mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6342
mod_vvisit_counterHôm Qua9059
mod_vvisit_counterTuần Này42343
mod_vvisit_counterTuần Trước65202
mod_vvisit_counterTháng Này167115
mod_vvisit_counterTháng Trước278668
mod_vvisit_counterTất cả13270946

We have: 93 guests, 1 members online
Your IP: 18.215.159.156
 , 
Today: Apr 18, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

GIUĐA CÓ ĐƯỢC CỨU RỖI HAY PHẢI PHẠT ĐỜI ĐỜI ?
Hỏi:
Nhân Tuần Thánh, tưởng niệm sự đau khổ, sự chết và sống lại của Chúa Kitô,
xin cha giải đáp hai câu hỏi sau đây:
1- Giuda có được cứu rỗi hay không ?
2- Phải chăng Đức Mẹ đã được Thiên Chúa ban ơn cứu độ trước khi làm Mẹ Chúa Giêsu .?
Trả lời :
1-Về câu hỏi thứ nhất, xin được trả lời như sau :
Nói đến Giuđa thì trước hết, đây là điển hình cho loại người quá đam mê tiền của đến quên tinh quên ân nghĩa và phản bội. Đây cũng là gương xấu to lớn phải tránh cho mọi người có niềm tin nơi Chúa là Đấng đầy lòng thương xót , công bình và hay tha thứ. Người thương xót và hay tha thứ, nhưng chúng ta phải tin tưởng và chậy đến xin Người thứ tha cho dù tội lỗi đến đâu. Chí có một tội không thể tha thứ được : đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần , tức là tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và không còn tin tưởng gì nơi lòng thương xót của Người nữa. Đó là điều Chúa Giêsu đã nói rõ với các tông đồ trong Tin Mừng như sau:
“ Tôi bảo thật cho anh em : mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng , và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời. “ ( Mc 3: 28-29)
Nói rõ hơn, nhờ Chúa Thánh Thần soi mở lòng trí để giúp ta nhận biết và tin có Thiên Chúa là Cha nhân lành , đầy lòng xót thương và hay tha thứ . Nên khi hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và tình thương tha thứ của Người , thì người ta phạm đến Chúa Thánh Thần là Đấng đã giúp con người tin và yêu mến Thiên Chúa.Như thế, nếu Giuđa quả thực hết tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa đến nỗi đi thắt cổ tự tử thì có thể Giuđa đã phạm tội mà Chúa Giêsu nói trên đây. Nhưng điều này chỉ có một mình Thiên Chúa biết và phán đoán Giuđa chiếu theo lòng khoan dung vô lượng và công minh tuyệt đối của Người. Nghĩa là chúng ta không thể căn cứ vào sự kiện bề ngoài để đưa ra một phán đoán nào, vì chúng ta hoàn toàn không biết được Giuđa có thực sự mất hết tin tưởng nơi lòng thương xót tha thứ của Chúa, hay trong một phút trước khi chết, anh ta đã kịp ăn năn hối lỗi và được tha thứ như người trộm lành ?
Điều này chỉ một mình Chúa biết mà thôi.Do đó, Giáo Hội cũng không dám đưa ra một phán đoán chắc chắn nào về số phận đời đời của Giuđa.Nếu Giáo Hội mà không dám kết luận chắc chắn về phần rỗi của Giuđa thì chúng ta dựa vào đâu mà dám nghĩ rằng Giuđa đã sa hỏa ngục hay được cứu rỗi ?
Cũng vậy, đối với những người tự tử chết ngày nay, Giáo Hội vẫn cho phép cử hành lễ an táng cũng như cho chôn xác trong nghĩa trang công giáo, một điều không được phép làm trước Công Đồng Vaticanô II . Sở dĩ trước đây Giáo Hội cấm cử hành tang lễ cho người tự tử chết vì Giáo Hội lên án hành vi xấu này chứ không vì phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi nên không còn ích gì để cầu nguyện cho ai đã tự hủy hoại đời mình vì bất cứ lý do nào.
Như vậy, ta không nên phán đoán gì về trường hợp của Giuđa cũng như về những người đã tự tử chết, mặc dù đó là gương xấu và cũng là tội trọng phải tránh. Giuđa có tội rất lớn là đã tham tiền và cam tâm phản bội Chúa khi bán Người lấy 30 đồng bạc của bọn Thượng Tế Do Thái. Không ai có thể biện minh cho việc phản bội, tham tiền và thất vọng đi tự tử của Giuđa.
Chính Chúa Giêsu cũng lên án việc phản bội của Giuđa như sau :
“ Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người : thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn !” ( Mc 14: 21)
Lại nữa trong lời cầu cùng Chúa Cha trước đêm bị trao nộp , Chúa Giêsu cũng than trách về Giuđa như sau :
“Khi còn ở với họ, con đã giữ gìn họ
Trong danh Cha mà Cha đã ban cho con
Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất
Trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời kinh Thánh.” ( Ga 17: 12)
Đứa con “ hư hỏng” vì đã phản bội chứ không có nghĩa là đã sa hỏa ngục. Nhưng việc Chúa phải chịu khổ hình và chết trên thập giá lại khác : không phải vì Giuđa phản bội, mà vì Chúa Giêsu muốn thi hành thánh ý Chúa Cha muốn Người hy sinh để đền tội cho cả loài người như Thánh Phaolô đã dạy:
“ Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thẩy chúng ta.” ( Rm 8:32)
Thánh Phêrô cũng quả quyết thêm như sau:
“ Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi. Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.” ( 1 Pr 3 :18)
Cũng chính vì vâng ý Chúa Cha để chiu khổ hình thập giá và chết thay cho kẻ có tội là mọi người chúng ta, nên trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu đã phó linh hồn cho Chúa Cha với những lời thống thiết như sau :
“ Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.Nói xong Người tắt thở.” ( Lc 23:46)
Lời cầu xin phó linh hồn trên đây của Chúa Giêsu đã được tiên báo trước trong Thánh Vinh 131:
Trước khi Chúa đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha:
“ Trong tay Ngài con xin phó linh hồn con.” ( Tv 131: 6)
Như thế, chứng tỏ Chúa Giêsu đã biết trước việc Người sẽ chết để đền tội cho nhân loại, đúng như Người đã nói với các môn đệ trong khi còn đi rao giảng Tin Mừng với họ:
“ Này chúng ta lên Jerusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người. Họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại. “ (Mc 10:33-34),
Do đó, không thể nói rằng nếu Giuđa không phản bội thì Chúa đã không chết.
Sự thật phải tin là Chúa Giêsu đến trần gian làm Con Người để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, trong Chương Trình Cứu Độ nhân loại của Chúa Cha, như ngôn sứ Isaia đã loan báo từ 8 thế kỷ trước khi Chúa Giêsu sinh xuống trần gian :
“ Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn
Giơ má cho người ta giật râu
Tôi không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.” ( Is 50: 6)
Hoặc :
“ Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội
Bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm
Người đã chịu sửa trị để cho chúng ta được bình an
Đã mang lấy thương tích cho chúng ta được chữa lành. “ ( Is 53 :5)

