộ trút xuống dân này. Chúng sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, sẽ phải bắt đi làm tôi trong các dân".

Về lời khuyên áp dụng thực hành tích cực "hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!" cũng được Người lập lại những gì Người đã trấn an và phấn khích thành phần chứng nhân cuối thời trong cùng Bài Phúc Âm Thứ Năm tuần này mới hôm kia: "Khi những điều đó bắt đầu xảy đến, các con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi các con đã gần đến".

Vẫn biết vương quốc của ma quỉ, của thần dữ đã bị phá hủy bởi Chúa Kitô khi Người đến trần gian lần thứ nhất, đặc biệt là bằng cuộc Vượt Qua của Người (xem 1Gioan 3:8). Tuy nhiên, khi còn sống trên thế gian này, trong không gian và thời gian, con người dù đã được cứu độ khi lãnh nhận Phép Rửa tái sinh, vẫn sống với một bản tính bị nhiễm lây nguyên tội, nên vẫn phải chịu hậu quả của nguyên tội là khổ đau và chết đi, và vì thế vẫn sống với tất cả các mầm mống tội lỗi là đam mê nhục dục và tính mê nết xấu, và do đó vẫn có thể bị hư đi, nếu không tự "giữ mình" và "luôn tỉnh thức và cầu nguyện".

Kinh nghiệm tu đức cho thấy rõ đúng là như vậy, và chính Phúc Âm cũng đã ghi lại trường hợp điển hình nhất về ba vị tông đồ thân tín nhất của Chúa Kitô ở trong Vườn Cây Dầu vào Đêm Thứ Năm Tuần Thánh với Chúa Giêsu, cả 3 vị đã không thể nào mở mắt thức với Người được lấy 1 giờ đồng hồ trong lúc Người "buồn thảm đến chết đi được" (xem Mathêu 26:36-46), bởi thế mà ba vị tông đồ thân tín này đã cùng với những vị còn lại "tất cả đã bỏ Người mà thoát thân" (Marco 14:50), ngay chính lúc các vị cần phải tỏ ra hiên ngang cương quyết sống chết với Thày của mình!

Bài Phúc Âm cuối cùng cho phụng niên bao giờ cũng là lời Chúa Kitô cảnh giác các môn đệ của Người sau khi Người cho các vị biết về tình hình thời tận cùng của mầu nhiệm cánh chung: "Các con hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề bởi chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất. Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!"

Thời tận cùng của mầu nhiệm cánh chung bao giờ cũng có tính cách tươi mới, hy vọng và tràn đầy sự sống, xẩy ra sau những băng hoại nơi tạo vật nói chung và con người nói riêng, tình trạng càng thuận tiện cho Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất tỏ mình ra tất cả Lòng Thương Xót Chúa của Ngài, một lòng thương xót chẳng những tái sinh mà còn cả sự sống viên mãn nữa, như Sách Khải Huyền trong Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

“Thiên thần Chúa chỉ cho tôi là Gioan, thấy sông nước hằng sống, sáng ngời như thuỷ tinh, từ toà Thiên Chúa và Con Chiên chảy ra. Ở giữa công trường thành phố và hai bên sông, có cây sự sống sinh hoa kết quả mười hai mùa, mỗi tháng một mùa, và lá cây thì dùng cứu chữa các dân ngoại lành đã. Sẽ không còn lời nguyền rủa nào nữa. Toà Thiên Chúa và Con Chiên sẽ dựng lên trong thành ấy, các tôi tớ Người sẽ phụng thờ Người. Họ sẽ chiêm ngắm tôn nhan Người, và khắc tên Người trên trán họ. Cũng không còn đêm tối nữa: họ không cần đến ánh sáng đèn đuốc hay ánh sáng mặt trời nữa: vì Chúa là Thiên Chúa sẽ soi sáng cho họ, và họ sẽ thống trị muôn đời”.

Bài Đáp Ca hôm nay là những lời tán dương chúc tụng vị Thiên Chúa tối cao, nhưng đồng thời Ngài luôn tỏ mình ra “là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người”:

1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của Ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người.

