mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7893
mod_vvisit_counterHôm Qua6791
mod_vvisit_counterTuần Này25321
mod_vvisit_counterTuần Trước57178
mod_vvisit_counterTháng Này132756
mod_vvisit_counterTháng Trước157742
mod_vvisit_counterTất cả9191063

We have: 158 guests online
Your IP: 54.225.41.203
 , 
Today: Sep 20, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 409 = XET ĐOAN PDF Print E-mail

XÉT ÐOÁN

Kim Vu chuyển

Ðừng tự xét đoán, tự nó đã nói lên phần nào tính chất mơ hồ rồi. Xét đoán được ghép bởi hai động từ khác nhau là xét và đoán. Xét là tìm hiểu. Ðoán là phỏng chừng. Xét thì khó vì phải tìm hiểu hoàn cảnh, phải kiếm nguyên nhân, phải phân tích để có dữ kiện rõ ràng. Ðoán thì dễ hơn, chỉ cần ước lượng là thế, phỏng chừng như vậy. Ðộng từ đoán dựa trên những điều không đủ chắc, không rõ sự thật. Khi nói xét đoán một người thì có phần xét và cũng có phần đoán. Nhiều khi phần đoán lại nhiều hơn phần xét. Sai lầm nẩy sinh từ đó.

Trước khi tìm hiểu Kinh Thánh nói về vần đề xét đoán, tôi muốn nhìn xét đoán trong một yếu tố liên hệ giữa con người trên bình diện tự nhiên. Yếu tố đó là: phức tạp của vấn đề trong việc xét đoán. Có hai thứ phức tạp. Phức tạp nơi đối tượng bị xét đoán, chẳng hạn như hoàn cảnh, lương tâm của khách thể. Và phức tạp nơi chủ thể xét đoán, chẳng hạn như giới hạn tri thức của chủ thể, ảnh hưởng tình cảm của chủ thể khi xét đoán.

Phức tạp nơi đối tượng

"Không ai tắm hai lần trên một dòng sông." Dòng nước chảy. Ðã đi. Sẽ mất mãi. Chẳng ai có được hai lần cái tâm tình lúc tuổi mười tám. Hôm qua đứng bên dòng sông. Hôm nay trở lại. Dòng sông còn đó. Tôi còn đây. Nhưng không phải là tôi của ngày hôm qua. Không phải là dòng sông hôm cũ. Nước hôm qua của dòng sông đã mất. Mây trên bầu trời hôm qua đã tan loãng. Ðâu rồi? Và tôi, tâm tình cũng đã đổi thay. Hôm qua gặp dòng sông thì tâm tình của tôi không thể là nhớ dòng sông được, vì đã xa cách đâu mà nhớ. Hôm nay trở lại, vì có nhớ dòng sông tôi mới tìm đến. Như vậy, trong tôi đã mang chất nhớ nhiều hơn hôm qua. Tất cả đều biến chuyển. Khi xét một vấn đề mà xét trong hoàn cảnh mọi sự đều thay đổi thì khó mà chính xác. Trong tôi có thương, nhưng đồng thời cũng có giận. Tôi ghét đó, nhưng tôi vẫn yêu. Ðâu là ranh giới mà phương pháp khoa học có thể vẽ lằn mức rõ ràng?

Khi xét một vấn đề phải xét trong bối cảnh của nó. Mà hoàn cảnh của mỗi người là một thế giới chằng chịt những phức tạp chi ly. Tôi cũng chưa biết rõ về tôi đủ thì làm sao có thể biết rõ về người? Càng phức tạp thì càng dễ có sai lầm.

Xét một vấn đề lại phải có tiêu chuẩn để xét, nếu không có tiêu chuẩn người ta không thể đi đến kết luận. Hai cộng với hai không phải là ba. Vì tôi đã có tiêu chuẩn hai cộng với hai là bốn. Sống trong tập thể, con người tuân theo tiêu chuẩn của xã hội. Nhưng tiêu chuẩn luân lý sâu thẳm vẫn do chính Chúa trong tiếng nói lương tâm. Câu chuyện người đàn bà ngoại tình trong Phúc Âm nói lên rõ điều này. Với tiêu chuẩn của tập thể mà xét đoán thì bà phải ném đá chết vì những hành động tội lỗi. Nhưng tiêu chuẩn của Chúa lại khác. Trước mặt xã hội bà bị kết án. Trước mặt Chúa bà được thứ tha (Yn 8,1-11). "Ngươi chỉ nhìn thấy trước mắt còn Yavê trông thấy điều ẩn náu trong lòng" (1Sam 7). Chính điều "ẩn náu trong lòng" này là yếu tố quyết định tối hậu cho việc xét đoán thì tôi lại không bao giờ biết được.

Ðiều "ẩn náu trong lòng" là lương tâm. Ðề cập đến lương tâm là đề cập đến vấn đề riêng tư nhất. Ðã là riêng tư thì làm sao tôi biết. Mà không biết thì làm sao tôi định lượng giá trị. Tôi có kinh nghiệm của riêng đời tôi. Lương tâm người khác thì tôi đành chịu. Thí dụ, một người ăn trộm một trăm đồng. Hành động ăn trộm chưa phải là tội. Nếu họ bị khủng bố, cưỡng bách thì sao có thể là tội? Tôi thấy hành động ly dị, ngoại tình. Nhưng nguyên do đưa đến? Mức độ ý chí lương tâm của họ ra sao? Tôi không thể biết. Khi không xét được, không biết đủ sự kiện thì tôi đoán chừng. Có đoán chừng là có sai lạc.

Hành động phạm tội chưa phải là tội cho đến khi có mặt của ý chí và lý trí. Mà mức độ ý chí, khả năng lý trí, lương tâm kẻ khác thì tôi không biết. Như vậy, xét đoán của tôi có thể dựa trên hành động ngoại tại. Mà hành động bên ngoài, tự nó chưa có giá trị quyết định, thì công việc xét đoán của tôi có giá trị không? Làm sao có thể có một giá trị vững chắc khi mà giá trị đó xây dựng trên một nền tảng không có giá trị vững chắc? "Ngươi là ai mà xét đoán gia nhân người khác? Nó đứng hay nó ngã, mặc chủ nó, song nó sẽ đứng vững, vì Chúa có đủ quyền năng cho nó đứng vững" (Rom 14,4).

Phức tạp nơi chủ thể

Cái phức tạp rõ ràng nơi tôi là sự giới hạn tri thức của tôi. Có điều hôm qua nhớ, hôm nay đã quên. Trí tuệ và sự hiểu biết không hoàn hảo thì không bao giờ tôi có một xét đoán hoàn toàn trung thực. Muốn xét đoán đúng, tôi phải biết rõ, thông suốt. Ðiều này chỉ có Chúa mới đủ khả năng mà thôi.

