Hoc Hoi De Song Dao
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4412
mod_vvisit_counterHôm Qua6723
mod_vvisit_counterTuần Này34491
mod_vvisit_counterTuần Trước54956
mod_vvisit_counterTháng Này182622
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11147215

We have: 94 guests online
Your IP: 54.225.31.188
 , 
Today: Jun 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM 21-6-2018 PDF Print E-mail

Tinh Cao
To: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it ,CMC-THDC
Bcc: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Jun 20 at 6:02 PM

Thứ Năm

Bài Ðọc I: (Năm II) Hc 48, 1-15 (Hl 1-14)

"Êlia được che khuất trong gió cuốn, và Êlisê được trọn vẹn thần trí của người".

Trích sách Huấn Ca.

Bấy giờ tiên tri Êlia như lửa hồng xuất hiện, lời ông nóng bỏng như ngọn đuốc cháy phừng. Ông đem cho họ một mùa đói khát, và số người ghét ông đã hao đi, vì chúng chẳng giữ được giới răn Chúa. Do lời Chúa phán, ông đóng cửa trời và ba lần khiến lửa trời xuống. Êlia được vinh quang nhờ các việc lạ lùng đã làm, và ai có thể tự hào được vinh quang như người? Bởi lời Chúa là Thiên Chúa, người cứu kẻ chết ra khỏi âm phủ, khỏi quyền sự chết. Người triệt hạ các vua xuống cảnh điêu tàn, bẻ gãy dễ dàng quyền thế của họ, xô kẻ sang trọng rớt khỏi giường nằm. Trên núi Sinai, người đã nghe lời xét xử, và trên núi Horeb, người đã nghe án quyết phục thù. Người xức dầu các vua để báo oán và đặt các tiên tri để nối nghiệp mình. Người đã được cất đi trong bầu lửa, trong xe ngựa kéo đi. Người đã nên dấu chỉ sự đe phạt qua các thời đại, để làm nguôi cơn thịnh nộ Chúa, để giao hoà cha với con, và chấn hưng lại những chi họ Giacóp. Phúc cho những ai đã thấy người, và được hân hạnh thiết nghĩa với người: Vì chúng tôi chỉ được sống trong cuộc sống này, sau giờ chết, danh tiếng của chúng tôi sẽ được như thế. Êlia được che khuất trong gió cuốn, và Êlisê được trọn vẹn thần trí của người. Trong đời người, người không sợ vương tướng, và không quyền lực nào thắng được người, cũng không ai vượt người trong lời nói, và khi người chết rồi, xác người vẫn nói tiên tri. Khi còn sống, người đã làm những phép lạ, và khi đã qua đời, người đã làm những việc kỳ diệu.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 96, 1-2. 3-4. 5-6. 7

Ðáp: Người hiền đức, hãy mừng vui trong Chúa (c. 12a).

Xướng: 1) Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan, hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Mây khói và sương mù bao toả chung quanh, công minh chính trực là nền kê ngai báu. - Ðáp.

2) Một làn lửa đi trước thiên nhan, để đốt những quân đối nghịch chung quanh Chúa. Chớp của Người sáng rực cõi trần, địa cầu xem thấy và run rẩy sợ hãi. - Ðáp.

3) Núi non vỡ lở như mẩu sáp ong trước thiên nhan, trước thiên nhan Chúa tể toàn cõi đất. Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người. - Ðáp.

4) Hãy hổ ngươi tất cả những ai phụng thờ hình ảnh, những ai khoe khoang về thần tượng, bao nhiêu chúa tể hãy cúc cung bái lạy Người. - Ðáp.

Alleluia: Tv 144, 13bc

Alleluia, alleluia! - Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 6, 7-15

"Vậy các ngươi hãy cầu nguyện như thế này".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi cầu nguyện, các con đừng nhiều lời như dân ngoại: họ nghĩ là phải nói nhiều mới được chấp nhận. Ðừng làm như họ, vì Cha các con biết rõ điều các con cần, ngay cả trước khi các con xin. Vậy các con hãy cầu nguyện như thế này:

"Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

"Vì nếu các con có tha thứ cho người ta những lầm lỗi của họ, thì Cha các con, Ðấng ngự trên trời, mới tha thứ cho các con. Nếu các con không tha thứ cho người ta, thì Cha các con cũng chẳng tha thứ lỗi lầm cho các con".

Ðó là lời Chúa.

HOC HOI-CẢM NGHIỆM - SỐNG LỜI CHÚA:

Bài Phúc Âm (Mathêu 6:7-15) cho Thứ Năm Tuần XI Thường Niên hôm nay liên quan đặc biệt đến việc cầu nguyện nói chung và Kinh Lạy Cha nói riêng, hay nói cách khác, liên quan đến cách thức cầu nguyện và mẫu thức cầu nguyện.

Trước hết, về cách thức cầu nguyện, Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện một cách đơn sơ nhưng đầy lòng tin tưởng vào Đấng thấu suốt mọi sự như thế này: "Khi cầu nguyện, các con đừng nhiều lời như dân ngoại: họ nghĩ là phải nói nhiều mới được chấp nhận. Đừng làm như họ, vì Cha các con biết rõ điều các con cần, ngay cả trước khi các con xin".

Sau nữa, về mẫu thức cầu nguyện, Chúa Giêsu đã tóm gọn những gì cần thiết nhất và đáng cầu nhất vào một lời nguyện vẫn được chúng ta gọi là Kinh Lạy Cha: "Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen".

Kinh Lạy Cha là mẫu thức cầu nguyện này bao gồm tất cả đời sống vì Chúa và cho Chúa của chung loài người và của riêng Kitô hữu môn đệ Chúa Kitô, Con Thiên Chúa làm người. Kinh Lạy Cha được cấu tạo nên bởi 2 phần rõ ràng: phần nguyện và phần xin. Phần nguyện trực tiếp đến Chúa là đối tượng chính của kinh nguyện này, và phần xin trực tiếp đến chủ thể đọc lên kinh nguyện này, nhưng vẫn nhắm đến đối tượng chính yếu là Chúa.