2) Vì Chúa là Thiên Chúa cao sang, là Ðại Ðế siêu việt chư chúa tể. Ở nơi tay Người những vực sâu của địa cầu, là của Người những chỏm núi cao. Bể khơi là của Người: vì chính Người tạo tác, và đất khô do tay Người đúc nắn ra.

3) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lại, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LAY CAC THANH, XIN DOI LAI PDF Print E-mail

LẠY CÁC THÁNH, XIN THƯƠNG ĐÒI LẠI...
Chiều ngày 18-11 vừa qua, tôi dâng lễ riêng cho một gia tộc nhândịp giỗ. Không có nhu cầu mừng lễ trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng tôi được cử hành Thánh lễ Chúa nhật XXXIII thường niên.Đây là Chúa nhật áp cuối của lịch phụng vụ, năm nào các bài đọc cũng giúp suy niệm về ngày Chúa Kitô đến kết thúc lịch sử và phán xét chung nhưng đã ba mươi năm rồi Chúa nhật này bị quên lãng.
Nửa số người tham dự là giới trẻ, tôi bắt đầu phần chia sẻ bằng câu hỏi: Bạn nào giỏi giáo lý kể cho cha nghe “bốn sự sau” là gì? (Không ai trả lời) Bốn sự thật quan trọng cuối cùng ấy mà? (Cũng không ai trả lời).
Trong số cử tọa, có một giáo lý viên khoảng 30 tuổi. Tôi không dám nhờ cô trả lời vì có nguy cơ là chính cô cũng không nắm vững.
Trước năm 1988, tức là trước thời điểm lễ tôn phong 117 hiển thánh chứng nhân đức tin tại Việt Nam, hễ cuối năm phụng vụ là khắp mọi nhà thờ trên toàn cõi Việt Nam đều giảng về viễn ảnh cánh chung: Chúa đến, sự phán xét chung, cuộc sống đời sau, thưởng phạt, thiên đàng và hỏa ngục.
Từ sau năm 1988, Chúa nhật XXXIII thường niên luôn luôn bị trưng dụng để cử hành trọng thể lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.
Ngày trước, trong quyển sách bổn (sách thiên) bài “bốn sự sau” nằm ở giữa sách (trước khi học về luân lý và bí tích), việc học giáo lý hỏi thưa thế nào cũng học qua bài “bốn sự sau”. Nếu như một học sinh giáo lý vì bất cứ lý do nào đó, chưa từng được học về những điều sau hết, về mục đích cuối cùng của đời người, thì đã có phụng vụ lời Chúa của Chúa nhật XXXIII thường niên hằng năm bổ khuyết.
Ngày nay, với cái nhìn giáo lý theo lịch sử cứu độ, nội dung này được học ở cuối những chu kỳ kéo dài hai hoặc ba năm, và luôn nằm ở cuối năm học. Nếu lớp bị cháy chương trình, phần này sẽ bị chạy vội hoặc bỏ qua. Nói chung, học sinh giáo lý ít được đào sâu nội dung này. Có thể nhiều em không nắm được tầm quan trọng và ý nghĩa của ngày tận thế, của việc phán xét chung, xác kẻ chết sống lại. Các em rất dễ rơi vào một quan niệm mơ hồ về đời sau, không khác mấy với quan niệm dân gian Việt Nam, chỉ mới biết sợ luật nhân quả, chưa thấm nhuầnhướng sống Kitô giáo, sống theo đúng mục đích đời người.Xin quý bạn đọc cứ thử “kiểm tra” các học sinh giáo lý quanh mình thì biết.