Tôi đã có hình ảnh không đẹp về một linh mục. Gần một năm trời tôi nhìn linh mục với hình ảnh như vậy. Mùa hè năm đó, linh mục mua cây về trồng chung quanh nhà xứ. Việc đào hố trồng cây đã không được tính toán kỹ, nên phải làm đi làm lại nhiều lần. Số tiền trả nhân công quá tốn. Tôi thấy linh mục làm việc không có chương trình, kế hoạch rõ ràng. Số tiền ấy để làm được bao nhiêu việc quan trọng khác? Mùa hè năm sau, trở lại giáo xứ cũ, Chúa đã cho tôi một ân sủng, một kinh nghiệm về xét đoán tha nhân. Ðối với tôi, linh mục đã là người tiêu tiền của nhà xứ không tính toán. Mùa hè lần này, trong lúc nói chuyện với cha già đã về hưu, tôi phàn nàn về việc cha xứ tiêu tiền như vậy. Lúc đó, cha già cắt nghĩa cho tôi hiểu là trong giáo xứ có mấy gia đình nghèo quá không đủ gạo ăn. Cha xứ thì tế nhị không muốn giúp đỡ họ bằng tiền bạc vì họ sẽ mang ơn. Cha đã bày việc để gọi mấy đứa con của họ đến nhà xứ làm, hầu cha xứ lấy cớ trả công cho họ. Hành động quá tế nhị đến nỗi họ không hề biết là cha xứ muốn giúp đỡ gia đình họ. Cha muốn họ nghĩ là tiền lương do công của con họ làm để họ khỏi phải mang ơn ngài.

Nghe xong câu chuyện, tôi thấy như nắng chiều nhạt xuống. Nặng nề trong hồn. Ðó là hình ảnh quá đẹp của một linh mục sống đức tin. Tôi thấy mình đã nhỏ nhoi và tầm thường. Gần một năm trời tôi đã giữ hình ảnh không đẹp về linh mục đó. Bây giờ tôi mới hiểu những việc rất thường mà tiền công thì cha trả rất nhiều. Ðối với tôi, linh mục đã là người không biết tính toán để tốn tiền bạc. Nhưng chính ngài đã tính toán rất cẩn thận để tìm lối giúp đỡ giáo dân của mình. Tình thương bao giờ cũng có sáng kiến.

Nếu tôi đem câu chuyện linh mục tiêu phí tiền bạc của nhà xứ mà nói cho những người khác để họ cũng có hình ảnh xấu về linh mục như vậy thì tội nghiệp cho ngài biết bao. Nếu tôi có nói xấu thì chắc ngài cũng không đính chính việc ngài làm. Những tâm hồn cao thuợng là những tâm hồn dám âm thầm chấp nhận đau đớn cho một lý tưởng. Những tâm hồn nhỏ nhen khi thấy người khác im lặng thường coi đó như một chiến thắng. Những xét đoán sai lầm và nói cho người khác để rồi họ không hiểu đúng về một người, trước mặt Chúa có thể là lỗi rất nặng. Phúc Âm thánh Yoan gọi những xét đoán đó là: "Các ngươi căn cứ vào xác thịt mà xét đoán" (Yn 8,15).

Tôi thiếu tri thức nhận diện dữ kiện để nhìn ra sự thật. Tri thức nào có đủ khả năng để đi vào những chi ly, phức tạp như văn hóa, giáo dục, tập quán, gia đình, tâm lý, sức khỏe của cả chủ thể xét đoán và khách thể bị đoán xét?

Một nghịch cảnh thông thường, nhưng đáng sợ nằm ẩn kín trong tôi đó là tình cảm của mình. Thương ai tôi muốn làm vừa lòng người đó. Tôi nhớ. Tôi mong. Nếu nỗi nhớ càng sâu và nỗi mong càng cao thì những sai lầm mà tôi sẵn sàng làm để chiều lòng người đó càng nặng. Tình cảm có sức ma thuật che mờ lý trí và đẩy ý chí vào hành động cuồng dại. Nó quá nhẹ nhàng nên tôi không nghe tiếng động. Nó quá sắc nên tôi không thấy vết thương. Xét đoán của tôi không sao tránh khỏi "căn cứ vào xác thịt mà xét đoán."

Lạy Chúa, con không thể nhìn thấu suốt tâm hồn tha nhân được, vì thế xét đoán của con bao giờ cũng là xét đoán "căn cứ vào xác thịt." Căn cứ vào xác thịt thì có sai lầm. Khi con xét đoán sai lầm là con gây bất công cho kẻ khác. Xét đoán của con không làm tha nhân ra xấu thêm, nhưng hậu quả của nó là làm con mất bình an. Tâm hồn con không còn thanh thản, tươi sáng nữa, mà vương vấn vì những ý nghĩ đen tối. Con đã tự đem mảnh trời u ám mặc lấy hồn mình.

Từ ý nghĩ xấu về tha nhân sẽ làm con xa tha nhân. Từ chỗ xa cho đến chỗ nói thêm về tha nhân những điều họ không có là một bước rất gần. Từ đó, bức tường ngăn cách cứ thế mà xây cao. Nghi kỵ loang ra như một vềt dầu, làm hoen ố tất cả hồ nước xinh đẹp của cuộc sống. Khi con xây tường cũng ngăn cách chính mình. Thí dụ, Phúc Âm đã thuật lại thái độ của Pharisiêu. "Các người thu thuế cùng những kẻ tội lỗi thường lui tới bên Ngài để nghe Ngài. Và Biệt Phái kêu trách. Họ nói: ông ấy tiếp nhận quân tội lỗi và cùng ăn với chúng" (Lc 15,1-2). Thái độ của những người Pharisiêu luôn luôn là xét đoán. Xét đoán đem đến đối nghịch. Pharisiêu đã tự tách biệt họ ra, nhưng sự tách biệt này lại cô lập chính họ với ân sủng thiêng liêng là chính Chúa.

Phúc Âm dạy về xét đoán

Chỉ có Chúa mới thấu suốt tâm hồn mọi người, nên Chúa Cha đã dành quyền xét xử cho một mình Chúa mà thôi: "Mọi việc xử án ban cho Con" (Yn 5,22). Như thế, khi con phán đoán để xét xử về một người là con giành quyền đó của Chúa. Thánh Yacôbê cũng viết: "Xét đoán anh em là xét đoán Lề Luật. Nếu ngươi xét đoán Lề Luật thì ngươi không còn là kẻ giữ Luật, mà là Thẩm Phán. Chỉ có một Ðấng lập Luật và là Thẩm Phán, Ðấng có quyền cứu rỗi và tiêu diệt. Ngươi là ai mà dám xét đoán đồng loại" (Yc 4,11-12). Con lấy quyền không thuộc về con là con đã tái lập lại tội của Adong, Evà ngày xưa là "muốn trở nên như Thiên Chúa biết cả tốt xấu" (Kn 3,5). Ý nghĩa sâu xa của tội xét đoán là ở đó, chứ không phải chỉ là gây bất công.

Với tiêu chuẩn của xã hội, khi thấy một người sa ngã, xã hội kết án ngay. Kẻ bị kết án thì đau khổ một mình. Nhưng nguyên nhân của sa ngã có thể là do một người khác đã rải gai xuống lối đi của họ. Biết đâu những gai đó đã do chính con gây ra.

Hoàn cảnh, lương tâm của một người là vùng đất vô cùng thánh, con không thể dẵm chân vào được, chỉ có Chúa mà thôi.

Chúa đã căn dặn con trong Phúc Âm thánh Yoan rất chi tiết: "Ta không xét xử ai, và nếu ta có xét xử, thì án của Ta chân thật, vì Ta không chỉ một mình nhưng có Ta và Ðấng đã sai Ta" (Yn 8,15-16). Trong mọi biến cố, Chúa cầu nguyện với Chúa Cha, rồi thi hành ý của Chúa Cha. Riêng việc xét xử, thì chẳng những Chúa xét xử theo ý Chúa Cha, hơn nữa, Chúa không xét xử một mình, mặc dù đã được Chúa Cha trao quyền, mà Chúa lại còn xin Chúa Cha xét xử cùng với mình. Cách cư xử cẩn thận của Chúa làm con lo sợ vì đã bao lần con quá coi thường, xét xử tha nhân.

