mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2478
mod_vvisit_counterHôm Qua3080
mod_vvisit_counterTuần Này10413
mod_vvisit_counterTuần Trước2
mod_vvisit_counterTháng Này122445
mod_vvisit_counterTháng Trước353437
mod_vvisit_counterTất cả16612237

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
SỐNG VÀ CHIA SẺ LC -TÔI LÀ CỬA-CN4PS-A PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

Cửa chuồng chiên.

03/05 – Chúa Nhật tuần 4 PHỤC SINH năm A.

"Ta là cửa chuồng chiên".

Lời Chúa: Ga 10, 1-10

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi, ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác, thì người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ".

Chúa Giêsu phán dụ ngôn này, nhưng họ không hiểu Người muốn nói gì.

Bấy giờ Chúa Giêsu nói thêm: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đã đến trước đều là trộm cướp, và chiên đã không nghe chúng.

Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Còn Ta, Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào".

CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH – Năm A

CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH

Cầu cho ơn thiên triệu Linh Mục và Tu sĩ

Lời Chúa: Cv 2,14a.36-41; 1Pr 20b-25; Ga 10,1-10

1. "Tôi là cửa cho chiên"

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu)

Suy niệm:

Chúng ta vẫn ở trong mùa Phục sinh, mùa của sự sống tươi mới.

Đức Giêsu là người mục tử chăn chiên.

Khác với kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy, Ngài đến để chiên có sự sống, và có một cách dồi dào (c. 10).

Hãy nhìn những nét đặc trưng của người mục tử đích thực.

Anh đi vào ràn chiên hay chuồng chiên bằng cửa, đường đường chính chính, chứ không lén lút trèo qua tường rào (cc. 1-2). Người giữ cửa quen anh và mở cửa cho anh. Chiên cũng quen anh và quen tiếng của anh. Tiếng của anh là dấu hiệu quan trọng để chiên nhận ra và phân biệt anh với người lạ hay kẻ trộm (cc. 3-5).

Chiên nghe tiếng của anh (c. 3). nhưng không nghe tiếng người khác (c. 8). Anh trìu mến gọi tên từng con, vì anh biết rõ chiên của mình.

Khi dẫn chúng ra ngoài chuồng, anh đi trước dẫn đường, chúng yên tâm theo sau chứ không chạy trốn, vì chúng biết mình đang đi theo ai và sẽ được dẫn đến đâu. Rõ ràng có sự hiểu nhau, gần gũi giữa chiên và mục tử.

Nhưng Đức Giêsu không chỉ là Mục tử chăn chiên.

Ngài còn tự nhận mình là Cửa cho chiên ra vào (c. 7. 9).

Thánh Gioan Kim Khẩu nói: "Khi Ngài đưa ta đến với Cha, Ngài nhận mình là Cửa. Khi Ngài săn sóc ta, Ngài nhận mình là Mục Tử."

Cửa chuồng chiên nhằm để chiên đi vào và tìm được sự an toàn. Cửa cũng nhằm để chiên đi ra và tìm được đồng cỏ nuôi sống.

Chỉ ai qua Cửa Giêsu mà vào mới được cứu độ.

Ai ra vào Cửa Giêsu mới tìm thấy đồng cỏ xanh tươi (c. 9). Cửa Giêsu cũng giúp phân biệt mục tử giả và thật.

Mục tử giả sẽ không dám đến với chiên qua Cửa Giêsu.

Mong sao cho Giáo Hội có nhiều mục tử gần gũi với chiên, biết gọi tên từng con chiên và đem lại cho chiên hạnh phúc. Và mong sao chiên có khả năng nhận ra tiếng nói của người mục tử.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, Chúa nhận mình là Tấm Bánh, vì Chúa muốn nuôi tâm linh chúng con.

Chúa nhận mình là Cây Nho, vì Chúa muốn trao cho chúng con dòng nhựa sống.

Chúa nhận mình là Mục tử nhân lành, vì Chúa muốn dẫn chúng con đến nơi đồng cỏ.

Chúa nhận mình là Cửa, vì Chúa mở cho chúng con sự phong phú của Nước Trời.