Như vậy, đủ cho thấy rõ là Chúa Cha đã dự liệu những khổ hình mà Chúa Kitô sẽ phải chịu để cứu chuộc cho nhân loại khỏi bị án phạt vì tội. Người chính là “ Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” như Gioan Tiền Hô đã tuyên xưng một ngày kia. Chúa Giêsu cũng đã xác nhận những điều đã được tiên báo về Người trong đêm bị nộp khi Chúa quở mắng Phêrô vì đã chém. đứt tai một đầy tớ của Thượng tế Do Thái:
“ Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ?”( Mt 26: 53-54)
Hay rõ hơn nữa , khi Chúa bảo Phêrô “ Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ? “ ( Ga 18: 11)
Chén đắng đây chính là việc Người bị trao nộp, bị đánh đập, nhạo báng, phỉ nhổ và cuối cùng bị đóng đanh và chết trên thập giá.Như vậy, tuyệt đối không có vấn đề giả sử Giuđa đừng phản bội thì Chúa đã không phải chết. Đây là chén đắng Chúa Cha đã định liệu cho Người uống để chuộc tội cho nhân loại trong chương trình cứu độ của Chúa Cha
Và Chúa Kitô đã vui lòng uống “ chén đắng” đó khi Người không kêu cứu Chúa Cha sai đạo binh thiên thần đến giải thoát cho Người khỏi bị bắt và điệu đi hành hình.
Dầu vậy, Giuđa vẫn có lỗi lớn là đã bán Chúa lấy 30 đồng bạc của các thượng tế và kỳ mục Do Thái. Và vì không ngờ việc bán Thầy lại trùng hợp với việc Chúa Giêsu vâng ý Chúa Cha để vui lòng chiu tử nạn, nên y đã quá thất vọng đi tự tử, tức là phạm thêm một tội trọng nữa là tự hủy hoại mang sống mình. Nhưng như đã nói ở trên, ta không biết được Giuđa có còn kịp sám hối trước khi chết hay không, nên không thể kết luận được gì về phần rỗi của y. Việc này Chỉ có Chúa biết mà thôi.
2- Đức Mẹ được cứu chuộc trước khi Chúa Kitô ra đời ?
Có thể nói vắn gọn là điều này không đúng, vì bằng chứng Kinh Thánh sau đây :
a- “ Chỉ có một Thiên Chúa
Chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người
Đó là một con người : Đức Kitô- Giêsu
Đấng đã tự hiến làm giá chuộc cho mọi người.” ( 1 Tm 2 : 5-6)
b-
“ Ngoài Người ( Đức Kitô) ra, không ai đem lại ơn cứu độ vì dưới gầm trời này
Không có một danh nào khác đã ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào
Danh đó mà được cứu độ.” (Cvtđ 4: 12)
Đức Trinh Nữ Maria được diễm phúc không mắc tội tổ tông và mọi tội khác, được trọn đời đồng trinh dù đã sinh Chúa Giêsu với quyền năng của Chúa Thánh Thần, cũng như được về trời cả hồn xác.Nghĩa là Mẹ không phải trải qua cái chết trong thân xác như mọi con người sinh ra trong trần thế này. Hơn thế nữa, Mẹ còn được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) vì là Mẹ thật của Chúa Giêsu, cũng là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Thiên Chúa ( The Holy Trinity).
Nhưng dù với địa vị cao trọng làm vậy, Mẹ cũng không cùng bản thể với Thiên Chúa hay cao hơn Chúa, là Đấng được tôn thờ ở mức Latria trong khi Mẹ được tôn kính đặc biệt ở mức Hyperdulia, các Thánh Nam Nữ khác ở mức Dulia trong phụng vụ thánh của Giáo Hội. Đó là những điều chúng ta cần biết, tin và thực hành như Giáo Hội dạy.
Mặt khác, nói về ơn cứu độ, chính Mẹ Maria đã nói khi đến thăm bà Ê-liza-bet như sau :
“ Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi ( My Savior) ( Mangnificat :47)
Như thế Đức Mẹ cũng nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu-Kitô,Con của Mẹ là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Chúa đã hoàn tất công nghiệp cứu chuộc này qua khổ hình thập giá, chết và sống lại như Giáo Hội dạy.
Nhưng Giáo Hội chưa hề dạy rằng Mẹ Maria đã được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Thiên Chúa trước khi làm Mẹ Ngôi Hai. Thiên Chúa có Chương Trình cứu chuộc loài ngoài, và đã nhờ Chúa Kitô thi hành Chương Trình này và Chúa đã hoàn tất Công Trình đó qua khổ nạn thập giá, chết , sống lại và lên trời . Đó là nội dung Mầu Nhiệm Vượt qua ( Paschal Mystery) của Chúa Kitô mà Giáo Hội cử hành mỗi năm trong Tuần Thánh với cao điểm là Lễ Phục Sinh, tuyên xưng Chúa Kitô đã sống lại sau khi phải chiu khổ nạn và thực sự chết trên thập giá và được mai táng 3 ngày trong Mồ đá.
Như thế, trước khi Chúa Kitô hoàn tất Chương Trình cứu độ của Chúa Cha qua Mầu Nhiệm Vượt qua thì công nghiệp cứu chuộc đó chưa có để ban phát cho ai, -dù là riêng cho Mẹ Maria- vì Chúa Giêsu chưa “uống chén đắng” mà Chúa Cha muốn trao cho Người.
Chính vì ơn cứu độ chưa sẵn có, nên những người lành thánh chết từ bao đời trước khi Chúa Giêsu hoàn tất công nghiệp cứu chuộc của Người , thì đều phải ở nơi gọi là “Ngục tổ tông=Abode of the Dead” đợi chờ Chúa “ đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm” ở đây. Vì thế, sau khi Chúa chết trên thập giá, Người đã xuống nơi này với tư cách là Đấng Cứu Thế để loan báo Tin mừng cứu độ cho họ và dẫn đưa họ vào Thiên Đàng ( x.1 Pr 3: 19; SGLGHCG số 632)
Do đó, không thể nói rằng Chúa Cha đã ban ơn cứu độ riêng cho Mẹ Maria, Người đầy ơn phúc., vì đã sinh Con Chúa Trời và cộng tác tích cực vào việc thi hành Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Chúa Giêsu-Kitô.Nghĩa là mọi người - kể cả Đức trinh Nữ Maria- dù vẹn toàn vì không mắc tội tổ tông và mọi tội cá nhân- đều phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô để vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa là hạnh phúc của các Thánh và các Thiên Thần. Lý do là chỉ có một mình Chúa Kitô là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người trong việc cứu độ nhân loại như lời Kinh Thánh trích trên đây.Cho nên, khi Người chưa hoàn tất công cuộc cứu chuộc loài người qua Hy Tế Thập giá, thì ơn cứu độ đó chưa sẵn có để ban cho ai.Vả lại, nếu ơn đó đã sẵn có, thì Chúa Kitô đã không cần phải đến trần gian “để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người” (Mt 20:28) và trở thành Đấng Cứu Chuộc duy nhất cho nhân loại ( Human Savior).
Đó là tất cả những điều người tín hữu Chúa Kitô phải tin và thực hành để hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo là Mẹ, thay mặt Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình không sai lầm những gì thuộc phạm vị đức tin và luân lý. Amen Alleluia ! Alleluia!
Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

-----------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

SUY NIỆM MÙA CHAY NĂM 2019
TẠI SAO CON NGƯỜI PHẢI CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA ĐỂ ĐƯỢC CỨU ĐỘ ?