Đã thiếu lời giáo huấn đều đặn hằng năm của chu kỳ phụng vụ, lại bị bao vây bằng phim ảnh ngoài Kitô giáo tràn ngập, bằng những quan niệm sống duy vật hưởng thụ, các bạn trẻ Công giáo dần dần đánh mất ý thức trách nhiệm trước Thiên Chúa là Đấng phán xét mọi người. Giữa một xã hội suy đồi, các em chẳng những không còn khái niệm về sứ mạng thiêng liêng của người tín hữu, mà lắm khi còn mất cả những lý tưởng cao thượng của một cuộc sống xã hội lành mạnh bình thường. Các bạn trẻ tiếp nhận lý tưởng làm giàu như một lẽ đương nhiên. Thi đại học hoặc đi học nước ngoài đều chỉ nhắm một chuyện duy nhất là khả năng tìm những việc làm sẽ kiếm được nhiều tiền nhất và nhanh nhất. Các em không không có cái nhìn chính xác về mục tiêu cuối cùng của đời người thì làm sao cảm nghiệm được tiếng gọi của Chúa Giêsu đang thiết tha nhắn gửi đến từng người?
Cần phục hồi Chúa nhật XXXIII thường niên để xây dựng lại ý thức cần có, để ý thức này trở thành một trực giác giúp các bạn trẻ mau mắn phân định, biết rõ cái gì hợp ý Chúa, cái gì không, để các em có thể bén nhạy và quả cảm chọn lọc và tiếp thu được những cái hay của thời mới, còn cái dở thì loại bỏ; để các em làm việc gì cũng biết hướng đến mục đích cuối cùng của đời người.
Điều ấy cũng cần thiết cả cho các phụ huynhnữa. Biết bao phụ huynh cao niên đã từng nghe giảng lễ về các thực tại cuối cùng nhiều năm trước năm 1988, thế nhưng sau 30 năm không còn nghe giảng như thế, nay cũng chẳng còn bén nhạy gì về những điều này nữa... Do đó mà chúng ta phải chứng kiến bao cảnh đau lòng: Cả những tín hữu cao niên, khi gặp khó khăn thử thách cũng mất khả năng đứng vững trong định hướng đức tin nhưng dễ dàng chuyển sang đối phó theo kiểu thế gian: bỏ lễ Chúa nhật, bỏ kinh nguyện sáng tối, phá thai, ly dị, xúi con cái ly dị...
Không chỉ có thế, việc xóa sổ Chúa nhật XXXIII thường niên còn ảnh hưởng đáng ngại cà trên cái nhìn của người linh mục. Các bài đọc giờ Kinh Sách cũng như Lời Chúa các thánh lễ ngày thường suốt tuần XXXIII này đều nhắc tới những thực tại cuối cùng, tuy nhiên do không có cơ hội lắng lòng và động não đầu tư cho một bài giảng Chúa nhật, thì ngay cả với linh mục, những điều ấy cũng dần dần bị bốc hơi, trở thành thứ yếu và xa lạ. Quan tâm mục vụ của linh mục dễ hướng về những chuyện khác thay vì tập trung giúp Dân Chúa hướng lòng về điểm hẹn đời đời.
Việccử hành trọng thể lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam lấn chiếm Chúa nhật XXXIII quả đã để lại những thiệt thòi trầm trọng cho Dân Chúa. Người ta tưởng rằng cứ chuyển sang Chúa nhật là sẽ long trọng, hoành tráng hơn. Ngờ đâu, chính việc cử hành vào Chúa nhật lại khiến cho đại lễ này sẽ chẳng bao giờ có cơ may trở thành một lễ hội dân gian đánh động cõi lòng và khắc sâu vào tâm khảm người dân.
Năm 2002, Hội Nhà văn Việt Namquyết định chọn ngày Rằm Tháng Giêng (ngàyNguyên Tiêu) làm Ngày thơ Việt Nam, thế là từ năm 2003 nó bắt đầu trở thành lễ hội.Nhiều chùa chiền xây dựng chỉ mới dăm bảy năm, nay đã có lễ hội hằng năm được nhiềuPhật tử háo hức chào đón. Nhiều Giáo xứ, giáo họ mới thành lập được dăm bảy năm, ngày bổn mạng đã lập tức trở thành một lễ hội rộn ràng, lắm nơi đã định hình đượccả thức ăn đặc thù của ngày hội, nhà nào cũng có bánh tét, bánh ít, bánh in... Tại sao sự hình thành lễ hội có vẻ dễ như thế mà đại lễ các hiển thánh chứng nhân đức tin của ta đã 30 năm rồi vẫn chưa thành niềm rộn ràng tự phát của các gia đình Công giáo Việt Nam?