Chúa nhận mình là Con Đường, vì Chúa là Đấng duy nhất dẫn chúng con đến với Chúa Cha.

Chúa nhận mình là Ánh sáng, vì Chúa có khả năng khuất phục bóng tối trong thế gian này.

Chúa nhận mình là Sự Thật, vì Chúa vén mở cho chúng con khuôn mặt của Thiên Chúa.

Chúa nhận mình là Sự Sống và là Sự Sống Lại, vì Chúa không để cho chúng con bị cái chết chôn vùi.

Lạy Chúa Giêsu,

tạ ơn Chúa vì mọi điều Chúa định nghĩa về mình đều hướng đến hạnh phúc cho chúng con, và đều cho chúng con sự sống thâm sâu của Chúa. Xin cho chúng con chấp nhận Chúa là Anpha và Ômêga, là Khởi Nguyên và là Tận Cùng của cuộc đời mỗi người chúng con. Amen.

2. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Giáo Hội dành riêng Chúa nhật IV Phục Sinh này để cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ. Vì thế, Lời Chúa hôm nay xoay quanh chủ đề mục tử và chiên. Đức Giêsu gọi mình là mục tử thật, mục tử nhân lành. Ngài cũng muốn những ai tham dự vào chức vụ mục tử cũng hãy trở nên mục tử thật, mục tử nhân lành chứ không phải là mục tử giả. Còn những ai là chiên của Ngài thì cũng phải là chiên thật chứ không phải là chiên giả. Vậy, thế nào gọi là mục tử thật, mục tử nhân lành? Thế nào gọi là mục tử giả? Thế nào gọi là chiên thật hay chiên giả?

1. Thế nào gọi là mục tử thật?

Mục tử thật là mục tử "đường đường chính chính" luôn yêu thương đàn chiên: hiểu biết và cảm thông với đàn chiên; lo lắng chăm nom đàn chiên; sẵn sàng hy sinh vì đàn chiên. Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết thế nào là vị mục tử thật: "Ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy"(Ga 10, 1-4).

Đức Giêsu chính là mục tử thật. Ngài là vị mục tử nhân lành. Chính Ngài tuyên bố: "Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta"(Ga 10, 14 ). Thật vậy, Ngài là mục tử nhân lành: Vì Ngài không những biết từng con chiên mà Ngài còn đi tìm các con chiên bị thất lạc: "Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom đến chúng"(Ez 34, 10); Ngài chăm sóc và băng bó những con chiên bị xây xát, bệnh hoạn: "Chiên thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm. Chiên tản mác, Ta sẽ lùa về. Chiên xây xát, Ta sẽ băng bó. Chiên bệnh hoạn, Ta sẽ bổ sức"(Ez 34, 16); Ngài cho các con chiên được sống dồi dào: "Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào"(Ga 10,10).

Điều này đã được chứng minh một cách cụ thể qua những hành động trong suốt ba năm đời sống công khai của Ngài: Chính Ngài đã từng gặp gỡ và chữa lành các bệnh nhân, tha thứ cho những người tội lỗi; chính Ngài là người cha trong "dụ ngôn người cha nhân hậu"(x. Lc 15, 11-32), là người chủ chiên trong "dụ ngôn con chiên bị mất"(x. Lc 15,4-7), là người đàn bà trong "dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất"(x. Lc 15, 8-10); chính Ngài đã chấp nhận hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,11). Không những thế, Ngài còn hơn hẳn các mục tử bình thường vì chỉ có Ngài mới cho đàn chiên được sự sống đời đời: "Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi"(Ga 10,28).

2. Thế nào gọi là mục tử giả?

Đức Giêsu cho chúng ta biết thế nào là mục tử giả: Đó là những mục tử "đường đường chính chính", nghĩa là những kẻ không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác; đó là những kẻ đến chỉ để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ đàn chiên (x. Ga 10,10).