Thánh Phaolô cũng căn dặn con: "Chính điều ngươi xét đoán kẻ khác, ngươi kết án chính mình ngươi" (Rom 2,1). Và khi con xét đoán người khác là con "khinh thường kho tàng phong phú là lòng nhân từ, kiên nhẫn và quảng đại của Chúa" (Rom 2,4).

- Nếu con cần lòng nhân từ của Chúa đối với con thì tại sao lại khinh thường lòng nhân từ của Chúa với người khác?

- Nếu con cần lòng kiên nhẫn của Chúa để con có thời gian làm lại cuộc đời sau khi lầm lỗi thì tại sao con lại khinh thường lòng kiên nhẫn của Chúa với người khác?

- Nếu con cần lòng quảng đại của Chúa đối với sa ngã của con thì tại sao con lại khinh thường lòng quảng đại của Chúa với người khác?

Lạy Chúa, con cần ơn Chúa rất nhiều để kìm hãm mình khi con muốn xét đoán kẻ khác, vì đây là lời mời gọi cám dỗ rất nguy hiểm, nó đã gây nên biết bao đổ vỡ, xa cách. Một thứ cám dỗ rất nguy hiểm được bao bọc bằng những lý do hết sức tinh vi.

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J – Trích trong "Nước Mắt và Hạnh Phúc"

__._,_.___----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO# 408 =THU BA-CN24TN-A PDF Print E-mail

Phúc Âm: Lc 7, 11-17  -  Thứ ba CN624TN-A

"Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy".

Khi ấy, Chúa Giêsu đến một thành gọi là Naim. Các môn đệ và đám đông dân chúng cùng đi với Người. Khi Người đến gần cửa thành, thì gặp người ta đang khiêng đi chôn người con trai duy nhất của một bà goá kia và có đám đông dân thành đi đưa xác với mẹ nó. Trông thấy bà, Chúa động lòng thương và bảo bà rằng: "Ðừng khóc nữa". Ðoạn tiến lại gần, Người chạm đến quan tài và những người khiêng đứng lại. Bấy giờ Người phán: "Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy". Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Rồi Người trao lại cho mẹ nó.

Mọi người đều sợ hãi và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Một tiên tri cao cả đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã thăm viếng dân Người". Và việc này đã loan truyền danh tiếng Người trong toàn cõi Giuđêa và khắp vùng lân cận.

Ðó là lời Chúa.

Bà mẹ góa đi chôn đứa con trai duy nhất trong tâm trí Chúa Giêsu bấy giờ là ai?

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XXIV Thường Niên hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu tỏ mình ra qua phép lạ Người hồi sinh đứa con trai duy nhất của bà góa thành Nain nhờ đó Người được dân chúng nhận biết:

"Sau đó, Đức Giêsu đi đến thành kia gọi là Nain, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người. Khi Đức Giêsu đến gần cửa thành, thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: 'Bà đừng khóc nữa!' Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giêsu nói: 'Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!' Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ. Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: 'Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người'. Lời này về Đức Giê-su được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận".

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là, bình thường, nhất là theo chiều hưóng của Phúc Âm Nhất Lãm, Chúa Giêsu làm phép lạ khi thấy có đức tin nơi con người ta nói chung và nơi thỉnh nguyện nhân nói riêng. Nhưng ở trong trường hợp của bài Phúc Âm hôm nay, phép lạ hồi sinh Người làm cho cậu con trai của bà mẹ góa hoàn toàn do Người tự ý, chứ bà mẹ của người chết không hề ngỏ ý xin hay tỏ đức tin gì hết.

Xét cho cùng thì dù Chúa Giêsu làm phép lạ khi thấy đức tin nơi con người hay tự làm phép lạ cả hai đều để tỏ mình ra. Theo Phúc Âm của Thánh ký Gioan thì thường Người tỏ mình ra để cho con người nói chung và môn đệ của Người nói riêng tin vào Người. Bởi vì, Người "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12). Mà ánh sáng không chiếu soi không còn là ánh sáng nữa. Bởi thế, Người luôn phải đi bước trước, ở chỗ tự động tỏ mình ra bằng những "dấu lạ / sign" (từ ngữ được Thánh ký Gioan sử dụng thay từ ngữ "phép lạ - micracle" được Phúc Âm Nhất Lãm sử dụng).

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Luca cũng cho thấy trường hợp Chúa Giêsu tự động tỏ mình ra, qua sự kiện Người làm cho đứa con trai duy nhất của người mẹ góa hồi sinh. Thế nhưng, tại sao Người lại tự động làm phép lạ hồi sinh đứa con bà mẹ góa này, nếu không phải, như bài Phúc Âm cho biết: "Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương".

Ở đây, qua câu Phúc Âm này, Thánh ký Luca, một người ngoại trở lại và viết Phúc Âm cho dân ngoại theo chiều hướng của Lòng Thương Xót Chúa, đã ghi nhận được cả tấm lòng đầy cảm thương của Chúa Giêsu như thế, như thể chính ngài đang có mặt vào lúc bấy giờ. Nhưng tại sao khi làm các phép lạ khác vào những lần khác không thấy vị Thánh ký này thêm một câu tương tự như thế: "Trông thấy ... Chúa chạnh lòng thương".

Trông thấy ai? - "Trông thấy bà", chứ không phải trông thấy quan tài của đứa con trai duy nhất của bà, thì Chúa Giêsu cảm thấy thế nào? - "chạnh lòng thương". Tại sao vậy? Thánh ký Luca đã gián tiếp trả lời ở ngay câu trước đó: "mẹ anh ta lại là một bà goá" cũng như câu sau đó Chúa Giêsu trấn an thông cảm với bà, một cử chỉ hiếm quí hầu như Người chưa làm với ai bao giờ: "Bà đừng khóc nữa!"

Phải chăng Chúa Giêsu "trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương" và tỏ ra cử chỉ hết sức đặc biệt với người mẹ góa này bằng lời an ủi trấn an: "Bà đừng khóc nữa!", là vì bấy giờ cảnh tượng người mẹ góa đưa xác đứa con trai duy nhất của bà đã gợi lên nơi Người hình ảnh về Mẹ của Người, người mẹ góa có một người con trai duy nhất là Người, trong tương lai, cũng trải qua hoàn cảnh y như của bà goá thành Nain này, khi Người là con trai duy nhất của Mẹ qua đời ở Sọ Trường trên Đồi Canvê? Nếu đúng như thế thì phép lạ Người hồi sinh cho đứa con ttrai của bà mẹ góa thành Nain này là dấu tiên báo về Người Mẹ Đồng Công của Người trong cuộc Vượt Qua với Người vậy.

(Không ngờ bài Phúc Âm hôm nay, trong chu kỳ phụng vụ Năm B, lại rất thích hợp với Lễ Mẹ Đau Thương 15/9/2015, nếu đọc bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan 19:25-27 về sự kiện Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá của Chúa Giêsu Con Mẹ).