Thật vậy, phần nguyện bao gồm 3 ước nguyện thứ tự là: 1- ước nguyện cho danh Cha cả sáng, 2- ước nguyện cho nước Cha được trị đến, và 3- ước nguyện cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Tâm hồn nào quả thực chỉ ước nguyện và thật lòng ước nguyện như thế thì đúng là người con ngoan của Thiên Chúa là "Cha trên trời".

Thế nhưng muốn có một tấm lòng chỉ ước nguyện 3 điều chính yếu trên liên quan đến Sự Sống của Ba Ngôi Thiên Chúa là Cha (Danh Cha - Sự Sống Hằng Hữu), và Con (Nước Cha - Sự Sống Thần Linh) và Thánh Thần (Ý Cha - Sự Sống Thông Ban), con người cần phải cầu xin cho được 3 điều tương xứng với 3 ước nguyện ở phần đầu, thứ tự như sau:

"Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày": đó là xin Cha tỏ cho chúng con biết được những gì Cha muốn, để nhờ đó chúng con có thể chu toàn tất cả những gì Cha muốn nơi chúng con cho "Danh Cha cả sáng", như Chúa Giêsu đã sử dùng lương thực của Người như thế: "Lương thực của Thày là làm theo ý Đấng đã sai Thày và hoàn tất công việc của Ngài" (Gioan 4:34);

"Xin Cha tha nợ chúng con, như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng con": đó là xin Cha cho chúng con biết sống bác ái yêu thương cho "Nước Cha trị đến", như chúng con đã được chính Cha "đã chứng tỏ lòng yêu thương đối với chúng con khi chúng con đang còn là tội nhân" (Rôma 5:8), nơi Con Một của Cha là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã "đến không phải để được hầu hạ mà là hầu hạ và hiến mạng sống mình cho nhiều người" (Mathêu 20:28), trong đó có chúng con.

"Xin Cha chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ": đó là xin Cha cho chúng con luôn luôn biết tuyệt đối trung thành với Ý Muốn vô cùng khôn ngoan và nhân hậu của Cha ở mọi nơi, trong mọi lúc và hết mọi sự, bất chấp mọi chước cám dỗ và thắng vượt tất cả mọi xu hướng bất trung và phản bội, nhờ "Đấng Phù Trợ" được sai đến để "chứng tỏ cho thế gian biết họ sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và về án phạt (xem Gioan 16:8).

Có thể nói cốt lõi của Kinh Lạy Cha là ở ngay tâm điểm của kinh này, tức ở lời nguyện thứ 3 (thuộc phần đầu) và lời cầu thứ 1 (thuộc phần sau). Thật vậy, "danh Cha" không thể "cả sáng" (ước nguyện 1) và "Nước Cha" không thể "trị đến" (ước nguyện 2), nơi chúng ta nếu chúng ta không "ước nguyện cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" (ước nguyện 3).

Và cũng chính vì "ước nguyện cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" mới "xin Cha tha nợ chúng con" (lời cầu 2), tức tha cho những gì chúng ta đã không làm theo ý của Cha, hay làm trái ý Cha, làm phật ý của Cha, và mới "xin Cha đừng để chúng con sa chước cám dỗ nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" (lời cầu 3), nghĩa là xin Cha đừng để cho chúng con bao giờ làm mất lòng cha là sự dữ trên hết mà chúng con cần phải tránh.

Một mẫu gương sống vì Chúa và cho Chúa, sống Kinh Lạy Cha đó là Thánh Tông Đồ Phaolô, như trong bài đọc 1 hôm nay cho thấy (2Corintô 11:1-11), như chính ngài đã bày tỏ: "Trong mọi sự, tôi đã giữ mình không làm phiền lòng ai, sau này, tôi vẫn giữ mình như thế. Đã có sự thật của Đức Kitô trong tôi, nên tôi không để ai giựt khỏi tôi được sự tôi khoe như thế trong khắp miền Akaia. Vì sao thế? Có phải vì tôi không yêu mến anh em chăng? Đã có Thiên Chúa biết".

Một con người sống Kinh Lạy Cha, sống chỉ vì và hoàn toàn cho Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất là Cha của mình, như Mẹ Maria, như Thánh Tông Đồ Phaolô và như các Thánh Tông Đồ, cũng như các Thánh Nhân trong giòng lịch sử Giáo Hội, quả là những kỳ công do Chúa thực hiện chứ không ai có thể tự mình sống được như vậy.

Thánh Vịnh 110 (1-2,3-4,7-8) hôm nay đã ám chỉ ý nghĩa này qua câu Đáp Ca chính "Lạy Chúa, công cuộc tay Chúa làm ra đều chân thật và công chính", cũng như ở 3 câu xướng Đáp Ca như sau:

1) Tôi sẽ ca tụng Chúa hết lòng, trong nhóm hiền nhân và trong Công hội. Vĩ đại thay công cuộc của Chúa tôi, thực đáng cho những người mến yêu quan tâm học hỏi!

2) Công cuộc của Chúa là sự hùng vĩ oai nghiêm, và đức công minh của Ngài muôn đời tồn tại. Chúa đã làm những điều lạ lùng đáng nhớ, Người thực là Đấng nhân hậu từ bi.

3) Công cuộc tay Chúa làm ra đều chân thật và công chính, mọi giới răn của Người đều đáng cậy tin. Những giới răn đó được lập ra cho tới muôn ngàn đời, được ban hành một cách chân thành và đoan chánh.

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THANH GIUSE PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Jun 20 at 2:50 AM
Thánh cả Giuse là vị thánh rất đặc biệt

Trong tất cả các vị thánh, ngoại trừ Đức Trinh-Nữ Maria là Nữ Vương các thánh, thì không có thánh nào sánh kịp với Thánh cả Giuse.
Thánh cả Giuse là vị thánh rất đặc biệt Thánh cả Giuse là vị thánh rất đặc biệt
Thánh cả Giuse được sống bên cạnh Chúa Giêsu, Con của Thiên Chúa; được sống bên cạnh Đức Maria Maria, Mẹ của Con Đức Chúa Trời, trong gia đình thánh thất, là thiên đàng trên trần gian nầy. Thánh cả Giuse được chết trong tay Hai Đấng cao trọng nầy, là Con của Thiên Chúa và Mẹ của Thiên Chúa.