Thật vậy, mục tử giả là mục tử không có trách nhiệm với đàn chiên: "Con chiên nào mất, nó chẳng quan tâm; con thất lạc, nó chẳng đi tìm; con bị thương, nó không chạy chữa; con mạnh khoẻ, nó chẳng dưỡng nuôi" (Dc 11,16a); mục tử giả là mục tử không lo chăn dắt đàn chiên mà chỉ nghĩ đến mình, sẵn sàng bóc lột đàn chiên để phục vụ cho nhu cầu của mình, như tiên tri Êdêkiel đã nói: "Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, mà đàn chiên lại không lo chăn dắt" (Ed 34,3); mục tử giả là mục tử thống trị đàn chiên "một cách tàn bạo và hà khắc" (x. Ed 34,3); mục tử giả là mục tử "đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến đàn chiên" (x. Gr 23,2b); mục tử giả luôn tác hại đến đàn chiên, có thể làm cho đàn chiên phải tan tác (x. Gr 23,2).

Tóm lại, mục tử giả không có tình thương với đàn chiên, không muốn mang vào mình "mùi chiên", không chấp nhận hy sinh, thiệt thòi về mình vì đoàn chiên, trái lại coi đàn chiên như là phương tiện, bắt chúng phải hy sinh phục vụ cho lợi ích riêng tư và tham vọng của mình.

3. Thế nào là chiên thật?

Chiên thật là chiên biết nghe tiếng của Chủ chiên. Đức Giêsu nói: "Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi, Tôi cho chúng được sống đời đời và chúng sẽ không bao giờ hư mất"(Ga 10, 27). Tiếng chủ chiên ở đâu? Đó là tiếng Chúa qua Kinh Thánh; đó là lời giáo huấn của Hội Thánh; đó là tiếng nói của lương tâm; đó là sự hướng dẫn dạy dỗ của những kẻ thay mặt Chúa như cha mẹ, thầy cô giáo, anh chị và những người khôn ngoan.

Chiên thật thì phải biết tin tưởng, phó thác và yêu mến Chủ chăn của mình. Vì Chủ chiên luôn quan tâm, chăm sóc và cho chiên được sống và sống dồi dào. Điều đó được diễn tả một cách cụ thể qua Thánh vịnh 22: "Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người. Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên" (Tv 23).

Ngày hôm nay, Đức Giêsu mục tử nhân lành vẫn tiếp tục nuôi dưỡng chúng ta qua Lời của Ngài, qua các Bí tích. Ngài chăm sóc chúng ta qua Giáo hội của Ngài. Vì vậy, chúng ta phải đáp trả bằng việc lắng nghe, tin tưởng phó thác và yêu mến Ngài.

4. Thế nào là chiên giả?

Đó là những người kitô hữu trên danh nghĩa nhưng không sống theo tinh thần của Bí tích Rửa tội là từ bỏ ma quỷ và tuyên xưng đức tin.

Đó là những kẻ không thực hành bác ái yêu thương như lời Đức Giêsu nói: "Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng." Nên gọi họ là dê (x. Mt 25,31-46).

Đó là những "giáo gian", là những kitô hữu luôn bắt cá hai tay, bên nào có lợi cho mình thì theo bên đó. Họ có thể vì tiền, vì quyền, vì lợi ích của mình mà bán rẻ Giáo hội, bán rẻ anh chị em của mình.

5. Câu hỏi gợi ý và cầu nguyện

Mỗi người chúng ta hãy tự xét mình xem: Tôi có phải là mục tử thật, mục tử tốt lành đối với những người Chúa giao phó cho tôi coi sóc không? Hay tôi chỉ là mục tử giả, là kẻ trộm cướp? Tôi có phải là con chiên thật, con chiên ngoan trong đoàn chiên của Chúa của Giáo hội không? Hay tôi chỉ là con chiên giả, thậm chí là con dê luôn phá hoại Giáo hội, làm hại anh chị em mình? Tôi đã đóng góp gì cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ?

Lạy Chúa xin cho mỗi người chúng con trở thành những mục tử nhân lành khi chúng có có trách nhiệm với anh chị em mình. Đồng thời, xin cho chúng con luôn là con chiên ngoan hiền trong đàn chiên của Chúa và Giáo hội. Amen.