Nói đến ơn cứu độ là nói đến tình thương,tha thứ vô hạn của Thiên Chúa ,” Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý “ ( 1 Tm 2:4) như Thánh Phaolô đã quả quyết.


Lịch sử cứu độ và Kinh Thánh cho ta biết có sự kiện nguyên tổ loài người là Adam và Eva đã ăn trái Thiên Chúa cấm trong vườn Địa Đàng.Thiên Chúa đã nói với họ rằng :
“ hết mọi trái cây trong vườn ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn , chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” ( St 2: 16-17)
Cái chết mà Thiên Chúa nói trên không phải là cái chết về phần xác, mà là cái chết của linh hồn vì sẽ phải lìa xa Chúa đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục.Chính vì hiểu theo nghĩa đen,và muốn phỉnh gạt Eva, nên con rắn đã nói với bà như sau:
“ Không có chết chóc gì đâu.Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện ác,” ( St 3: 4-5)
Hậu quả túc khắc là sau khi hai ông bà ăn trái cấm đó, thì mắt họ mở ra và thấy mình trần truồng, nên phải lấy lá cây che thân và không dám ra gặp Thiên Chúa như mọi ngày khi ông bà không biết xấu hổ vì mình trần truồng, nên cứ vui vẻ dạo chơi với Chúa trong vườn đia đàng.
Sự xấu hổ của Adam và Eva sau khi ăn trái cấm đã cho thấy là họ đã mất tình trạng ân phúc gọi là sự “ngây thơ hay công chính ban đầu Origional innocence and Justice”, một tình trạng ơn phúc đặc biệt đã giữ cho họ được đứng vững trước mọi sa ngã vì tội. Nhưng họ đã phạm tội vì đã sử dụng ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và tôn trọng cho họ được sử dụng.
Chúa Kitô xuống trần gian để cứu chuộc cho con người khỏi chết vì tội, nhưng Chúa không trả lại cho con người tình trạng ngây thơ công chính ban đầu đó, cho nên con người vẫn hoàn toàn yếu đuối và dễ sa ngã sau khi được tái sinh qua Phép Rửa.
Về điểm này, Giáo lý của Giáo Hội cũng dạy rằng: “ Tuy nhiên,nơi mọi người đã được rửa tội, một số những hậu quả của tội lỗi vẫn còn tồn tại , như những đau khổ , bệnh tật, sự chết, hoặc những yếu đuối gắn liền với sự sống như những yếu đuối về tình tình...nhất là sự hướng chiều về tội lỗi mà Truyền thống gọi là tình dục, và theo ẩn dụ, được gọi là “ lò phát sinh ra tội ( fomes percati) được để đó cho chúng ta phải chiến đấu với nó...” ( x SGLGHCG số 1264)
Chính vì những yếu đuối còn để lại trong bản chất con người cộng với ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng, nên con người xưa và nay dễ sa phạm rất nhiều tội, dù đã được một lần tha thứ hết mọi tội cá nhân và tội Nguyên tổ qua Phép rửa.
Như thế Phép Rửa cũng không bảo đảm cho con người khỏi sa ngã vì tội.
Kinh nghiệm bản thân của mỗi người chúng ta cho thấy là chúng ta luôn sống trong sự giằng co giữa sự thiện và sự dữ, giữa xấu và tốt, giữa mời gọi bước đi theo Chúa để được sống vĩnh cửu hay,ngược lại, khước từ Chúa để sống theo ma quỷ và thế gian khiến mất hy vọng được cứu rỗi và phải chết đời đời vì tội.
Chính vì hậu quả nói trên của Tội Nguyên tổ mà con người xa xưa trong thời cựu ước đã phạm nhiều tội nghiêm trọng khiến Thiên Chúa đã hai lần phải đánh phạt con người cách nhãn tiền.
Lần thứ nhất xẩy ra trong thời ông Nô-E, một tôi tớ sống đẹp lòng Chúa , nên Chúa đã sai ông đóng một con tầu để chở gia đình ông và mọi sinh vật được ông mang lên con tầu này.Thiên Chúa đã phán bảo ông như sau:
“ Ta đã quyết đinh giờ tận số của xác phàm, vì tại chúng mà mặt đất đầy bạo lực : này Ta sắp tiêu diệt chúng cùng với đất.” ( St 5: 13).
Thiên Chúa muốn tiêu diệt mọi người trên mặt đất- trừ gia đình ông No-E và các sinh vật ,mỗi loại 2 con mà ông Noe đã mang lên tầu để thoát nạn đại hông thủy (deluge). Sở dĩ Thiên Chúa đã bất đắc dĩ phải làm như vậy, vi “ trên mặt đất sự gian ác của con người quả là nhiều , và suốt ngày lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu.” ( St 5: 5)
Vì thể, để trừng phạt con người, Thiên Chúa đã cho mưa từ trời cao tuôn đổ xuống trên khắp địa cầu trong suốt 40 đêm ngày, và đã cuốn vào lòng đại dương tất cả người và mọi sinh vật , trừ gia đình ông No E và các sinh vật được ông đem lên tầu trước khi mưa đổ xuống.( x St 6-7)
Đây là lần đánh phạt nặng nề nhất của Thiên Chúa đối với những người đã phạm nhiều tội mà không hề biết ăn năn từ bỏ. Sau lần đánh phạt cả thể này, Thiên Chúa lại phải đánh phạt dân ở hai thánh Sô-dôm và Gômora trong thời ông Abraham, một người công chính sống đẹp lòng Chúa vì đã dám hy sinh con mình là Isaac để chứng mình lòng tin yêu phi thường của ông đối với Thiên Chúa.
Dân hai thành Sôdôm và Gômora bị đánh phạt vì ĐỨC CHÚA phán: “ tiếng kêu trách Sôdôm và Gômora quá lớn ! tội lỗi của chúng quá nặng nề. Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không..” ( St 18: 20-21)
Thiên Chúa đã cho Ông Abraham biết ý đinh của Người, nên ông đã nài van Chúa tha chết cho họ, nếu ông tìm được 50 người lành, hay chỉ được 45 người , rồi 30 người hoặc chỉ được 20 và cuối cùng là 10 người thôi, thì Chúa có vì mấy người lành này mà tha chết cho cả dân các thành tội lỗi đó không. Chúa đồng ý tha, nhưng ông Abraham cuối cùng đã không tìm được người công chính nào hết, nên đã phải ngậm ngùi rời khỏi thành Sôdôm cùng với gia đình trước khi lửa từ trời xuống thiêu rụi các thành tội lỗi đó.( x St 19)
Hai sự kiện đánh phạt nói trên xảy ra trong thời cựu ước đã cho thấy là dù Thiên Chúa là tình yêu, khoan dung và hay tha thứ, nhưng nếu con người cứ làm sự dữ, cứ phạm tội mà không biết ăn năn sám hối chừa bỏ, thì Thiên Chúa sẽ đánh phạt cách nhãn tiền như ta thấy đã sảy ra trong thời các ông No-E và Abraham nói trên.