Sự kiện Chúa Kitô là Vị Mục Tử Nhân Lành "chạnh lòng thương", thương từng con chiên của mình, nhất là những con chiên bị thương tích trong tâm hồn, như thương người mẹ góa trước cái chết của người con trai duy nhất trong bài Phúc Âm hôm nay, cần phải trở thành mô phạm trọn lành và tối cao cho thành phần mục tử được Người tuyển chọn làm môn đệ tông đồ của Người cũng như thành phần thừa kế các vị.

Đó là lý do Thánh Phaolô đã căn dặn môn đệ Timôthêu của ngài trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay về điều kiện tối thiểu về thành phần đảm nhận trách nhiệm giám mục và linh mục để thừa kế các tông đồ phục vụ cộng đồng dân Chúa, những điều kiện căn bản (liên quan đến nhân cách, gia đình và uy tín) mà nếu không hội đủ không thể nào phản ảnh một Chúa Kitô "chạnh lòng thương" trong bài Phúc Âm hôm nay. Nguyên văn những gì ngài viết như sau:

Về vai trò giám mục: "Đây là lời đáng tin cậy : ai mong được làm giám quản, người ấy ước muốn một nhiệm vụ cao đẹp. Vậy giám quản phải là người không ai chê trách được, chỉ có một đời vợ, tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, hiếu khách, có khả năng giảng dạy; người ấy không được nghiện rượu, không được hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, không hay gây sự, không ham tiền, biết điều khiển tốt gia đình mình, biết dạy con cái phục tùng cách rất nghiêm chỉnh, vì ai không biết điều khiển gia đình mình, thì làm sao có thể lo cho Hội Thánh của Thiên Chúa được? Người ấy không được là tân tòng, kẻo lên mặt kiêu căng mà bị kết án như ma quỷ. Người ấy còn phải được người ngoài chứng nhận là tốt, kẻo bị sỉ nhục và sa vào cạm bẫy ma quỷ".

Về vai trò linh mục: "Các trợ tá cũng vậy, phải là người đàng hoàng, biết giữ lời hứa, không rượu chè say sưa, không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn; họ phải bảo toàn mầu nhiệm đức tin trong một lương tâm trong sạch. Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được thi hành chức vụ trợ tá, nếu không bị ai khiếu nại... Các trợ tá phải là người chỉ có một đời vợ, biết điều khiển con cái và gia đình cho tốt...".

Bài Đáp Ca hôm nay phản ảnh nội dung của Bài Đọc 1 hôm nay liên quan đến tâm tình, tinh thần và tu đức của thành phần giám mục và linh mục gương mẫu để phục vụ cộng đồng dân Chúa.

1- Lạy Chúa, con xin ca ngợi tình thương và công lý: con đàn hát kính Ngài. Con nguyện chủ tâm theo đường hoàn hảo, bao giờ Ngài mới đến cùng con? Con sẽ sống theo lòng thuần khiết ở trong cửa trong nhà.

2- Việc xấu xa đê tiện, con chẳng để mắt trông. Con ghét kẻ làm điều tà vạy, không để cho dính dáng đến mình.

3- Ai nói chùng nói lén, là con sẽ diệt trừ. Con mắt khinh người, lòng dạ kiêu căng: những bọn đó, không khi nào con chịu.

4- Con để mắt kiếm người hiền trong xứ, cho họ được ở gần. Ai sống đời hoàn hảo, sẽ là người được phục vụ con.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 407= HAY THEO TA PDF Print E-mail

Chúa Giêsu gọi chúng ta đi theo người. "Hãy theo ta."

1/ Cho những ai phụng sự Người, Chúa Giêsu phán: John 12:26, "Ai phụng sự ta, người ấy phải theo ta; ta ở đâu thì những ai phụng sự ta cũng ở đó; ai phụng sự ta thì Cha ta sẽ vinh danh người đó."

2/ Với đoàn chiên của Người cũng vậy, Chúa Giêsu phán: John 10:27, "Chiên ta thì nghe tiếng ta, ta biết chúng, và chúng theo ta."

3/ Còn với các tông đồ thì Người phán: Matthew 16:24, Rồi Chúa Giêsu nói với các môn đệ của người, "Ai muốn đến với ta, người ấy phải từ bỏ chính mình và vác thập tự của mình mà theo ta."

Như vậy, theo Chúa là phương cách hành động trong đời sống đức tin cho hàng giáo sĩ, giáo dân, và cho tất cả những ai muốn phụng sự Thiên Chúa. Thế nhưng chúng ta phải đi theo Chúa như thế nào? Ðiều chắc chắn là muốn đi theo ai thì ta phải đi sau lưng chứ không thể đi trước người mà mình đi theo được. Ði theo Chúa cũng vậy; cũng phải đi sau lưng chứ không thể đi trước Chúa được. Khi đi theo Chúa thì Chúa quẹo bên nào người đi theo Chúa cũng phải quẹo bên đó. Nếu Chúa quẹo trái mà người đi theo bảo không, quẹo phải mới đúng, thì như thế không còn là đi theo nữa. Như vậy, đã đi theo Chúa thì không có chuyện sửa sai, mà cũng không có chuyện canh tân (Reformation). Thêm vào đó, đã đi theo Chúa thì cũng phải theo cho đến cùng. Ði theo Chúa mà nửa đường đổi ý, tách rời ra mà đi theo hướng khác thì cũng không còn là đi theo Chúa nữa. Năm 1517 Martin Luther đã làm như vậy. Là một linh mục, ông đã hiến mình, từ bỏ tất cả để đi theo Chúa, nhưng ông lại bỏ ngang, tách ra thành lập giáo hội Tin Lành đầu tiên. Khi làm như vậy là ông không còn đi theo Chúa nữa vì ông đã tự ý đưa mình lên làm người dẫn đầu. Ai đi theo Martin Luther là theo ông ấy chứ không phải là đi theo Chúa Giêsu. John Calvin cũng thế. Là một luật sư, và là một giáo dân Công Giáo, John Calvin cũng đã đi theo Chúa, và cũng đã bỏ ngang. Năm 1530 John Calvin cắt đứt liên hệ với Giáo Hội Công Giáo, đưa ra giáo thuyết mới là Giáo Thuyết Calvin (Calvinisn). Từ đó ông đã trở thành một nhà thần học cải cách có nhiều ảnh hưởng tại Pháp, và là người dẫn đầu giáo hội của ông. Ai theo Calvanism là theo John Calvin chứ không phải là theo Chúa Giêsu. Giống như Martin Luther và John Calvin, Vua Henry VIII cũng đã theo Chúa và cũng đã nửa đường thay đổi hướng đi. Là một người Công Giáo đạo đức đầy nhiệt huyết, Vua Henry VIII đã được coi như là người bảo vệ đức tin Công Giáo, nhưng vì muốn thoả mãn dục vọng cá nhân, ông cũng đã tách rời Giáo Hội Công Giáo, thành lập Giáo Hội Anh Giáo và tự ý đưa mình lên làm đầu giáo hội của mình. Ai theo Anh Giáo là theo Vua Henry VIII chứ không phải là theo Chúa Giêsu.

Tóm lại, đi theo Chúa Giêsu là đi sau lưng Người, sau lưng Giáo Hội mà Người thành lập; Người đi đâu thì ta đi đó, và nhất là phải đi theo cho tới cùng.