 

3. TA LÀ Người Mục Tử Nhân Lành - Huệ Minh

thấy hình ảnh người chăn chiên là một diễn tả quen thuộc của lòng nhân từ, yêu thương. Trong Kinh Thánh các tác giả Cựu Ước đặc biệt là Thánh Vịnh thường hay so sánh mối quan hệ giữa Giavê Thiên Chúa và dân Israel như người chăn và đàn chiên. Israel và đàn chiên Thiên Chúa chăm sóc trong đồng cỏ của Ngài.

Trong Cựu Ước, dân Do Thái thường dành tước hiêu này cho Thiên Chúa. Ngài chính là người mục tử, đã dẫn dắt họ qua sa mạc, qua biển Đỏ để tiến vào miền đất hứa. Ngài đã chăm sóc, dưỡng nuôi họ bằng manna, bằng chim cút, bằng suối nước vọt lên từ tảng đá. Như người mục tử gắn liền số mạng với đoàn chiên, thì Thiên Chúa cũng và đã luôn ở giữa dân Ngài để chia sẻ những buồn vui gian khổ với họ dưới sương sớm và nắng chiều.

Còn trong Tân Ước, hình ảnh người chăn và đàn chiên cũng được nhiều lần nói đến, đặc biệt là người chăn chiên được Chúa Giêsu tự đồng hóa mình với người chăn chiên nhân lành. Nỗi lòng của người chăn chiên cũng là nỗi lòng của Ngài. Một trong những diễn tả ấy được thánh sử Gioan ghi lại trong trang Tin Mừng hôm nay.

Chúa Giêsu cũng đã tự sánh ví mình như người mục tử nhân lành. Khác với những kẻ chăn thuê và giữ mướn, những kẻ trộm cướp và lợi dụng, người mục tử đích thực chỉ biết phục vụ đoàn chiên và giải thoát đoàn chiên khỏi mọi sự dữ. Đổi lại, con chiên nghe tiếng người mục tử, hăm hở đi theo và tỏ lòng yêu mến quyến luyến với người mục tử. Người ấy sẽ đi trước để bảo vệ đoàn chiên. Còn đoàn chiên thì theo sau một cách ngoan ngoãn, để rồi cuối cùng sẽ đến được nơi đồng cỏ xanh và nơi dòng suối mát. Chính Ngài đã phán: Ta đến để chúng được sống và được sống một cách dồi dào. Thực hiện mục đích ấy, Ngài đã phải trả bằng một giá rất đắt, bằng chính mạng sống của mình.

Ta là cửa chuồng chiên, ai qua Ta mà vào thì được cứu rỗi, người ấy sẽ tìm thấy của nuôi thân, Chúa Giêsu muốn nói lên rằng: Nơi Ngài, chúng ta sẽ gặp gỡ Thiên Chúa và anh em. Nơi Ngài, chúng ta được cứu rỗi và tìm thấy niềm hạnh phúc Nước Trời.

Chúa Giêsu nói rõ cho họ biết: "Ta là cửa chuồng chiên". Đức Giêsu là cửa chuồng chiên, cửa dẫn vào sự sống đời đời: " Thật tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào". Đức Giêsu đã tuyên nhận Ngài là cửa cho chiên ra vào , và bất cứ ai qua Cửa ấy mà vào thì sẽ được cứu độ. Đức Giêsu là Cửa chuồng chiên, Cửa ấy không luôn luôn đóng lại nhưng vẫn hằng mở ra. Cửa Đức Giêsu mở ra ơn cứu độ, mở ra suối nguồn sự sống và mở ra chân trời hạnh phúc cho tất cả những ai đi qua cửa mà vào. Cụm từ 'tất cả những ai', nghĩa là không phân biệtmàu da hay sắc tộc, Do-thái hay dân ngoại, bởi vì ơn cứu độ của Đức Giêsu có tính phổ quát, một ơn cứu độ dành cho toàn thể nhân loại.