Chúa đánh phạt vì Người chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ , vì nó xúc phạm nặng nề đến bản chất tốt lành và thánh thiện của Người.
Nhưng vì đâu có sự tội và sự dữ ?
Thánh Phaolô đã trả lời là : “ vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội đã gây nên sự chết; như thế , sự chết đã lan tràn tới hết mọi người , bởi vì mọi người đã phạm tội.” ( Rm 5: 12)
Người duy nhất đã phạm tội đó là Adam, người đã cùng vợ là Eva ăn trái cấm ,trái lệnh Thiên Chúa nên đã đem sự tội vào thế gian và gây nên sự chết cho cả loài người. Sự sa ngã của Adam và Eva đã đưa đến hậu quả trước tiên là họ đã đánh mất tình trạng ơn phúc ,gọi là sự ngây thơ, công chính ban đầu= Origional Innocence and justice mà họ đã được hưởng trước khi phạm tội, như đã nói ở trên.
Hậu quả của sự mất ơn phúc đặc biệt này khiến Adam và Eva trở nên yếu đuối hoàn toàn trong bản tính, -và do đó- dễ sa phạm tội hơn trước ngày họ ăn trái cấm. Sự yếu đuối này cũng di truyền đến hết mọi người, giống hệt như hậu quả của tội Nguyên Tổ khiến tội và sự chết xâm nhập trần gian và lan ra đến hết mọi người trong nhân loại như Thánh Phaolô đã dạy.
Nghĩa là, con người ,từ sau ngày Nguyên Tổ phạm tội, đã phạm thêm những tội cá nhân như gian dối, gian manh, mê tín dị đoan, hận thù, nghen ghét, dâm ô, hiếp dâm, ngoại tình,trộm cướp, giết người, giết thai nhi, bất công, bóc lột , bỏ vạ cáo gian, chiến tranh, khủng bố, thay chồng đổi vợ, buôn bán phụ nữ ,bắt cóc trẻ nữ để bán cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng thế giới vô luân vô đạo hiện nay.
Tội Nguyên Tổ và tội cá nhân đã khiến con người hoàn toàn xa cách Thiên Chúa là tình yêu, nhân hậu , công chính và thánh thiện. Do đó, các tội của loài người là điều nghê tởm, không thể chấp nhận được đối với Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành.
Nhưng vi Thiên Chúa là tình yêu, “ Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời, ( Tv 29: 30(29): 6) nên Người đã sai Con một là Chúa Giêsu Kitô đến trần gian cách nay trên 2000 năm để “hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.”( Mt 20:28)
Chúa Kitô đã hy sinh mạng sống mình qua khổ hình thập giá, chết đau thương và nhục nhã trên thập giá để đền tội thay cho loài người. Tội đó là tội Nguyên Tổ và mọi tội cá nhân con người đã phạm từ xưa đến nay và còn mãi mãi cho đến ngày hết thời gian.Tội Nguyên Tổ đã làm phát sinh mọi tội khác mà con người đã và đang phạm ở khắp nơi trên trần gian này.Các tội đó đủ làm cho con người hoàn toàn xa cách hay chống lại Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành. Các tội đó đã đóng đanh Chúa Kitô vào thập giá, là vòng gai nhọn quấn quanh đầu Chúa và là lưỡi gươm nhọn đâm vào cạnh sườn Chúa khi Người đang bị treo trên thập giá.,
Như thế, Chúa Kitô chết vì tội lỗi nhân loại.Các tội này bắt nguồn từ tội mà Nguyên Tổ loài người đã phạm khi ăn trái cấm trong vườn địa đàng như Kinh Thánh và giáo lý của Giáo Hội dạy.
Mặc dù Chúa Kitô đã chịu mọi đau khổ và chết trên thập giá để đền tội thay cho con người, nhưng Chúa không tiêu diệt hết mọi mầm mống của tội trong mỗi con người và trong trần gian để cho con người phải chiến đấu chống lại mọi cám dỗ của tội đến từ thế gian với đầy rẫy gương xấu, và nhất là từ ma quỷ, mà Thánh Phêrô đã vì như “ sư tử đói , gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé. ( 1 Pr5:8) để mong cướp lấy linh hồn của con người bao lâu còn sống trong thân xác có ngày phải chết đi này.
Là những người có niềm tin Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi tích cực cộng tác với ơn cứu độ của Chúa để chiến đấu chống lại mọi kẻ thù đến từ bản chất yếu đuối luôn nghiêng chiều về đường tội, từ thế gian với bao gương xấu và dịp tội, và đặc biệt, đến từ ma quỷ, kẻ tử thù không bao giờ muốn cho chúng ta được cứu rỗi để hưởng Thanh Nhan Chúa trên Thiên Đàng, là nơi hạnh phúc mà quỷ Sa tăng và đồng bọn đã bị đánh bật ra ngoài vì tội kiêu căng,dám chống lại Thiên Chúa.
Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá (invaluable) và đủ cho con người được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa.Nhưng nếu ta không cộng tác với ơn Chúa để quyêt tâm xa tránh tội lỗi thì Chúa không thể cứu ai được , và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ ra vô ích cho những ai cứ sống trong tội, cứ làm sự dữ mà không có quyết tâm từ bỏ và ăn năn sám hối để xin Chúa tha thứ.
Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với mấy người biệt phái đến hỏi Chúa xem có phải mấy người Galilêa bị Tổng Trấn Philatô giết và 18 người khác bị thác Si –lô-a đổ xuống đè chết, có phải vì họ là những người tội lỗi hơn những người khác không, Chúa đã trả lời họ như sau:
“ Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu.Nhưng nếu các ông không chịu sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.” ( Lc 13: 5)
Phải sám hội để nhìn nhận tội mình đã phạm mà xin Chúa tha thứ, nếu không sẽ phải chết trong linh hồn và phải xa cách Chúa đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục.
Tóm lại, vị tội Nguyên tổ làm phát sinh ra muôn vàn tội khác khiến con người phải xa cách Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, nên Chúa Giêsu Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian làm Con Người để hy sinh chịu chết trên thập giá để đền thay cho nhận loại khỏi phải chết đời đời vì tội.