Thánh cả Giuse là vị thánh rất cao sang vì Ngài được làm cha nuôi của Chúa Giêsu. Các thánh tổ phụ, các thánh tiên tri, các thánh nam nữ xưa và nay đều sấp mình thờ lạy Chúa Giêsu, còn Thánh cả Giuse thì nuôi dưỡng Chúa Giêsu, nâng đỡ Chúa Giêsu, lo lắng cho Chúa Giêsu, bồng Chúa Giêsu trên tay, hôn kính Chúa Giêsu, nói chuyện với Chúa Giêsu, cho Chúa Giêsu ăn, cho Chúa Giêsu mặc, bảo vệ Chúa Giêsu khỏi muôn vàn nguy hiểm.

Ý Thiên Chúa quan phòng để cho Thánh cả Giuse làm Cha của Đấng Cứu Thế ở trước mặt người đời. Để thực hiện ý định nầy của Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu luôn vâng lời thánh cả Giuse từng li từng tí, tôn kính Ngài như một người con hết sức hiếu thảo.

Bởi thế, trừ ra chức làm Mẹ Thiên Chúa vô cùng cao sang của Đức Trinh Nữ Maria, thì trên trời dưới đất nầy, không có chức nào cao trọng cho bằng chức làm Cha nuôi của Thánh cả Giuse đối với Chúa Giêsu

Vì Chúa Giêsu chỉ có một mình Đức Mẹ Maria là Mẹ thật, nên Thánh cả Giuse được Thiên Chúa Cha giao cho toàn quyền lo lắng mọi sự cho Con Một mình trên trần gian nầy.

Thánh Giuse rất cao sang vì Ngài được làm bạn rất thanh sạch của Đức Trinh Nữ Maria.

Đối với Đức Trinh Nữ Maria, chức làm Mẹ Thiên Chúa là chức cao trọng vô cùng, thế mà Thánh cả Giuse lại được liên kết mật thiết với Đức Mẹ bằng giây liên lạc hôn nhân theo phép đạo. Khi ban thánh cả Giuse làm bạn rất thanh sạch của Đức Trinh Nữ Maria, Thiên Chúa ban cho Thánh cả Giuse ba điều cao quý : một là, làm người bạn đường lo lắng, giúp đỡ Đức Trinh Nữ Maria ; hai là, làm người chứng nhận sự trinh khiết tuyệt vời của Đức Trinh Nữ Maria ; ba là, ban cho Thánh cả Giuse ơn trọng đại tham gia vào phẩm chức cao cả làm Mẹ Đức Chúa Trời của Đức Trinh Nữ Maria.

Thánh cả Giuse là vị thánh được Giáo Hội tôn kính hết sức đặc biệt :

Giáo Hội dành một tháng trong năm. tháng ba, để kính Thánh cả Giuse. Giáo Hội đặt hai lễ trọng trong năm kính Thánh cả Giuse : Lễ Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm của Đức Maria (ngày 19.3 ) và Lễ Thánh Giuse Thợ ( ngày 01.5 ).

Giáo Hội dành ngày thứ tư trong tuần để kính Thánh cả Giuse. Giáo Hội soạn nhiều kinh đặc biết để cầu nguyện và ca ngợi Thánh cả Giuse như Kinh cầu Ông Thánh Giuse, kinh Thân lạy Ông Thánh Giuse.

Giáo Hội chọn thánh cả Giuse làm Quan Thầy bàu chữa của mình. Khi chọn thánh cả Giuse làm Quan Thầy bàu chữa, Gíao Hội quả quyết rằng : " Ngoài Đức Mẹ ra, thì trên trời dưới đất nầy không tìm được một vị thánh nào có thần thế để bênh vực Giáo Hội cho bằng Thánh cả Giuse." ( ĐGH Piô IX, 08.12.1870).

Thánh Cả Giuse treo cao gương sống thánh thiện cho tất cả chúng ta : Ngài là đấng gồm no mọi nhân đức.

Gương yêu mến Chúa Giêsu trên hết mọi sự : Thánh Cả Giuse là Đấng dưỡng nuôi Con Đức Chúa Trời, là Đấng ân cần gìn giữ Chúa Kitô. Gương hết sức quý chuộng Đức Trinh Nữ Maria : Thánh Cả Giuse là Bạn Đức Mẹ Chúa Chúa Trời, là Đấng thanh sạch giữ gìn Đức Nữ Đồng Trinh.

Guơng trong sạch : Thánh Cả Giuse luôn cầm nhành huệ trắng nơi tay ; Ngài là đấng cực thanh cực tịnh ; ngài là đấng che chở kẻ giữ mình đồng trinh. Gương khôn ngoan theo Lời Chúa dạy : Thánh Cả Giuse cực khôn cực ngoan, được Thiên Chúa dùng để huớng dẫn Con của Ngài và Mẹ của Con Ngài.

Gương đức tin mạnh : Thánh Cả Giuse là Đấng vững vàng mạnh mẽ. Ngài tin tất cả những Lời Chúa do thiên thần truyền, dầu những Lời nầy được truyền ra trong những hoàn cảnh rất khó khăn : " Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy " ( Mát-thêu 1,24 ) ; " Ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-Cập " ( Mát-thêu 2,14 ) ; "Ông liền chỗi dậy, đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Israen " ( Mát-thêu 2,21 ).

Gương vâng lời chóng vánh : Thánh Cả Giuse luôn nhanh chóng tuân theo lệnh Chúa truyền. Ngài là đấng vâng lời mọi đàng, chịu lụy mọi đàng. Gương thành thật : Thánh Cả Giuse là đấng rất ngay chính thật thà. Gương sống đời hiền lành, nhịn nhục : Thánh Cả Giuse là gương nhơn đức nhịn nhục. Gương sống khó nghèo theo tinh thần Tám Mối Phước Thật : Thánh Cả Giuse là đấng yêu chuộng sự khó khăn.