Thân ái kính chào trong Chúa và Mẹ Maria,
Giuse Phạm Văn Tuyến

------------------------------------

 

 
HOC HOI DE SONG DAO # 406 -=NHUNG THACH DO NGUY HIEM PDF Print E-mail

NHỮNG THÁCH ĐỐ VÀ HIỂM NGUY CHO NIỀM TIN CÓ CHÚA NGÀY NAY
Hỏi :
xin cha nói rõ về những nguy hiểm hay thách đó cho niềm tin có Thiên Chúa trong hoàn cảnh thế giới ngày nay..
Trả lời:
Hơn bao giờ hết, Giáo Hội nói chung và người tín hữu Chúa Kitô nói riêng đang phải đương đầu với những thách đố (challenges) của thời đại tiến bộ vượt bực về mặt khoa học, kỹ thuật, điện toán, nhưng lại thụt hậu thê thảm về mặt tinh thần, luân lý, và đạo đức.
Thực vậy, các chủ nghĩa tục hóa ( secularism) chủ nghĩa tương đối (relativism) cùng với chủ nghia hưởng thụ khoái lạc ( Hedonism) và chủ nghĩa duy vật ( materialism) và cộng sản( communism) ngày một bành trướng ở khắp nơi để thách đố những ai còn niềm tin nơi Thiên Chúa là Đấng có thật và vô cùng tốt lành, thánh thiện;, nhưng rất chê ghét mọi tội lỗi, sự dữ, sự độc ác và ô uế, nhơ nhuốc, là những sản phẩm của các chủ nghĩa phi luân vô đạo nói trên.
Nhưng tiếc thay, con người ở khắp mọi nơi lại đang giang tay đón chào và sống theo các tà thuyết tai hại đó để tự lún xâu vào "thảm họa của văn hóa sự chết" như Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô ( nay là Thánh) đã cảnh giác khi Ngài còn cai trị Giáo Hội. Lời cảnh báo của Ngài vẫn còn nguyên giá trị trước thực trạng con người và thế giới ngày nay.
Và đó cũng là lý do tại sao Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đich-tô 16 ( đã về hưu năm 2013) đã kêu gọi Giáo Hội tiến hành "Tái Phúc Âm hóa=Re-evangelization" hay Tân Phúc Âm hóa – New Evangelization để không những đào xâu thêm lời Chúa hầu sống sung mãn với mọi chiều kích của lời ban sự sống mà còn thích nghi việc rao giảng Tin Mừng trong hoàn cảnh thế giới tục hóa, duy vật sa đọa hiện nay. Đức đương kim Giáo hoàng Phanxicô cũng đặc biệt lưu ý Giáo Hội về thực trạng "tôn thờ tiền bạc=cult of money" và dửng dưng đối với người nghèo khó của con người thời đại hôm nay.
Hậu quả trông thấy của các chủ nghĩa vô luân vô đạo nói trên là thể giới ngày một tụt hậu về ý thức luân lý và đạo đức để sống trong hận thù , ghen ghét, chém. giết, và khủng bố, vì người ta thiếu hay mất niềm tin vào một Đấng Tạo Hóa đang điều khiển vũ trụ và số phận của mỗi con người trong trật tự đầy khôn ngoan, công bình và yêu thương..Vì thiếu niềm tin , hay chối bỏ niềm tin này để tự vạch lấy con đường đi riêng cho mình, nên người ta đã mặc sức sống với sự dữ, sự tội trong đời sống cá nhân hay trong cộng đồng xã hội.
Trên bình diện quốc tế, các nước giầu và có võ khí giết người hành loạt ( mass destruction) cấu kết với nhau để chèn ép và khai thác tài nguyên của các nước nghèo.( Mỹ và khối NATO đem quân đánh Lybia, giết Khadafi, vì mỏ dầu béo bở của nước này chứ không phải vì thương gì dân Lybia bị cai trị hà khắc. Đánh và giết Khadafi để độc quyền khai thác dầu hỏa ở đây, nhưng lại làm ngơ, không dám đánh Syria, dù Assad là một nhà độc tài khát máu, đã sát hại hàng chục ngàn thường dân vô tội từ hơn ba năm nay.. Lý do là sợ đụng đầu với Nga và Trung Cộng là hai nước bênh vực cho Assah vì quyền lợi của họ tại Syria..
Mặt khác, Mỹ và Tây Âu vẫn làm ngơ trước những bất công , nghèo đói và sự dữ ở trên thế giới - và cách riêng- ở các nước có chế độ độc tài , độc đảng chà đạp nhân quyền, vơ vét tài sản quốc gia để gửi tiền ra nước ngoài phòng thân, trong khi đàn áp bóc lột người dân vô tội chẳng may rơi vào ánh thống trị độc ác của họ. Cụ thể, nạn giết trẻ nữ ( infanticide) hậu quả của chính sách một con cho mỗi gia đình – (nay đã cho mỗi gia đình có hai con)- ở Trung Hoa lục địa, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em cho bọn hành nghề mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi , nạn buôn người ( human trafficking) để bắt làm nô lệ lao động hay tình dục cùng với nạn sát hại hàng ngàn phụ nữ mỗi năm ở Ân Độ vì họ không có của hồi môn cho nhà chồng !, .. tất cả vẫn là những thực trạng tội ác đáng nghê sợ trong thời đại văn minh ngày nay. Thực trạng này vẫn tiếp tục thách đố lương tâm nhân loại trong khi cộng đồng thế giới thờ ơ hay dửng dưng trước những bất công, bóc lột và tội ác ở khắp nơi trên thế giới hận thù và vô nhân đạo hiện nay
Về phương diện luân lý, đạo đức, thực trạng còn đáng buồn hơn nữa.Chủ nghĩa tương đối ( relativism) cùng với chủ nghĩa hưởng thụ khoái lạc và tục hóa ( hedonism and vulgarism ) đang rao bán những sản phẩm nhơ nhớp và độc hại của chúng để đầu độc giới trẻ và quyến rũ nhiều tín hữu bỏ Đạo, hay coi thường việc thực hành đức tin như tham dự Thánh lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ trọng quanh năm, cầu nguyện chung và đi xưng tội ít là một đôi lần trong năm.
Thống kê ỡ Mỹ và ở các Nước theo Công Giáo ở Âu Châu như Pháp, Đức , Ý ,Tây Bân Nha...cho thấy là đa số giới trẻ không còn siêng năng đi dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật nữa. Ở Mỹ, tình trạng có khả hơn nhưng cũng không được khích lệ như mong muốn.Một thăm dò mới đây của một cơ quan truyền thông cho biết có tới 51 % phần trăm người Công Giáo Mỹ đã tán thành việc kết hôn của những người đồng tính ( same sex mariage) trong khi chỉ có 39 % người Công giáo Mỹ chống lại việc này !! các chinh trị gia Mỹ , như cựu Phó Tông Thống Joe Biden, bà dân biểu Nancy Pelosi, đều là người công giáo.Nhưng đã công khai tán thành việc kết hôn của những cặp đồng tính và ủng hộ việc phá thai, trái với giáo lý của Giáo Hội về việc tôn trọng sự sống của con người , cũng như tôn trọng . truyền thống hôn nhân giữa người nam và người nữ, một định chế hôn nhân mà chính Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho họ: " Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất..." ( St 1: 28)
Nhưng thực tế rất đáng buồn là Nước Mỹ đã cho phép phá thai từ năm 1973, và ngừa thai trái với giáo lý của Giáo hội. Hậu quả là hàng triệu thai đã bị giết mỗi năm ở Mỹ ! Nay lại công khai tán thành việc kết hôn đồng tính, và một số Tiểu Bang đã hợp thức hóa việc vô luân, phản tự nhiên này để chiều lòng những kẻ bệnh hoạn về tâm sinh lý. Đây ;là một ô nhục cho những người tự nhận mình là Kitôhữu ( Christians) nhưng lại chà đạp lên niềm tin của mình và nêu gương xấu cho người khác.Lại nữa, có thể nói : Hoa Kỳ là nước sản xuất phim ảnh, sách báo dâm ô, bạo động và có nhiều sòng bạc nhất thế giới, tạo dịp tội cho quá nhiều người vấp ngã vào hố trụy lạc vì cờ bạc, dâm đãng...
Đây là tội mà Chúa Giêsu xưa đã đặc biệt lên án như sau :
" Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã. Nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ này vấp ngã." ( Lc 17 :1-2)
Dĩ nhiên, không phải chỉ có Hoa Kỳ là nước có nhiều thực trạng phản KitôGiáo. Các quốc gia có truyền thống KitôGiaó lâu đời như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Canada, Mễ Tây Cơ....cũng đầy rẫy những suy thoái về niêm tin có Thiên Chúa là Chủ Tể vũ trụ, là Đấng tạo dựng mọi loài, mọi vật hữu hình và vô hình. Hậu quả của sự suy thoái này là nhiều nhà thờ đã không có giáo dân lui tới cầu nguyện ( ở Canada) đến nỗi phải bán làm nơi kinh doanh hay trở thành bảo tàng viện ( Museum) như Nhà Thờ Đức Bà cổ kính ( Notre Dame de Paris) ở Ba Lê, Pháp Quốc.
Bên kia thái cực , các nước đang bị cai trị đôc đoán bởi cá nhân hay tập đoàn thống trị, chỉ biết vơ vét của cải tiền bạc cho đầy túi tham. Và dửng dưng trước sự nghèo đói của đám dân đen bị trị triên miên, không biết bao giờ mới có hy vọng được thoát khỏi gông cùm của sự dữ , của thể chế vô nhân đạo, phản dân chủ và vô cùng bất công này. Nhưng các nước tự nhận là muốn bảo vệ cho nhân quyền và mọi tự do căn bản của người dân, lại chỉ lên tiếng lấy lệ trong khi vẫn làm ăn buôn bán với các nước độc tài đảng trị, bỏ quên trách nhiệm bênh vực cho tự do, dân chủ và nhân quyền chỉ vì quyền lợi kinh tế của họ.
Ở những quốc gia có chế độ cai trị hà khắc, thì tình trạng xuống cấp về luân lý, đạo đức hiển nhiên là một thực tại không ai chối cãi được, vì kẻ cầm quyền với bản chất vô đạo thì đâu còn quan tâm gì đến việc bảo vệ những giá trị luân lý, đạo đức phổ quát của con người nói chung , là tạo vật có lý trí và lương tri, khác xa loài vật chỉ có bản năng sinh tồn mà thôi.