*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Muốn được hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá này của Chúa Kitô, thì mọi người phải quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi để bước đi theo Chúa Kitô là “ con Đường, là sự Thật và là sự Sống” ( Ga 14:6). Nếu không thì Chúa không thể cứu ai được. Chúa nói : “ai có tai nghe, thì nghe.”(Mt 13: 43; Mc 4 23; Lc 8: 8)
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - TẠI SAO NGƯỜI CG ĂN CHAY? PDF Print E-mail

TẠI SAO NGƯỜI CÔNG GIÁO PHẢI ĂN CHAY?

Chúng tôi đã trải qua một cuối tuần ướt át lê thê ở giữa rừng. Và bây giờ, buổi sáng Chúa nhật, người lớn báo cho biết bữa sáng sẽ được hoãn lại để những người Công giáo có thể giữ chay rước Lễ. Cậu ấy là một trong các trại viên với nét mặt không được vui lắm.

Thắc mắc của cậu ta hiện lên trong trí khi Mùa Chay lại bắt đầu, vì ăn chay là việc thực hành đặc trưng nhất của mùa này. Trong hai ngày Mùa Chay, Thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh, người Công giáo hạn chế việc ăn uống để không ăn no và kiêng thịt. Vào tất cả các ngày Thứ Sáu trong Mùa Chay họ kiêng thịt.

Tại sao người Công giáo ăn chay? Các lý do có nền tảng chắc chắn trong Kinh Thánh không?

Khi ăn chay, ta noi theo tấm gương thánh thiện. Môsê và Êlia đã ăn chay bốn mươi ngày trước khi đến trước nhan Thánh Chúa (Xh 34:28, 1 V 19: 8). Bà tiên tri Anna đã ăn chay để dọn mình đón Đấng Mêsi đến (Lc 2:37). Tất cả họ đều muốn nhìn thấy Thiên Chúa và xem việc ăn chay là một điều kiện tiên quyết cơ bản. Chúng ta cũng muốn Chúa hiện diện, vì vậy chúng ta ăn chay.

Chúa Giêsu đã ăn chay (Mt 4: 2). Vì Ngài không cần phải thanh tịnh, nên chắc chắn Ngài đã làm điều này cốt để làm gương cho chúng ta. Thật vậy, Ngài cho rằng tất cả các Kitô hữu sẽ theo gương mình. Ngài nói: "Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay." (Mt 6:16). Lưu ý Ngài đã không nói “NẾU anh em ăn chay", nhưng "khi ".

Và KHI bây giờ, vào Mùa Chay, Giáo Hội mở rộng ý tưởng của việc ăn chay, ngoài việc nhỏ bỏ qua các bữa ăn đến một chương trình vươn xa hơn là tự bỏ chính mình. Chúa Giêsu nói: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. " (Lc 9:23). Vì vậy, ta "bỏ" điều gì đó mà ta thường ưa thích: kẹo, nước ngọt, một chương trình truyền hình yêu thích hoặc ngủ nướng thêm.

Ăn chay có lợi cho sức khỏe, nhưng không giống như ăn kiêng. Ăn chay là điều gì đó thiêng liêng và tích cực hơn nhiều. Ăn chay là một bữa tiệc thiêng liêng. Chay tịnh cần cho linh hồn giống như thể xác cần có của ăn.

Kinh Thánh giải thích rõ ràng những lợi ích tinh thần cụ thể của việc ăn chay. Chay tịnh mang lại sự khiêm nhường (Tv 69:10). Chay tịnh tỏ lộ sự đau buồn vì tội lỗi của ta (1 Sm 7: 6). Chay tịnh dọn đường đến với Chúa (Đn 9: 3). Chay tịnh là phương thế để nhận biết ý Chúa (Er 8:21) và là một phương pháp cầu nguyện rất hữu hiệu (08:23). Đó là dấu chỉ sự hoán cải đích thực (Ge 2:12).

Ăn chay giúp ta dứt bỏ những gì thuộc trần gian này. Chúng ta ăn chay không phải vì những thứ trần tục xấu xa, nhưng chính vì chúng tốt đẹp. Chúng là quà tặng của Thiên Chúa ban cho chúng ta. Nhưng chúng tốt đẹp đến độ đôi khi ta thích những món quà này hơn cả Đấng đã ban cho. Ta hóa ra đam mê lạc thú hơn là từ bỏ chính mình. Ta thường hay ăn uống đến độ quên cả Chúa. Những đam mê như vậy thực ra là một hình thức sung bái ngẫu tượng. Điều mà Thánh Phaolô có ý khi ngài nói, "Chúa họ thờ là cái bụng ... những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian. " (Pl 3:19).

Làm sao chúng ta có thể hưởng những ân ban của Thiên Chúa mà không quên Đấng ban cho? Ăn chay là cách bắt đầu thích hợp. Thân xác muốn nhiều hơn nó cần, vì vậy chúng ta nên cho nó ít hơn nó muốn.

Thánh Gioan Thánh Giá nói rằng chúng ta không thể nâng tâm hồn lên với Chúa, nếu ta bị ràng buộc vào những thứ thuộc trần gian này. Vì vậy, chúng ta bỏ những thứ thoải mái, dễ chịu và dần dần chúng ta không còn bị phụ thuộc nhiều vào chúng, không còn thấy quá cần thiết nữa.

Tất cả điều này là một phần chuẩn bị của chúng ta cho Nước Trời. Vì dù sao ta cũng phải đi đến chỗ mất những thứ tốt đẹp ở trần gian. Thời gian, tuổi tác, bệnh tật và "các chỉ định của bác sĩ" có thể không cho thưởng thức mùi vị của kẹo sôcôla, ly bia lạnh và thậm chí cả những vòng tay thân mật từ người thân yêu của mình nữa. Nếu ta không kiêng bớt các ước muốn của mình thì những mất mát này sẽ để cho ta những cay đắng và xa cách Thiên Chúa. Nhưng nếu chúng ta theo Chúa Giêsu từ bỏ chính mình, chúng ta sẽ tìm được sự yên ủi thường xuyên hơn trong sự tốt lành tối hậu – là chính Thiên Chúa.

Làm sao mà một số người vẫn có thể thanh thản và tươi vui trong bối cảnh hết sức đau khổ và cả khi phải đối mặt với cái chết sắp xảy ra? Điều ấy không phải chỉ là vấn đề của tính tình. Họ đã chuẩn bị bản thân cho lúc phải bỏ những thứ của trần gian này, mỗi lần một chút. Họ đã quen dần với sự hy sinh nhỏ bé để rồi sự hy sinh lớn không còn quá sức nữa.

Không ai nói ăn chay là dễ. Thực vậy, Cha Thomas Acklin dòng Biển Đức, tác giả quyển The Passion of the Lamb: God’s Love Poured Out in Jesus, nói: “Ăn chay dường như là rất khó, và có vẻ như nếu không ăn tôi sẽ thành suy nhược, sẽ không làm việc được nữa, hoặc không thể cầu nguyện hay làm bất cứ điều gì khác.”

Ngài nói thêm: "Tuy nhiên, có khoảnh khắc tuyệt diệu, khi sau một ít giờ trôi qua, dạ dày của tôi không còn cồn cào và thậm chí tôi quên đi những gì mình đã bỏ qua, khi ấy có cảm giác nhẹ nhàng, tự do, sáng tỏ, thái độ và cảm nhận minh mẫn, một sự gần gũi với Chúa không thể so sánh được. "

Mùa Chay là một dịp đặc biệt, nhưng Chúa muốn bốn mươi ngày ấy có một ảnh hưởng lâu dài trong cuộc sống chúng ta. Vì vậy, trong một nghĩa nào đó, ăn chay cần được giữ mãi. Cha Rene Schatteman, một tuyên úy của Opus Dei ở Pittsburgh, nói rằng ngài đã tiếp thu được bài học này trực tiếp từ một vị thánh. "Tôi đã học được từ Thánh Josemaria Escriva, người mà đích thân tôi có vinh dự được biết, một người đã thực hiện các hy sinh nhỏ bé ở mỗi bữa ăn, luôn luôn như vậy, không chỉ trong Mùa Chay."