Gương siêng năng làm việc : Thánh Cả Giuse là kiểu thức các tài công noi theo. Gương điều khiển gia đình một cách thánh thiện : Thánh Cả Giuse là đấng cai quản Thánh Gia Thất xưa ; ngài là Đấng làm cho sáng danh gia đạo. Gương sống đời nội tâm, thinh lặng : Thánh Cả Giuse không bao giờ nói ra một lời vô ích, một lời ta thán ; ngài nêu cao gương cho các linh hồn sống đời nội tâm sâu xa.

Gương hy sinh tận tụy : Thánh Cả Giuse lo từng miếng cơm manh áo cho Đức Mẹ và Chúa Giêsu, tuy không giàu sang lòe loẹt gì, nhưng cũng luôn luôn đầy đũ. Ngài bao bọc nuôi dưỡng gia đình bằng mồ hôi nước mắt của mình. Ngài thức khuya dậy sớm lo cho kịp công kịp việc để có tiền nuôi sống gia đình.

Thánh Cả Giuse là đấng đầy quyền thế trước mặt Thiên Chúa.

Ngài che chở kẻ giữ mình đồng trinh, nâng đỡ gia thất chúng ta, an ủi kẻ mắc gian nan. Ngài là nơi trông cậy cho kẻ đau ốm liệt lào. Ngài là bổn mạng kẻ mong sinh thì, kẻ hấp hối, sắp lìa đời. Ngài chiến thắng ma quỷ, làm cho quỷ thần kinh khiếp.Ngài là Quan Thầy bàu chữa Giáo Hội. Thánh cả Giuse thật là một vị thánh siêu phàm, không thiên thần nào sánh kịp, không vị thánh nào so nổi.

Chúng ta hãy nghe những lời đầy trông cậy sau đây của thánh nữ Têrêxa Avila : "Tôi không thể nào quên được rằng cho đến ngày hôm nay, tôi xin Thánh cả Giuse điều gì thì được điều đó, và tôi không thể không lấy làm bỡ ngỡ khi thấy rằng, nhờ Thánh cả Giuse cầu bàu mà Chúa đã ban cho tôi nhiều ơn và đã cứu tôi khỏi những nguy hiểm phần hồn phần xác.

Các thánh khác thì được Chúa ban ơn giúp chúng ta trong một vài trường hợp cần thiết, còn kinh nghiệm cho tôi biết rằng Thánh cả Giuse giúp chúng ta trong tất cả mọi trường hợp, như thể Chúa muốn cho chúng ta hiểu rằng : khi ở dưới thế nầy, Ngài đã vâng lời Thánh cả Giuse vì Thánh Cả Giuse là Cha nuôi mình, thì nay trên trời, Ngài cùng không từ chối Thánh cả Giuse điều gì."

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

-----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LM NGO TON HUAN PDF Print E-mail