Khi mà xã hội vắng bóng luân thường đạo lý, hậu quả hiển nhiên của chế độ cai trị , thì sự dữ mặc sức tung hoành với đủ mọi hình thái ghê sợ của xã hội đen như lừa đảo, gian manh, trộm cướp, giết người, hiếp dâm, bất công, bóc lột, buôn bán thân xác của phụ nữ và trẻ em, chà đạp công lý và quyền sống căn bản của con người.
Như vậy, trước thực trạng trên đây ở khắp nơi, khi con người chỉ biết chậy theo những quyến rũ của tiền bạc , của mọi vui thú vô luân vô đạo, của sự dữ. giết hại người khác vì tư lợi, vì thù oán, nhất là vì muốn bảo vệ cho chế độ bóc lột tàn nhẫn vô nhân đạo để làm giầu cho tập đoàn cai trị, thì hiển nhiên đây là những thách đố to lớn cho những ai sống trong đó mà còn có niềm tin Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành., đầy công minh và nhân ái. Đầy công minh nên Người sẽ không thể bỏ qua những sự dữ như bóc lột, bất công, lường đảo, xảo trá và gian ác. Mặt khác, là Đấng trọn tốt trọn lành thì Thiên Chúa cũng không thể chấp nhận những gì là ô uế, là ham mê mọi lạc thú vô luân vô đạo như tội ấu dâm ( child prostitution) tội buôn bán phụ nữ cho kỹ nghệ mãi dâm vô cùng khốn nạn; đặc biệt ở những quốc gia độc tài và nghèo đói, khiến phụ nữ và trẻ em trở thành nạn nhân của những kẻ vô đạo với dã tâm buôn bán họ cho những kẻ no cơm dửng mỡ đi tìm thú vui dâm ô tội lỗi và cực kỳ khốn nạn này.
Như thế, là người có niềm tin Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, chúng ta phải sống cách nào để không những giữ vững đức tin của mình không bị lung lạc , chao đảo vì áp lực của sự dữ dịp tội tràn ngập trong mọi xã hội, mà còn phải nêu gương sáng để lôi kéo lên những ai đã và đang sa xuống vực thẳm của văn hóa sự chết trong môi trường sống của mình.Đây chính là điều Thánh Phaolô đã khuyên bảo tín hữu Phi Lip-Phê xưa như sau:
"..Anh em hãy trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa giữa một thế hệ gian tà, sa đọa.Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ Lời ban sự sống..." ( PL 2: 15-16)
Xã hội sa đọa vì gương xấu đầy rẫy là thách đố cho ta sống công bình , bác ái và trong sạch để nâng cao giá trị cứu rỗi của những nhân đức này. Người đời không tin có Chúa hay tin mà không sống niềm tin ấy nên bỏ Chúa để chạy theo tiền bạc ,danh lợi và mọi thú vui vô luân vô đạo, thì càng thách đố những ai còn niềm tin Chúa Kitô phải có can đảm làm nhân chứng cho Chúa bằng quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi, xa tránh mọi hình thái của "văn hóa sự chết" đang lôi cuốn con người ở khắp nơi vào hố hư mất đời đời.
Hơn thế nữa, chúng ta phải chứng tỏ cho người khác biết rằng thật sự có Thiên Chúa , có sự sống và hạnh phúc vinh cửu. Do đó, phải tìm kiếm thú vui lành mạnh, trong sạch và "hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách , một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời , nơi trộm cắp không bến bảng mối mọt cũng không đục phá.." ( Lc 12 : 33)
Đó là sự khôn ngoan của kẻ có niềm tin Thiên Chúa là nguồn mạch duy nhất của mọi vui thú và giầu sang bất diệt. Nhưng cho được hưởng vinh phúc và giầu sang đó, tức là được cứu rỗi để vào hưởng Thánh Nhan Chúa trên cõi vĩnh hằng, chúng ta hãy suy gẫm và thực hành lời Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa, là " hãy chiến đấu để qua được của hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được." ( Lc 13: 24)
" đi vào cửa hẹp" là khép mình vào khuôn khổ của luân lý, đạo đức, là xa tránh những thói hư tật xấu của người đời không có niềm tin, là có can đảm để lên án những tội ác như phá thai, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm vô cùng khốn nạn; và sau hết, không được a dua ninh bợ kẻ có quyền thế để mong kiếm chút tư lợi hay danh vọng phù phiếm.
Sau hết, phải thực sự sống tinh thần nghèo khó của Phúc Âm để theo gương Chúa Kitô, " Người vốn giầu sang phú quý nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó ví anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giấu có." ( 2 Cor 8: 9)
Phải sống khó nghèo để chống lại nguy cơ lôi cuốn của tiền bạc và hư danh trần thế, hơn bao giờ hết là một thách đố to lớn cho những ai còn niềm tin có Chúa là cội nguồn của mọi phú quí sang giầu đích thực..
Chúa Giê su đã nêu gương khó nghèo từ khi sinh ra trong hang bò lừa cho đến ngày chết trần trụi trên thập giá; và không có nơi an táng, khiến môn đệ phải mượn ngôi mỗ trống của người khác cho Chúa nằm nghỉ trong ba ngày chờ sống lại.
Đó là gương khó nghèo đích thực mà mọi Tông đồ lớn nhỏ và mọi tín hữu trong Giáo Hội phải noi theo để làm nhân chứng cho Chúa trước thế gian ham mê tiền của và mọi danh vọng vui thú chóng qua và hư hèn của trần gian này.
Cách riêng người có trách niệm giảng dạy chân lý và luân lý, phải có can đảm lên án những tụt hậu về luân lý đạo đức trong xã hội mình đang sống và thi hành sứ mệnh phúc âm hóa thế gian. Phải có can đảm như Thánh Gioan-Tẩy Giả xưa đã thẳng thắn lên án vua Hê-rô-đê về tội lấy vợ của anh mình, khiến phải vào tù và bị chặt đầu vì ác tâm báo thù của Herodias, người vợ bất hợp pháp của Hê-rô-dê.(Mt 14: 3-12)
Nếu không có can đảm lên án những bất công xã hội , những tụt hậu về luân lý đạo đức, thì người Tông Đồ lớn nhỏ của Chúa trở thành đồng lõa với kẻ gây ra những bất công và tha hóa đó.
Nghĩa là không thể lấy cớ không làm chính trị, để làm ngơ trước thực trạng vô luân vô đạo của xã hội đang ung thối cần phải cứu chữa để có công bình, nhân đạo và luân lý.. Đây chính là trách nhiệm phúc âm hóa môi trường của Giáo Hội để mang Ánh Sáng Chúa Kitô chiếu rọi vào nơi xình lầy tối tăm ô uế.
Nói khác đi, nếu cứ chạy theo tiền của và danh vọng hư hão chóng qua ở đời này thì sẽ không thể vươn tâm bồn lên tới Chúa là nguồn vui và hạnh phúc đích thực, cũng như không thể quan tâm , thương giúp những người nghèo khó, bất hạnh còn đầy rẫy trong xã hội.ỏ khắp nơi.
Tắt một lời: người công giáo mà chạy theo tiền của, hư danh trần thế , người Tông Đồ của Chúa mà không có can đảm lên án những bất công của chế độ, những tha hóa về luân lý, đạo đức, thì không thể làm nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người đời , trước thế gian chối bỏ Thiên Chúa để lao mình vào những con đường tội lỗi dẫn đến hư mất đời đời..
:Chúa nói "Ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 4: 23; Lc 8:8)
Những người cần nghe trước tiên là các tông đồ lớn nhỏ của Chúa, tức những người được sai đi để làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Chúa. Do đó, , nếu không thực sự sống cái nghèo của Chúa Kitô, Thầy mình, thì .mọi cố gắng phúc âm hóa, tái phúc âm hóa sẽ vô ích, vì người rao giảng không thực thi lời mình giảng dạy, như trống đánh xuôi kèn thổi ngược
.Giáo Hội phải nghèo khó thực sự theo gương Chúa Kitô thì mới hữu hiệu dạy bảo cho tín hữu khinh chê mọi của cải, giầu sang, danh vọng phù phiếm ở đời này, vì " tất cả những thứ đó, dân ngoại trên thế gian vẫn tìm kiếm....Vậy anh em hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa , còn những thứ kia, Người sẽ thêm cho."(Lc 12: 30-31)
Lời Chúa trên đây đang thách đố mỗi người chúng ta phải can đảm thực thi để chứng minh đức tin của mình giữa thế hệ gian tà, giữa bao người chỉ nói mà không làm, giữa bao người cố tình không muốn nghe tiếng nói của lương tâm phản ánh tiếng nói của Chúa trong tâm hồn họ.
Thế gian càng sa đọa, càng tụt hậu về luân lý, đạo đức thì người có niềm tin Thiên Chúa càng phải sống niềm tin ấy cách cụ thể và sống động để không những phân biệt mình với kẻ không có niềm tin, mà còn để lôi kéo những ai đang mê lầm ra khỏi nanh vuốt của ma quỷ và thế gian là nguồn của mọi sự dữ , sự tội nhờ gương sống chứng tá của mình. Đây là thách đố sống đức tin cho mọi tín hữu chúng ta trước những nguy cơ đe dọa đức tin rất nghiêm trọng của thời đại tục hóa tôn thờ vật chất và vui thú vô luân ,vô đạo ngày nay..
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO 407= CN24TN-A PDF Print E-mail