Cha Schatteman nhấn mạnh tầm quan trọng của những điều nhỏ nhặt, và ảnh hưởng lớn mà chúng có thể mang lại: "Tất cả chúng ta nên cảm thấy cần phải giúp Chúa Kitô cứu chuộc thế giới bằng việc thực hành từ bỏ chính mình mỗi ngày, việc ăn uống bình thường ... để bỏ đi một chút, hoặc một chút ít thứ chúng ta thích nhất, tránh ăn giữa các bữa, bỏ qua bữa ăn nhẹ hoặc món tráng miệng, vân vân ... mà không làm cho nó lớn chuyện. "

Một doanh nhân ở Pittsburgh (yêu cầu giấu tên) nói với tôi về việc thực hành ăn chay của ông vào các ngày thứ Sáu trong thời gian dài, "nhịn ăn 12 - 15 giờ, chỉ uống nước." Ông nói, tuy nhiên, điều này có thể khó thực hiện, không phải vì đói, nhưng vì nó có thể gây trở ngại cho cuộc sống gia đình. "Thật khó để ngồi vào bàn ăn ở gia đình mà không ăn. Chuyện cưỡng lại sự cám dỗ của món ăn không thành vấn đề lắm. Tôi luôn cảm thấy như mình đang bị mất đi những giây phút gần gũi thân tình. Việc ăn chay của tôi thực sự làm mình cảm thấy ích kỷ, như tôi đang lấy đi cái gì đó khỏi thời gian gia đình mình giữa những bữa ăn gần gũi với nhau.”

Từ khi ấy ông đã sửa đổi việc ăn chay của mình, "không thực hiện vào bữa tối của gia đình."

Tại sao người Công giáo ăn chay? Doanh nhân giấu tên ấy diễn tả điều này thật hay: "Nó là phương thuốc cho vấn đề lớn nhất của tôi là ích kỷ và thiếu tự chủ. Để buộc bản thân mình kiềm chế thèm ăn, chứ không phải để thỏa mãn mong muốn của mình ngay cả chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, đấy là cách giữ chay tốt lành. Để dâng một chút hy sinh cho Chúa, cho gia đình mình, cho những người đang đói mà không có sự lựa chọn nào cho riêng họ, điều này tôi nghĩ cũng có ích. "

Ba dấu chỉ đặc trưng của Mùa Chay: Cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái.

Tác giả : Jos. Lê Công Thượng (chuyển ngữ từ catholiceducation.org)

------------------------------------

 
HOC HỎI ĐÊ SỐNG ĐẠO - THỨ HAI -CN4MC-C PDF Print E-mail
 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - CN4MC-C PDF Print E-mail

Chúa Nhật 4 MC -C

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: Gs 5, 9a. 10-12

"Dân Chúa tiến vào đất Chúa hứa và mừng Lễ Vượt Qua".

Trích sách Giosuê.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Giosuê rằng: "Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!" Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cánh đồng Giêricô. Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7

Ðáp: Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao (c. 9a).

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. - Ðáp.

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. - Ðáp.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. - Ðáp.

Bài Ðọc II: 2 Cr 5, 17-21

"Thiên Chúa đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, nếu ai ở trong Ðức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới. Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Lc 15, 18

Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha.

Phúc Âm: Lc 15, 1-3. 11-32

"Em con đã chết nay sống lại".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng; thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Người kia có hai con trai. Ðứa em thưa với cha rằng: "Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con". Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả của mình, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó, và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ cặn bã heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó hồi tâm lại và tự nhủ: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói. Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha". Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu... Người con trai lúc đó thưa rằng: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa". Nhưng người cha bảo đầy tớ: "Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng: vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất, nay lại tìm thấy". Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.

"Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: "Ðó là em cậu đã trở về, và cha cậu đã giết bê béo, vì thấy cậu ấy về mạnh khoẻ". Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời: "Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn. Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó". Nhưng người cha bảo: "Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy".

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm/ SỐNG VÀ CHIA SẺ

Hành trình Mùa Chay 40 ngày bắt đầu tiến tới tuần lễ Thứ Tư, với Chúa Nhật hôm nay đây. Và phụng vụ lời Chúa cho Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Chay hôm nay dường như có tính cách hân hoan vui vẻ hẳn lên, không còn những gì là âu sầu buồn bã theo chiều hướng của Mùa Chay nữa.

Thật vậy, ngay trong Bài Đọc 1, luồng gió tươi mát và nắng hồng của mùa xuân như thổi vào mùa đông và làm ấm áp mùa đông hẳn lên. Ở chỗ, cuộc hành trình 40 năm vô cùng cực khổ và quá dài trong sa mạc khô cằn đầy những gian nan thử thách khôn lường cho một dân tộc đông cả trên 2 triệu con người (xem Xuất Hành 12:37), sau khi ra khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ cùng Sông Jordan, dân Do Thái cuối cùng đã tiến tới đích điểm của mình là chính mảnh Đất Hứa.

Mảnh đất tiền định này đã được Thiên Chúa hứa với tổ phụ Abraham của dân Do Thái (xem Khởi Nguyên 15:18-21). Ngài còn lập lại lời hứa này với con ông là Isaac (xem Khởi Nguyên 26:3) cũng như với cháu ông là Giacóp (xem Khởi Nguyên 28:13). Đất Hứa này là nơi chính Thiên Chúa cũng đã dẫn vị tổ phụ đầu tiên này của dân Do Thái đến đó ở trước (xem Khởi Nguyên 12:7 và 15:7), cho tới khi nạn đói xẩy ra khắp vùng, khiến tổ phụ Giacóp cùng con cháu tất cả là 70 người kéo nhau sang Ai Cập (xem Khởi Nguyên đoạn 46), ở đó suốt một thời gian 430 năm (xem Xuất Hành 12:40).

Khi vào được Đất Hứa, đối với dân Do Thái, trước hết, là như vào được miền đất hoàn toàn tự do, miền đầt thuộc về họ, miền đất do chính họ làm chủ, khác hẳn với miền đất Ai Cập mà họ đã từng sống như nô lệ và thật sự là làm nô lệ trong thời điểm trước khi ra đi 40 năm trước, bởi thế, ngay đầu Bài Đọc 1: "Chúa phán cùng Giosuê rằng: 'Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!'"

Khi dân Do Thái ra khỏi đất Ai Cập vào thời điểm làm nên chính Lễ Vượt Qua đầu tiên của họ thế nào, ngày 14 Tháng Giêng theo niên lịch của dân tộc này, thì khi vào tới Đất Hứa họ cũng ở vào thời điểm Lễ Vượt Qua ban đầu như vậy, một biến cố quan trọng nhất trong lịch sử cứu độ của họ mà họ lần đầu tiên cử hành tại chính Đất Hứa, như Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại: "Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cánh đồng Giêricô".