CÓ LÝ DO HAY TRƯỜNG HỢP NÀO CHO PHÉP PHÁ THAI, GIẾT NGƯỜI KHÔNG, VÀ KHI NÀO THÌ CHIẾN TRANH ĐƯỢC COI LÀ CHÍNH ĐÁNG PHẢI THI HÀNH ( KHÔNG CÓ TỘI) ?
Hỏi :
xin cha cho biết khi nào thì hành vi sát nhân như phá thai , giết người khác được phép làm; và khi nào chiến tranh có thể được coi là chính đáng, nghĩa là không có tội ?
Trả lời:
Trước khi trả lời câu hỏi này, xin được nói lại về điều răn Thứ Năm của Chúa dạy: " ngươi không được giết người" ( Xh 21: 13) . Không được giết người vì sự sống của con người là linh thánh ( sacred) và hoàn toàn thuộc quyền cai quản của Thiên Chúa. Đây là điều răn Thứ Năm trong Mười Điều Răn Thiên Chúa đã truyền trước tiên cho dân Do Thái, qua ông Môsê, phải tuân giữ để được chúc, hoặc bị luận phạt nếu không thi hành như Chúa truyền dạy.Mườn Điều Răn này vẫn còn nguyên vẹn là giáo huấn quan trọng của Chúa cho người có niềm tin Chúa phải tuân giữ ngày nay để được chúc phúc như Dân Do Thái đã tuân giữ và được chúc phúc ngày xưa.
Nghĩa là Mười Điều Răn này vẫn còn nguyên hiệu lực cho con người nói chung và cho dân Chúa sống trong Giáo Hội nói riêng phải thực hành hôm nay và còn mãi cho đến ngày cánh chung tức là ngày hết thời gian.
Phạm tội nghịch điều răn Thứ Năm chớ giết người có nhiều hình thức :
1- Về mặt thể lý: oán thù đưa đến sát hại người khác bằng võ khí , dao, búa, gậy có tác dụng gây trọng thương hay tử thương cho người khác nhằm mục đích trả thù hay được thuê mướn để giết hại ai. Cũng lỗi phạm điều răn này,những ai bỏ thuốc độc hay tạt át-xit để đầu độc hay gây thương tật cho người khác.Hoặc chế biến đồ ăn với độc chất có hại cho sức khỏe của công chúng chỉ vì mục đích kiếm tiền.
Cũng không được phép uống nhiều rượu , nghiền ma túy và thuôc lá có hại cho sức khỏe .Cũng không được phép say mê tốc độ để lái xe quá nhanh, khiến có thể gây thương tích hay tử vong cho mình và cho người khác trên đường phố, hay ngoài xa lộ. Lại nữa, lái xe vượt đền đỏ khiến xẩy ra tai nạn cho mình và cho người khác cũng là vi phạm điều răn thứ năm đòi hỏi phải tôn trọng mạnh sống của mình và của người khác
Ngoài ra, cũng không được phép chặt cắt ( amputation) bất cứ cơ phận nào của thân thể như mắt , tay chân kể cả việc hiến một bộ phận cơ thể nào( thận, mắt) cho người khác vì mục đích nhân đạo hay nghiên cứu y học.. Đặc biệt không được tự sát ( tự tử ) và giết hại ai vì bất cứ lý do nào. Cũng không được phá thai và giúp người khác phá thai. Ai tham dự vào việc này sẽ tức khắc mắc vạ tuyệt thông tiền kết (x. giáo luật số1398.). cũng không được phép dùng thuôc cho chết em dịu ( Euthanasia) vì phải tôn trong sự sống từ lúc được thụ thai cho đến cái chết tự nhiên ( natural death) trên giường bệnh..(x SGLGHCG số 2288- 2296)
Sau hết, cũng trong mục đích tôn trọng sự sống của con người dựa trên điều răn Thứ Năm, Giáo Hội cũng dạy phải tôn trọng những người sắp chết và cả những người đã chết để chăm sóc cho họ cách xứng đáng như chữa chậy về mặt y khoa, và lo cho họ đươc lãnh nhận bí tích sức dầu và phép lành Tòa Thánh trước khi họ lìa đời. Người chết phải được mai táng theo đúng lễ nghi an táng của Giáo Hội cho phù hợp với niềm tin xác con người ngày sau sẽ sống lại.như Giáo Hội dạy sau đây:
"Mai táng người chết là công việc của lòng thương xót đối với thân thể con người , là con cái Thiên Chúa và là đền thờ của Chúa Thánh Thần." . ( Sđd ,số 2300).
Do đó, không được thiêu xác ( cremation) rồi lấy tro đem rải ra ngoài sông hay biển, như những người không có niềm tin đang làm. Người Công giáo ngày nay được phép thiêu xác, nhưng phải tin xác người chế, dù được hòa tan trong lòngn đất hay ra tro bui khi hỏa thiêu, thì sẽ sống lại nhờ quyền năng của Thiên Chúa, nên sau khi hỏa thiêu , phải cất giữ tro xác hỏa thiêu ở nơi xứng đáng cho con cháu anh em thăm viếng và cầu nguyện cho, như ra thăm viếng các mộ phần ngoài nghĩa trang.
2- Về mặt tinh thần: vu cáo, bôi xấu làm mất thanh danh của người khác và làm cớ cho người khác phạm tội như sản xuất , buôn bán các sách báo phim ảnh khiêu dâm, đồi trụy và bạo động khiến cho người lớn và trẻ em bị lôi kéo vào hố sa đọa vì hậu quả việc làm của mình. Chúa Giê-su đã lên án hành vi làm gương xấu cho người khác vấp phạm như sau :
" Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã. Nhưng khốn cho kẻ làm cho người khác vấp ngã ! thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn này vấp ngã." ( Lc 17: 1-2)
Làm cớ cho người ta vấp ngã hay phạm tội là mở sòng bài bạc , nhà điếm, tổ chức những chỗ ăn chơi sa đọa cho người lớn và thanh thiếu niên, buôn bán phụ nữ và trẻ em để cung cấp cho bọn bất lương tìm thú vui dâm ô và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi.Nếu không có những kẻ làm các nghề đốn mạt nói trên thì đã cứu được biết bao người khỏi sa vào hố tội lỗi đưa đến hư mất đời đời.( Sdd, số 2284-2286)
Vì thế, là người có niềm tin Thiên Chúa, tất cả được mời gọi phải tránh xa những dịp tội nói trên cho mình và cho người khác trong tinh thần tôn trọng và thi hành điều răn Thứ Năm để không giết hại ai về thể lý cũng như tinh thần.
Tuy nhiên, Giáo Hội cũng không ngăn cấm quyền tự vệ chính đáng nhằm bảo vệ sinh mạng , danh dự và tài sản của mình chống lại kẻ muốn làm hại mang sống và xâm phạm tài sản của mình.
Cụ thể, mình không được phép giết hại ai thì cũng không ai được phép giết mình vì bất cứ lý do nào.Nhưng nếu có kẻ muốn hại mạng sống mình như cầm súng hay dao để bắn hay đâm chém mình, thì mình có quyền tự vệ để bảo toàn mạng sống của mình, chống lại kẻ muốn giết hại mình cách vô cớ. Giáo Hội dạy như sau về quyền tự vệ chống lại kẻ muốn sát hại mình:
" Yêu bản thân là nguyên lý nền tảng của luân lý.Vậy ta có quyền bắt kẻ khác tôn trọng quyền sống của ta. Ai bảo vệ sự sống của mình sẽ không mắc tội sát nhân, dù có vì thế mà phải đánh cho kẻ tấn công mình bằng một đòn chí tử." ( Sđd số 2264)
Cụ thể , nếu có kẻ cầm súng hay dao lăm le muốn tấn công mình, thì buộc mình phải chống lại bằng bất cứ phương tiện nào để tự vệ và bảo toàn mạng sống của mình cho dù việc tự vệ này có gây tử thương cho kẻ tấn công.Việc gây tử thương cho kẻ tấn công chỉ là hậu quả tất nhiên của quyền tự vệ chính đáng , chứ không phải là chủ đích muốn sát hại người khác.
Nói khác đi, mình không được phép giết hại ai, nhưng cũng không ai có quyền giết mình hay người thân của mình.Không được tự sát hay tự tử vì bất cưa lý do nào.
Nếu kẻ gian đột nhập gia cư của ai và có súng đe dọa chủ nhà thì chủ nhà có quyền chống lại kẻ gian bằng bất cứ phương tiện nào mình có kể cả hạ sát kẻ muốn tấn công, nếu mình có súng trong nhà. Cũng vậy , một phụ nữ bị tấn công về tình dục, có quyền bảo vệ thân thể của mình bằng bất cứ phương tiện nào cho dù việc chống cự này có gây tử thương cho kẻ tấn công mình.
Trong những trường hợp này, việc giết người không phải là chủ đích mà chủ đích là để tự vệ, nhằm bảo vệ mạng sống và thân thể mình chống lại kẻ muốn làm hại mình cách vô cớ.Và nếu việc tự vệ này có gây tử thương cho kẻ tấn công thì đây không phải là tội cố sát ( murder) xét theo luật pháp và luân lý.Nghĩa là không có tội nghịch điểu răn Thứ Năm.
Cũng vậy, chiến tranh là một sự dữ ( evil) to lớn về mặt luân lý vì hậu quả gây chết chóc cho thường dân vô tội cũng như tàn phá tài sản của quốc gia bị tấn công.Vì thế, chiến tranh là sự dữ phải tránh vì nó hoàn toàn vô nhân đạo và vô luân, và không thể biện minh được vì bất cứ lý do nào.
Nhưng nếu kẻ gây chiến bất chấp công lý và luân lý để đem quân tấn công một quốc gia khác, thì quốc gia này hoàn toàn có quyền tự vệ để chống lại kẻ xâm lăng bằng bất cứ phương tiện nào mình có. Trong trường hợp này, cấm súng chống lại kẻ xâm lăng là bổn phận của mọi người dân và là trách nhiệm của nhà cầm quyền quốc gia bị xâm lăng. Và giết kẻ xâm lăng thì không có tội gì, vì đây là quyền tự vệ chính đáng chống lại kẻ vô cớ muốn giết hại dân mình để cướp đoạt đất đai hay tài sản của quốc gia mình.
Trong hoản cảnh thế giới đầy tội ác hiện nay, quân khủng bố và cuồng tín tôn giáo (ISIS) đang giết hại biết bao người dân vô tội, không có phương tiện chống lại chúng, cho nên cộng đồng thế giới phải mau kíp có biện pháp tích cực để ngăn chặn bọn khủng bố sát nhân này. Nếu cần tiêu diệt chúng bằng vũ lực thì việc này cũng không phải là hành vi sát nhân mà chỉ là biện pháp tích cực để bảo vệ cho những nạn nhân vô tội đang bị chúng bách hại và giết hại cách vô luân vô đạo mà thôi.
3- có được phép phá thai trong trường hợp nào không?
Phá thai là hành vi giết người dù người đây chỉ là một bào thai trong lòng người mẹ.Bào thai này dù mới được thụ thai (conception) một hai tháng thì cũng là mầm sống của con người nên không được phép hủy diệt vì bất cứ lý do nào.
Người ta đã nại lý do bị hãm hiếp (rape) hay kết quả của hành vi loạn luân ( incest) nghĩa là kết quả của sự giao cấu giữa những phần tử trong cùng huyết tộc như cha mẹ và con cái hay giữa anh chị em ruột trong gia đình. Đây là lý do mà luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới cho phép phá thai để bảo vệ danh dự của phụ nữ mang thai cách không chính đáng. Dầu vậy, Giáo Hội cũng không cho phép phá thai trong những trường hợp này vì lý do phải bảo vệ sự sống con người trong mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, khi tôn trọng sự sống dù phụ nữ bị hãm hiếp hay vì loan luân, Giáo Hội không khuyến khích hay làm ngơ những hành vi này mà vẫn lên án hành vi hãm hiếp và loạn luân , nhưng không vì thế mà cho phép phá thai vị bị hãm hiếp hay loạn luân Phải tôn trọng sự sống dù chỉ là một phôi sinh ( embryo) hay một bào thai ( fetus) hậu quả của hành vi hiếp dâm hay loạn luân.
Như thế,khi một người nữ biết mình có thai vì bị hãm hiếp hay vì loạn luân, thì vẫn không được phép phá thai vì những lý do này. Do đó, ai phá phai hoặc giúp người khác phá thai có kết quả thì đều bị vạ tuyệt thông tiền kết ( excommunitio Latae Sententiae ( x giáo luật số 1398) Vạ này trước đây chỉ dành cho Đức Thánh Cha quyền tháo gỡ. Nhưng nay Đức Thánh Cha đương kim Phanxicô đã cho phép các linh mục trên toàn thế giới được tha vạ này.
Tóm lại, Điều Răn Thứ Năm cấm giết người bao gồm các trường hợp tự sát, hay tự tử, phá thai, giết người khác vì thù oán hay được thuê mướn để giết hại ai, chiến tranh và khủng bố ( terrorism) là những sự dữ phải tránh vì nó gây thương vong cho người dân vô tội và thiệt hại tài sản cho quốc gia bị xâm lăng, phá hoại. Do đó, cầm súng để chống lại quân xâm lăng, và tiêu diệt quân khủng bố là việc làm chính đáng phải làm và không có tội gì, vì mục đích ở đây là để bảo vệ cho sinh mạng của dân chúng và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia bị xâm lược.Kẻ xâm lăng và khủng bố mới là kẻ phạm tội tội sát nhân, cướp của cách phi pháp và đáng bị trừng phạt thích đáng theo công lý và luân lý.
Ước mong những giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN11TN-B PDF Print E-mail