 Chúa Nhật XXIV 17-TN-A

Phúc Âm: Mt 18, 21-35

"Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy".

Khi ấy, Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không?" Chúa Giêsu đáp: "Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.

"Về vấn đề này, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết, người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả". Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y.

"Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc: Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: "Hãy trả nợ cho ta". Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh". Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong.

"Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến vào bảo rằng: "Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?" Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ.

"Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình".

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm

Có thể nói nội dung và ý nghĩa của tất cả phần Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật XXIV Thường Niên Năm A hôm nay ở ngay câu mở đầu cho bài Đọc 2: "không ai trong anh em được sống cho mình, và cũng không ai chết cho mình". Tại sao thế? Tại vì, chúng ta được Thiên Chúa thương xót thì cũng phải thương xót như Ngài, đúng như Lời Chúa Kitô nhắc nhở và khẳng định trong Bài Phúc Âm hôm nay: "Ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?"

Thật vậy, nếu Kitô hữu nhận biết mình là một tạo vật vô cùng hèn hạ và khốn nạn, lại còn tội lỗi đáng bị trừng phạt hơn là được tưởng thưởng, vì họ lập công thì ít lại hiếm mà phạm tội thì nhiều và liên lỉ, và tội lỗi họ phạm đến Thiên Chúa là Đấng vô cùng là một món nợ không thể nào tự mình họ có thể thanh toán nổi và bù đắp cho cân xứng, chẳng khác gì như trường hợp được Chúa Giêsu nhắc đến trong Bài Phúc Âm hôm nay: "một người mắc nợ mười ngàn nén bạc... không có gì trả", cho dù có đánh đổi chính bản thân họ cùng với những gì yêu quí nhất của họ: "bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ", họ cũng không thể trả hết nợ.

Tuy nhiên, theo phép công bằng con nợ vẫn phải làm sao để trả cho bằng được một khi bị chủ nợ đòi, nếu chưa trả nợ được ngay và hết thì ít là xin chủ nợ cho khất nợ, như Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả". Lạ lùng thay, chỉ cần một lời van xin khất nợ như thế, chứ không phải xin tha nợ, mà chủ nợ lại quá bao dung rộng lượng đến độ chẳng những không để cho con nợ khất nợ mà còn tha ngay cho con nợ món nợ kếch sù bất khả thanh toán của con nợ nữa.