Tuy đã vào được Đất Hứa, nhưng dân Do Thái chỉ bắt đầu sinh sống tự lập như một dân tộc ở địa phương mới này sau Lễ Vượt Qua đầu tiên của họ mà thôi, ở chỗ họ không còn lệ thuộc vào manna từ trời xuống là lương thực hằng ngày đã nuôi dưỡng họ suốt 40 năm trường trong sa mạc, mà là nhờ các thổ sản của chính Đất Hứa, như các chi tiết cuối cùng của Bài Đọc 1 cho biết:

"Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan".

Đó là lý do tâm tình tri ân cảm tạ và ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa của Bài Đáp Ca hôm nay cũng chính là của dân Do Thái lúc bấy giờ, ở vào thời điểm lịch sử cứu độ tiến sang một kỷ nguyên mới, hoàn toàn mới, một kỷ nguyên cho thấy họ thật sự chẳng những là một dân tộc mà còn là một quốc gia nữa, có một quê hương xứ sở đất nước đàng hoàng làm nơi cư trú về địa dư như tất cả mọi dân tộc khác trên trái đất này:

1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui.

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.

Nếu ngay sau nguyên tội Thiên Chúa đã tự động hứa cứu chuộc loài người (xem Khởi Nguyên 3:15) thì phải chăng Đức Kitô Thiên Sai Cứu Thế, nơi nhân tính của Người cũng như nơi Giáo Hội Nhiệm Thể Người, là chính Đất Hứa của / cho một dân tộc mới, mảnh "đất chảy sữa và mật" (Khởi Nguyên 33:3; Xuất Hành 3:8), ám chỉ "đầy ân sủng ("sữa") và chân lý ("mật")", xuất phát từ "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, người Con duy nhất đến từ Cha..." (Gioan 1:14).

Thật vậy, nhờ cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô nơi Phép Rửa (xem Roma 6:1-7), Kitô hữu đã cùng với Chúa Kitô "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), nghĩa là, đã được vào Đất Hứa của Chúa Kitô, tức đã hiệp thông nên một với Chúa Kitô, qua Nhiệm Thể Giáo Hội của Người, như Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại đã diễn tả như thế trong Bài Đọc 2 hôm nay: "Nếu ai ở trong Ðức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới".

Nhờ Phép Rửa con người được biến đổi trong Đất Hứa của Chúa Kitô là Giáo Hội Nhiệm Thể Người thành "một thụ tạo mới" và "tất cả mọi sự đã trở thành mới" đây có thể nói đã được báo trước và ám chỉ nơi trường hợp của dân Do Thái, một dân tộc đã sống một cuộc sống hoàn toàn mới mẻ trong Đất Hứa, bằng những con người mới, được sinh ra sau khi ra khỏi Ai Cập, không còn một con người cũ nào từ Ai Cập, bao gồm cả Moisen, ngoại trừ 2 con người duy nhất là Calep và Giodue thay Moisen (xem Dân Số 14:21-24,30; 20:12).

Hãy tưởng tượng mà xem đoạn đường 40 năm sa mạc mà dân Do Thái hành trình từ Ai Cập, nhất là từ sau khi vượt qua Biển Đỏ về Đất Hứa đã trở thành một nghĩa trang vĩ đạo nhất thế giới, nơi đã chôn xác của cả 3 triệu người Do Thái, một vùng sa mạc có thể nói là quê hương của thế hệ Do Thái vượt qua.

Như dân Do Thái, nếu không nhờ Thiên Chúa, qua Moisen, giải thoát họ khỏi Ai Cập, họ sẽ không bao giờ có thể vượt qua tình trạng nô lệ mà vào sự sống tự do trong Đất Hứa thế nào, thì Kitô hữu cũng không thể nào được trở thành chi thể của Giáo Hội, thuộc về Giáo Hội, sống trong Đất Hứa Giáo Hội, nếu không được Thiên Chúa cứu chuộc nơi Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế Con Ngài, đúng như Thánh Phaolô đã xác tín trong Bài Đọc 2 hôm nay liên quan đến thừa tác vụ của Giáo Hội nơi thành phần thừa tác viên như ngài:

"Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Đúng thế, trong việc cứu chuộc con người, Thiên Chúa đóng vai chủ động chứ không phải là con người. Điển hình là trường hợp của dân Cựu Ước Do Thái giáo trong việc giải thoát họ khỏi thân phận làm tôi ở nước Ai Cập mà đưa họ vào miền Đất Hứa tự do. Hay trường hợp dân Tân Ước Kitô giáo, hầu hết làm nên bởi các dân ngoại, trong việc giải thoát họ khỏi tội lỗi và sự chết bằng chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai Con Ngài.

Đó là lý do trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô đã nhận thức rất chính xác là "Thiên Chúa là Ðấng giao hòa thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô". Tại sao con người tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa đáng lẽ phải tự động đến làm hòa, đến xin lỗi Thiên Chúa mới phải, mới hợp lẽ công bằng, hợp hợp tình hợp lý theo trần gian, đằng này chính Ngài lại đến làm hòa với loài người tội nhân? Ôi, lòng thương xót Chúa... Chúng con không thể nào hiểu được ở tầm mức loài người chúng con!

Thiên Chúa giao hòa với loài người phạm nhân của Ngài, thậm chí, còn ở chỗ nếu con người mà hiểu được và cảm thấu được tất cả mầu nhiệm lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa chắc không thể nào không điên lên, không mất trí, một lòng thương xót, như Thánh Phaolô, cũng trong Bài Đọc 2, đã dám nói mà không sợ bị rối đạo và lạc đạo, đó là "Ðức Kitô... Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa đã biến thành tội - who has no sin to become sin / who did not know sin to be sin - vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Bởi thế, trước tình yêu vô cùng nhân hậu của Vị Thiên Chúa nạn nhân đã bị loài người xúc phạm song đã tự động tìm cách làm hòa với phạm nhân của mình, bằng cách biến Người Con vô cùng thánh hảo yêu quí của mình trở thành tội lỗi, một sự dữ không thể nào có nơi Thiên Chúa và không thể nào chấp nhận đối với Thiên Chúa, nhưng Vị Thiên Chúa nạn nhân lại muốn chồng chất tất cả lên nhân tính được Người Con mặc lấy và vượt qua, như thể nhuộm đen cả nhân tính vô tội và thánh hảo của Người, để nhờ Người biến hình sự dữ tội lỗi của con người thành ân sủng của lòng thương xót Chúa, mà Thánh Phaolô đã tha thiết kêu gọi Kitô hữu Giáo đoàn Corinto thời ấy, cũng như mọi thời đại sau này, là "chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa".

Bài Phúc Âm hôm nay, một bài Phúc Âm đã được Giáo Hội chọn đọc cho ngày Thứ Bảy Tuần 2 Mùa Chay, Chia sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Chay Tuần 2 (21-27/2/2016), vì nội dung của bài Phúc Âm hôm nay là một dụ ngôn cho thấy 2 điều chính yếu: 1- Thiên Chúa quả thực là Đấng đã hòa giải với tội nhân trước, và 2- chỉ bao giờ ở trong nhà với Ngài mới được hạnh phúc như ở trong Đất Hứa vậy.