HỌC HỎI-CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ: Chúa Nhật 11 Quanh Năm Năm B

Bài Ðọc I: Ed 17, 22-24

"Ta hạ thấp cây cao và nâng cao cây thấp".

Trích sách ngôn sứ Êdêkien.

Ðức Chúa là Chúa Thượng phán như sau:

Từ ngọn cây, từ ngọn hương bá cao chót vót, Ta sẽ lấy, sẽ ngắt một chồi non; chính Ta sẽ trồng nó trên đỉnh núi cao vòi vọi. Ta sẽ trồng nó trên núi cao của Ít-ra-en.

Nó sẽ trổ cành và kết trái thành một cây hương bá huy hoàng. Muông chim đến nương mình bên nó, và ẩn thân dưới bóng lá cành. Tất cả cây cối ngoài đồng ruộng sẽ nhận biết chính Ta là Ðức Chúa.

Ta hạ thấp cây cao và nâng cao cây thấp, Ta làm cho cây xanh tươi phải khô héo và cây khô héo được xanh tươi.

Chính Ta là Ðức Chúa, Ta đã phán là Ta thực hiện.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 91, 2-3.13-14.15-16

Ðáp: Lạy Chúa, hạnh phúc thay được tạ ơn Ngài (c. 2a).

Xướng: 1) Thú vị thay được tạ ơn Chúa, được mừng hát danh Ngài, lạy Ðâng Tối Cao, được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya. - Ðáp.

2) Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-băng được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa Ta. - Ðáp.

3) Già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn, để loan truyền rằng: Chúa thực là ngay thẳng, là núi đá cho tôi ẩn náu, nơi Người chẳng có chút bất công. - Ðáp.

Bài Ðọc II: 2Cr 5,6-10

"Dù còn ở trong thân xác, hoặc đã lìa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Chúa".

Thưa anh em, chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa... Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa. Nhưng, dù còn ở trong thân xác hoặc đã lìa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người. Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước tòa Ðức Ki-tô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Lc 19, 38

Alleluia, alleluia! - Hạt giống là lời Thiên Chúa, người gieo giống là Ðức Ki-tô. Ai tuân giữa lời Người, sẽ muôn đời tồn tại. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 4,26-34

"Tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều".

Khi ấy, Ðức Giêsu nói với dân chúng dụ ngôn này: "Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Ðêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Ðất tự động sinh hoa kết quả: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng là thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm ra gặt, vì đã đến mùa."

Rồi Người lại nói: "Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại nhỏ nhất trong các hạt giống trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng."

Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà giảng lời cho họ, tùy theo mức họ có thể nghe. Người không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn. Nhưng khi có thầy trò với nhau, thì Người giải nghĩa hết.

Ðó là lời Chúa.

Đức Tin Sự Sống

Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật Thường Niên XI B tiếp tục chiều hướng "sự sống" từ Mùa Phục Sinh, nơi bài Phúc Âm theo Thánh Marco (4:26-34), bài đọc 1 theo Sách Tiên Tri Êzêkiên (17:22-24), bài đọc 2 theo Thư 2 Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Côrintô (5:6-10) và cả bài Đáp Ca trích Thánh Vịnh (91: 2-3,13-14,15-16).

Thật vậy, chiều hướng sự sống ở trong bài Phúc Âm được chất chứa nơi hai dụ ngôn Chúa Giêsu dạy về Nước Trời, một liên quan đến "đất" và một liên quan đến "hạt cải".

Sở dĩ "đất" liên quan đến "sự sống" là vì nó là yếu tố ngoại tại, yếu tố về môi sinh bất khả thiếu cho mầm mống sự sống ở nơi "hạt giống" được Chúa Giêsu nói đến trong dụ ngôn thứ nhất. Bởi thế, chính Người là Đấng gieo "hạt giống" mạc khải thần linh "dù thức hay ngủ", nghĩa là không cần biết, cũng nắm chắc được việc đâm chồi nẩy sinh và phát triển của "hạt giống".

"Nước Thiên Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa".

Vì "đất" bẩm sinh đã được ban cho khả năng thích ứng vào việc phụ giúp "hạt giống" cũng là việc phụ giúp cho chính việc nẩy mầm và phát triển của "sự sống": "Đất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt. Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".

"Đất" đây ám chỉ nhân tính của con người là nơi để đón nhận mạc khải thần linh. Thế nhưng, dù là một trong hai yếu tố bất khả thiếu và bất khả phân ly với "hạt giống", "đất" vẫn không phải là yếu tố chính, yếu tố quan trọng nhất. Bởi nó được dựng nên như là một phương tiện cho "sự sống", như thân xác đối với linh hồn vậy, và "đất" ám chỉ thế gian nói chung và cá nhân con người nói riêng, nhờ liên hệ với hạt giống, được phát triển và vươn cao theo tầm vóc của hạt giống, một tầm vóc nó không thể nào có nếu không có hạt giống ở nơi nó.

Đó là lý do Chúa Giêsu đã nói ngay đến dụ ngôn thứ hai, dụ ngôn về "hạt cải", yếu tố chính yếu và then chốt của sự sống, một yếu tố ám chỉ chẳng những mạc khải thần linh mà còn ám chỉ đức tin nữa. Mà đức tin là những gì siêu nhiên, vượt trên tự nhiên, giác quan, tình cảm và lý trí của con người vốn là những gì không thể với tới, nên không lạ gì "hạt cải" được Chúa Giêsu ví như "hạt nhỏ nhất trong các hạt giống": "Nước đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất".

Tuy nhiên, trong đời sống siêu nhiên, càng nhỏ lại càng lớn, càng nhỏ mới càng lớn. Nếu "Nước Thiên Chúa" ám chỉ mạc khải thần linh, thì "hạt cải" đây ám chỉ chinh Chúa Giêsu Kitô, một thứ hạt "nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất", ở chỗ Nhập Thể và Vượt Qua: "Tuy thân phận là Thiên Chúa nhưng Người vẫn không tự coi mình cứ phải ngang hành với Thiên Chúa mới được, trái lại, Người đã hóa ra như không, mặc lấy thân phận tôi đòi... đã vâng lời cho đến chết cho dù có phải chết trên thập tự giá" (Philiphê 2:6-8).

Chính vì "hạt cải" Giêsu Kitô quá ư là nhỏ bé như vậy, đến độ loài người không nhìn thấy, không nhận biết Người là ai, nên đã ra tay sát hại Người, chà đạp Người dưới chân của họ, mà "hạt cải" thần linh này, như hạt lúa miến mục nát đi trong lòng đất (xem Gioan 12:24), để rồi nhờ đó, như dụ ngôn trong bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, đã "mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được", đúng như cảm nhận đầy xác tín được Thánh Phaolô tuyên xưng rằng: "Bởi thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu. Để khi nghe tên Giêsu thì mọi sự trên trời dưới đất và trong lòng đất phải bái gối mà tung hô vinh quang Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu Kitô là Chúa" (Philiphê 2:9-11).