Thế mà, tấm lòng vô cùng nhân hậu và bao dung tha thứ của chủ nợ lại trở thành vô giá trị và bất tác dụng nơi con nợ bất khả trả nợ nhưng đã được tha bổng nợ nần ấy. Ở chỗ, con nợ chỉ biết hưởng thụ lòng thương xót của chủ nợ mà không phục vụ là thương xót anh chị em phạm đến họ. Trong khi họ là loài người thì những ai phạm đến họ cũng là loài người như họ cũng chẳng đáng là bao, chỉ đáng "một trăm bạc", so với "mười ngàn nén bạc" mà họ nợ chủ nợ của họ.

Ấy thế mà, con nợ được chủ nợ vô cùng bao dung tha cho đã quá ư là hung bạo "tóm lấy, bóp cổ", đòi phải trả nợ cho hắn ngay lập tức tất cả số nợ nhỏ mọn ấy: "Mày phải trả nợ cho tao", cho dù con nợ đáng thương của hắn cũng tỏ ra cùng một cử chỉ "sấp mình dưới chân và van lơn" và cùng một câu nói giống hệt như hắn đã tỏ ra với vị chủ nợ nhân hậu của hắn: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh".

Trong khi hắn chỉ khất nợ mà được chủ nợ tha hết nợ cho thì đối với con nợ của mình, cho dù cũng xin khất nợ với hắn để từ từ trả cho hắn, chứ không quịt nợ hắn hay xin hắn tha nợ cho, thì hắn lại bất chấp, không chịu, trái lại, hắn còn "bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong". Kitô hữu nào chấp nhất anh chị em mình, thì cũng giam nhốt anh chị em của mình trong lòng mình, bởi thế họ lúc nào cũng mới cảm thấy nặng mình, khó chịu, cho đến khi họ tha thứ cho anh chị em họ, lúc họ, họ nhẹ mình hơn lúc nào hết.

Như thế, những ai nhỏ mọn chấp nhất anh chị em phạm đến mình, không chịu tự động tha cho con nợ của mình, nghĩa là, theo tinh thần của Chúa Kitô, nạn nhân phải làm hòa với phạm nhân, thì chẳng những họ nhốt anh chị em mình trong lòng họ mà còn nhốt chính họ ở trong đó nữa, đúng như lời Chúa Giêsu cảnh báo họ:

"Vậy, vào lúc các con sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em phạm đến các con, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Các con hãy mau mau dàn xếp với đối phương (ám chỉ với con nợ của mình bằng việc làm hòa trước), khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công (ám chỉ khi còn sống, trước khi chết và ra tòa phán xét của Thiên Chúa), kẻo người ấy nộp các con cho quan tòa (ám chỉ cho Lòng Thương Xót Chúa đã thương họ là con nợ tội nhân đã phạm đến Ngài), quan tòa lại giao các con cho thuộc hạ(ám chỉ luật công bằng một khi được Chúa là chủ nợ của mình thương thì cũng phải biết thương con nợ của mình), và các con sẽ bị tống ngục (ám chỉ bị nhốt trong ngục thất của lòng vị kỷ bé mọn hẹp hòi chấp nhất của mình). Thầy bảo thật cho các con biết: các con sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng (ám chỉ việc chủ nợ hoàn toàn tha nợ cho con nợ của mình, không chấp nhất con nợ của mình một tí gì nữa, dù con nợ ấy không xin mình tha cho và đã cố tình xúc phạm đến mình)". (Mathêu 5:23-26).

"Người ấy nộp các con cho quan tòa, quan tòa lại giao các con cho thuộc hạ, và các con sẽ bị tống ngục" quả thực đã xẩy ra đúng như thế, như cho "tên đầy tớ độc ác" trong dụ ngôn được Chúa Kitô nói đến ở phần cuối của Bài Phúc Âm hôm nay. Ở chỗ: tuy con nợ của "tên đầy tớ độc ác" này không trực tiếp đích thân nộp hắn "cho quan tòa", nhưng hoàn cảnh đáng thương của con nợ ấy đã được trình lên chủ nợ của "tên đầy tớ độc ác" ấy biết: "Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện". Nên "tên đầy tớ độc ác" này đã bị chủ nợ là "quan tòa lại giao các con cho thuộc hạ": "Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ".

Ở đây, chúng ta thấy 2 chi tiết cuối cùng hơi khác: 1- trong khi "tên đầy tớ độc ác" "bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong", thì chủ nợ của hắn lại không tống hắn vào ngục, mà chỉ "trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ". Vì Lòng Thương Xót Chúa không giam nhốt ai bao giờ, dù họ xấu xa gian ác mấy chăng nữa, như tấm lòng hẹp hòi chấp nhất của loài người thích giam nhốt các con nợ của mình; 2- Tuy nhiên con nợ bất công ấy lại bị chủ nợ thay vì nhốt vào ngục thì "trao y cho lý hình hành hạ", nghĩa là bắt con nợ "độc ác" ấy bị công lý của Vị Thiên Chúa vô cùng nhân hậu xót thương "hành hạ": "Ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi chứ?"

Trường hợp của "tên đầy tớ độc ác" trong dụ ngôn tha nợ của Bài Phúc Âm hôm nay quả thực đã ứng nghiệm lời Sách Huấn Ca ở Bài Đọc 1 cùng ngày: "Ai muốn báo thù, sẽ bị Chúa báo thù, và Chúa nghiêm trị tội lỗi nó....". Thế nhưng, muốn tha thứ và không báo oán nhau, Sách Huấn Ca đã khuyên dạy như thế này: "Hãy nhớ đến giao ước của Ðấng Tối Cao, và hãy bỏ qua sự lầm lỗi của kẻ khác". Nghĩa là hãy nhớ rằng mình cũng là con nợ và đã được Thiên Chúa thương xót thế nào thì cũng phải thương nhau như vậy, bằng không, chúng ta vẫn con nặng nợ Thiên Chúa nếu chúng ta cứ nằng nặc bắt nợ nhau cho đến cùng: "Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình".

Tại sao con nợ ""độc ác" quá ngu xuẩn dại dột đến như thế, ở chỗ chỉ mất có 100 bạc để đánh đổi chiếm được cả 10 ngàn nén bạc, không chịu, để rồi, chỉ vì lòng tham vô đáy, chẳng những muốn hoan hưởng 10 ngàn bạc khổng lồ mà còn cả 100 bạc nhỏ mọn nữa, nên mới mất cả chì lẫn chài. Phải nói là thảm thương và đáng thương. Nguyên nhân sâu xa chỉ vì con nợ này chưa thật sự cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, được thương nhưng không nên không thấy cái giá trị vô cùng cao quí của Lòng Thương Xót, như cảm nghiệm thần linh về Vị "Chúa là Ðấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân" (Câu Họa Đáp Ca Chúa Nhật này) được Thánh Vịnh gia bày tỏ trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người.

2) Người đã thứ tha cho mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân; Người đội đầu ngươi bằng mão từ bi, ân sủng.

3) Người không chấp tranh triệt để, cũng không đời đời giữ thế căm hờn. Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa theo điều oan trái chúng tôi.

4) Nhưng cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, lòng nhân hậu Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 90