Trước hết, dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy Thiên Chúa là Đấng đã giao hòa trước. Không phải hay sao, người cha có hai người con trai trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy rõ điều ấy.

Người cha trong dụ ngôn đã không làm hòa trước là gì với người con hoang đàng phung phá, ở chỗ, "Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu", trước khi chính nó lên tiếng xin lỗi ông và xin ông tha thứ cho nó: "Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa'".

Bởi ông đã tha cho nó ngay khi nó có ý định xin ông chia gia tài cho nó và ngay cả trước khi nó bỏ ông mà đi, vì ông không bao giờ chấp nhất nó, thậm chí còn tìm dịp để tha cho nó, và thật là hớn hở khi vớ được dịp tha thứ cho nó, chỉ muốn chứng tỏ cho nó càng ngày càng thấy được ông yêu thương nó là chừng nào, một tình yêu thương vô cùng nhân hậu nó không thể nào hiểu được. Việc người con hoang đàng phung phá chỉ có thể làm hòa với cha của nó, như Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, chỉ xẩy ra sau khi Người cha đã bày tỏ cử chỉ hân hoan hớn hở được làm hòa với nó trước.

Sau nữa, trong cùng dụ ngôn làm hòa hay hòa giải tuyệt vời này, người cha chẳng những tự động hòa giải với người con hoang đàng phung phá mà còn với cả người con không bỏ ông mà đi như đứa con hoang đàng phung phá kia nữa, người con cho rằng "đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào", thế mà cuối cùng những gì đã xẩy ra?

Vào chính lúc mọi người đang xum vầy trong nhà cha, ăn mừng người con hoang đàng phung phá như "đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy", thì người con tự cho mình là ngoan ngoan trung thành của cha lại bỏ cha mà đi, bằng cách, nhất định không chịu vào trong nhà với cha và em của mình, trái lại, muốn tách mình ra khỏi mối hiệp thông yêu thương, hiệp thông sự sống, đến độ, "Cha anh ra xin anh vào" hiệp thông với chung gia đình.

Cử chỉ và hành vi "Cha anh ra xin anh ta vào", không phải hay sao, là chính tác động Thiên Chúa tự đến làm hòa với loài người, tức là việc "Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Timotheu 2:4), muốn mời gọi nhất là những con người lầm lạc như người con bề ngoài ở nhà với cha mà lại chẳng hiểu cha gì hết, chẳng biết rằng "tất cả mọi sự của cha đều là của con", bởi thế nên làm gì cho cha cũng làm như một người đầy tớ "hầu hạ cha", đòi được trả công xứng đáng: "không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ", hơn là một người con chỉ làm vì cha muốn và cho cha được như ý, coi việc của cha và của cải của cha là của mình.

Trong cả hai trường hợp, của cả hai người con, một khi ở ngoài nhà của cha, sẽ không bao giờ được hạnh phúc. Trường hợp của người con hoang đàng phung phá cuối cùng phải trở về nhà cha, trở về hiệp thông với cha, mới tìm được sự sống chân thực và viên mãn. Còn người con không bỏ cha mà đi, tức còn ở nhà với cha về thể lý theo bề ngoài, một khi không vào nhà của cha mình nữa cũng thế, nghĩa là muốn hoàn toàn tách mình ra khỏi cuộc hiệp thông với cha, đã trở thành một con chiên lạc, lẻ loi cô độc một mình, rất dễ bị sói dữ ăn thịt mất xác.

Nhà Cha đây, mà Đất Hứa của dân Do Thái là hình bóng tiên báo, trước hết và trên hết ám chỉ mối hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, sau nữa ám chỉ nhân tính Chúa Kitô nói chung và thân xác của Người nói riêng, và sau hết ám chỉ Giáo Hội Nhiệm Thể Chúa Kitô là bí tích và là dấu chỉ hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp nhất với loài người (xem Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium Ánh Sáng Muôn Dân - 1).

Chính vì Nhà Cha là đích điểm của cuộc sống trần gian của con người nói chung và của cuộc hành trình đức tin Kitô hữu nói riêng, là khát vọng build-in - bẩm sinh sẵn có trong lòng con người, mà người con hoang đàng phung phá trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, khi đã tới tận cùng khốn nạn của cuộc đời, đã thấy được tất cả sự thật không thể chối cãi và không thể rời xa: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói". Bởi thế và từ đó, người con đã dứt khoát tiến đến chỗ: "Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi".

Chẳng những quyết định trong lòng, người con hoang đàng phung phá này còn thực sự tỏ ra bằng hành động cụ thể bên ngoài nữa: "Vậy nó ra đi và trở về với cha nó". Nghĩa là, nó muốn làm hòa cùng cha của nó, một hành động cho thấy nó chẳng những nhận lỗi trong lòng sau khi nó cảm thấy hối hận vì đã bỏ cha mà đi: "con đã lỗi phạm đến trời và đến cha...", mà còn xin lỗi ngoài miệng nữa sau khi nó được lại gặp mặt người cha vô cùng nhân hậu của nó: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa".

Thế nhưng, việc người con hoang đàng phung phá hòa giải với cha của nó chỉ xẩy ra sau khi cha của nó hòa giải với nó, không bao giờ chấp nhất nó, hằng tha thứ cho nó ngay cả trước khi nó xúc phạm đến ông, thậm chí còn vui vẻ tìm dịp để tha thứ cho nó, như được tỏ ra trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay: "Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu".

Cảnh cha con trọng dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay hòa giải với nhau đã xẩy ra đúng như những gì được Thánh Phaolô đã trải qua, cảm nhận và vì thế đã được ngài sử dụng để khuyên Kitô hữu Giáo đoàn Corinto trong Bài Đọc 1 hôm nay:

1- Thiên Chúa nạn nhân hòa giải với con người phạm nhận tội lỗi trước: "Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà".

2- Loài người phạm nhân nhờ đó và từ đó mới có thể hòa giải với Vị Thiên Chúa nạn nhân của mình: "Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Thánh thi Kinh Phụng Vụ Ban Mai các Chúa Nhật Mùa Chay (bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ)

Nào phủ phục trước nhan thánh Chúa

Cho tấc lòng than thở nài van:

Chúa thương xét xử khoan nhân

Dừng cơn thịnh nộ, ân cần lắng tai.

Muôn lạy Chúa, này đây bao tội,

Lũ con hư phản bội ân tình

Ngửa trông lượng cả cao xanh

Thiên ân tràn xuống cho thanh thoát lòng.

Xin Ngài nhớ: dẫu mỏng manh phận

Ðoàn con đây cũng vẫn là con,

Nhậm lời chúng tử nỉ non

Danh Ngài nhân hậu tiếng đồn muôn năm.

Xin tha thứ lỗi lầm trót phạm

Giúp chúng con can đảm vững bền,

Vâng theo thánh ý ngày đêm

Bây giờ mãi mãi trọn niềm hiếu trung.

Muôn lạy Chúa vô song tuyệt mỹ

Là Ba Ngôi hiển trị thiên tòa,

Phúc lành tuôn đổ sớm trưa

Cho mùa trai tịnh thành mùa hồng ân.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MC.CNIV-C.mp3

----------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 158