Ý nghĩa của dụ ngôn liên quan đến sự kiện hạt cải nhỏ nhất "mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được" còn có thể hiểu về Giáo Hội Chúa Kitô là Nhiệm Thể của Người, nhờ Người mà "mọc lên thành cây rau lớn nhất" cả về phẩm lẫn lượng so với các tôn giáo chính yếu trong lịch sử thế giới, một Kitô giáo được chính Chúa Kitô thiết lập (xem Mathêu 16:16), mà càng bị bách hại liên tục trong lịch sử loại người ở khắp nơi trên thế giới lại càng phát triển, đến độ "đâm những cành to"có thể ám chỉ các Giáo Hội địa phương hay các vị thánh trong lịch sử Giáo Hội, những Giáo Hội hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ luôn là bí tích cứu độ trần gian, thành một nơi an toàn cho phần rỗi cho "chim trời có thể tới núp bóng được".

Dụ ngôn Chúa Giêsu sánh ví Nước Thiên Chúa hạt cải trong bài Phúc Âm hôm nay ám chỉ Giáo Hội của Người phát triển trong giòng lịch sử của loài người cũng đã được Tiên Tri Êzêkiên loan báo ở bài đọc thứ nhất hôm nay liên quan đến cây hương bá như sau: "Ta sẽ trồng nó trên đỉnh núi Israel, nó sẽ đâm chồi, kết quả, và trở thành cây hương nam vĩ đại; các thứ chim trời đều đến ẩn náu dưới thân cây và làm tổ dưới tàn nó".

Thế nhưng, "cây hương nam vĩ đại" được Thiên Chúa hứa "trồng trên đỉnh núi Israel" đây từ là gì, nếu không phải là chính Đức Giêsu Kitô Thiên Sai! Thật vậy, "cây hương nam vĩ đại" này xuất phát "từ ngọn cây, từ ngọn hương bá cao chót vót", như câu đầu bài Đọc I hôm nay cho biết. Nếu "cây hương bá cao chót vót" đây ám chỉ đức tin của tổ phụ Abraham thì ngọn đây của d8ức tin tổ phụ này chính là Đức Giêsu Kitô miêu duệ của ông, một ngôi vị thần linh miêu duệ sẽ được sai đến với dân Do Thái nói riêng cũng như với nhân loại nói chung như chính Ngài đã hứa với vị tổ phụ này, một lời hứa được ám chỉ là "đỉnh núi Israel", nhờ Người mà cả dân Do Thái lẫn dân ngoại sẽ được cứu độ khỏi tội lỗi và sự chết, được ám chỉ nơi hình ảnh "các thứ chim trời đều đến ẩn náu dưới thân cây và làm tổ dưới tàn nó", nghĩa là Người "đã trở thành nguồn mạch cứu độ cho những ai tín phục vào Người" (Do Thái 5:9).

Đúng thế, ơn cứu độ của Chúa Giêsu Kitô theo nguyên tắc là ban cho chung nhân loại khi Người hoàn tất cuộc Vượt Qua nơi chính bản thân mình. Thế nhưng, chỉ những ai tín phục Người mới được hưởng ơn cứu độ của Người mà thôi (xem cả Gioan 1:12). Bởi vậy mà trong Bài Đọc 2 hôm nay, trong Thư 2 gửi giáo đoàn Corintô, vị tông đồ dân ngoại Phaolô đã xác tín rằng: "chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa", một đức tin còn được chàng thanh niên Saulê đã từng nhiệt thành với Do Thái giáo trước kia dẫn giải thêm về việc áp dụng thực hành đó là: "dù còn ở trong thân xác hoặc đã lìa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người". Vâng, sống đức tin chính là sống ước muốn đẹp lòng Thiên Chúa vậy.

Tóm lại, sự sống, như nội dung bài Phúc Âm hôm nay bao gồm 2 dụ ngôn liên hệ với nhau cho thấy, chẳng những liên quan đến "hạt cải" chất chứa chính sự sống, đến đức tin cứu độ, mà còn liên quan đến "đất" là môi trường con người cho sự sống nẩy sinh và phát triển, nên bài Đáp Ca (nhất là câu 2 và 3) được Giáo Hội chọn đọc còn liên quan đến cả vế của nhân loại, thành phần cần phải biết chấp nhận và đáp ứng mạc khải thần linh được tỏ ra cho họ như hạt giống gieo vào trần gian của họ nói chung và gieo vào lòng họ nói riêng, nhờ đó, chính họ được nên công chính và thánh đức:

2) Người hiền đức như cây chà là nở hoa tươi tốt, vươn mình lên như cây hương bá đất Liban. Họ được vun trồng trong nhà Chúa, trong hành lang nhà Thiên Chúa chúng tôi họ nở bông.

3) Ngay trong tuổi già họ còn sinh trái, họ đầy nhựa sống và họ sống xanh tươi, để họ loan truyền Chúa nhường bao công chính, Chúa là Đá Tảng của tôi, nơi Chúa chẳng có gian tà!

Chính vì Kitô hữu đã được lãnh nhận sự sống thần linh khi lãnh nhận Phép Rửa, một sự sống đã như "hạt" giống thần linh gieo vào mảnh "đất" nhân tính của họ mà họ đã được Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai hôm nay khuyến dụ và kêu gọi sống đức tin như sau:

"Anh em thân mến, chúng ta hằng bạo dạn, vì biết rằng bao lâu sống trong thân xác này, là chúng ta lưu lạc xa Chúa, vì chưng nhờ đức tin, chứ không phải vì đã thấy, mà chúng ta tiến bước".

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - NHUNG KHAC BIET KITO GIAO PDF Print E-mail

ĐÂU LÀ NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH ?

Hỏi:
Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời:
như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa
là Anh Giáo ( Anglican Comm) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh
chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 6 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu năm 2012) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm qua (2016) là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thông Nga tại Mexico, nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vi lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó.Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh em.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I năm 1966.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo khi cần..

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: các Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (permanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã ch đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).
Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism)nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia.Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính và phương thức hành đạo.

Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ:
"không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình
Là bí tích hòa giải mà các giám mục và linh mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kito ( in persona Christi).
,
Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh., Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương.. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô
kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ
của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện (Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.
Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kito nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường ( Martin Luther, John Calvin..Henry XIII) chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19) và " Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phê rô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển" như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã nhìn nhận. ( x. LG. số 8). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh giáo đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah, thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (comm) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma coi sóc và lãnh đạo với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops).
Ươc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 133