Lý do đơn giản là vì nó cứ phải bị động chạy theo Chúa nhật XXXIII thường niên chẳng ai tài nào nhớ được. Ngày lễ của bất cứ tổ chức nào vừa nói cũng đều là một ngày cố định, rằm tháng Giêng, 19-3, 24-6 hoặc một Chúa nhật đầu tháng hay cuối tháng nào đó trong năm..., còn Chúa nhật XXXIII thường niên khôngthể là một ngày cố định trong tháng 11, cũng chẳng phải là Chúa nhật thứ ba của tháng 11 - vì nếu lễ Chúa Kitô Vua nhằm ngày 20-11 thì nó sẽ nhằm Chúa nhật trước đó, tức là Chúa nhật thứ hai của tháng 11.
Thực ra các hiển thánh của chúng ta đã có một ngày cố định, ngày 24-11, nhưng số phận thật hẩm hiu, chẳng được ai ngó ngàng tới chỉ vì cuộc lễ đã “bị” cử hành vào một Chúa nhật nào trước đó mất rồi. Ngày 24-11 trở thành ông vua không ngai, chỉ còn là một ngày rất xoàng, không quan trọng bằng một ngày giỗ hay ngày cưới, không đáng cho cuộc sống của bất cứ ai bị quấy rầy, không đáng được ai nghỉ việc để tham gia. Đúng là ta đi sai nước cờ, cứ tưởng rằng “tôn vinh” hóa ra lại thành “hạ bệ”.
Ôi! Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, thế là Năm thánh tôn vinh các Đấng tối mai sẽ lặng lẽ trôi vào quá khứ. Trước kia, lễ mừng các Đấng nhằm ngày 01-9, kéo theo nguyên cả một “Tháng các Thánh Tử Đạo Việt Nam” đủ 30 ngày. Nay tháng 9 đã mất, ngày 24-11 của các Đấng không kèn không trống, còn niềm hy vọng cánh chung của chúng con thì bị chôn vùi. Xin các Thánh hãy đòi lại ngày 24-11 cho mình để nó thành một lễ hội đi vào lòng người, cuốn hút cả tín hữu và lương dân. Còn ngày Chúa nhật XXXIII thường niên thì xin các Đấng đòi lại giúp chúng con, để phụng vụ trả lại cho chúng con thông điệp về các thực tại cuối cùng của lịch sử, để chúng con khỏi bị bốc hơi đức tin chân thật và cao quý mà các Đấng đã đổ máu để minh chứng và truyền lại cho chúng con.Nếu ngày 24-11 trùng vào Chúa nhật thì xin các Đấng vui lòng mừng lễ trước đi một ngày, còn ngày Chúa nhật hãy cứ dành cho Chúa và cho chúng con. Amen.


Lời thưa thêm: Liền trước khi nhắp chuột gửi bài chia sẻ này đến các trang truyền thông Công giáo, tôi nhận được một emailbất ngờ: “Riêng đối với giáo phận Hải Phòng trong lịch vẫn ghi 24/11 là lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam chứ không chuyển vào Chúa nhật”. Thì ra, đề xuất của tôi chẳng phải là chuyện mới, chỉ là một câu hát nghêu ngao gợi nhớ bài ca ai cũng đã biết, khiến nhiều người buột miệng hát theo. Mong sao càng lúc càng thêm nhiều tiếng hát để khắp công trường cùng dậy lên một bản đồng ca rộn rã, bản đồng ca mùa lễ hội.

Qui Nhơn, ngày 23-11-2018
Lm Trăng Thập Tự

--------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 152