Ta thấy Chúa Giêsu mạc khải cho họ biết con đường đi tới Chúa Cha như là cửa mà đàn chiên ra vào và được hưởng sự an toàn, được sống dồi dào. Còn những kẻ đến trước mà vào là kẻ trộm cướp nên chiên đã không nghe tiếng họ. Những người đến trước ở đây không phải là các ngôn sứ, nhưng là những người dựa vào sự khôn ngoan thông thái thế gian. Chính họ là những người Thiên Chúa dấu không cho biết những điều thuôc về ơn cứu độ. Trong thực tế, mặc dù bị áp đặt, nhưng người mù được Chúa Giêsu chữa lành không nghe lời người Pharisiêu và chỉ tin vào Chúa Giêsu. Vì họ là kẻ trộm đã giết hại chiên và phá hủy, còn Chúa Giêsu đến để chiên được sống và sống dồi dào.

Chúng ta là những người đang ở trong đàn chiên của vị Mục Tử – Giêsu, được diễm phúc làm con cái Thiên Chúa, được hưởng hạnh phúc, sự êm ái của đồng cỏ xanh, sự mát mẻ của dòng suối trong lành... trong khiđó còn có rất nhiều người chưa được ở trong đàn chiên của Chúa. Vậy, chúng ta đã nghĩ gì, có chương trình và kế hoạch như thế nào cho những người chưa đượcdiễm phúc làm con Thiên Chúa? Chúng ta đã cầu nguyện cho họ? Đã bao giờ chúng ta thao thức, ưu tư và thầm nguyện xin cho những người này sớm có được cơ may lắng nghe, nhậnbiết và tin vào Chúa để được hưởng ơn cứu độ?

Chúa Giêsu đã tóm tắt vai trò của Ngài, Ðấng chăn chiên với đàn chiên là hình ảnh cửa đàn chiên: "Ta là cửa, ai qua Ta mà vào thì sẽ được cứu độ". Ðây là hình ảnh quen thuộc của vùng Trung Ðông đối với các mục tử chăn chiên. Người mục tử nhân lành biết lo liệu cho đàn chiên của mình vào ban đêm và ban ngày, sẽ dẫn chiên tới đồng cỏ xanh tươi với dòng suối mát như tác giả Thánh Vịnh 22 vẫn hát lên "trong đồng cỏ xanh tươi Người cho tôi nằm nghỉ, Người cho tôi dòng nước trong lành".

Chúa Giêsu là cửa chuồng chiên. Muốn đi vào đoàn chiên và phục vụ đoàn chiên thì người ta sẽ đi qua cửa chính mà vào, tất cả mọi lối đi vào khác đều là lối đi của quân trộm cướp. Qua hình ảnh này, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng, chỉ có một cung cách phục vụ duy nhất đó là phục vụ như Ngài đã phục vụ, nghĩa là sẵn sàng hiến thân cho và vì tha nhân mà thôi. Ai sống và phục vụ như Chúa Giêsu thì kẻ ấy thuộc về Ngài, còn ai sống ngược lại cung cách phục vụ của Ngài thì kẻ ấy chỉ là quân trộm cướp mà thôi.

Chúa Giêsu là cửa để qua đó từng con chiên vào và được nghỉ qua đêm an toàn. Chính nơi cửa, người mục tử sẽ cầm gậy để kiểm từng con chiên, không để một con nào bị lạc mất. Chúa Giêsu là cửa, qua đó các con chiên được dẫn đi ăn mỗi buổi sáng, để các chiên nghe và nhận biết tiếng gọi của chủ chăn. Chủ chăn gọi đàn chiên và dẫn chúng đi, người chăn chiên đi trước và chiên theo sau, vì chiên biết tiếng chủ chiên của mình. Hình ảnh cửa chuồng chiên và hình ảnh vị chủ chăn cho chúng ta thấy Ngài là Ðấng chăn chiên, là Ðấng Cứu Ðộ cho những ai nghe tiếng Ngài.

Đức Giêsu chỉ có một mối bận tâm duy nhất, đó là làm cho các con chiên sống bằng sự sống của Thiên Chúa, ngày càng dồi dào phong phú hơn. Người chính là người Mục tử chân thật đã được Thiên Chúa giao phó đàn chiên cho. Cũng có những mục tử giả hiệu, chỉ tìm giết con chiên, theo sự thôi thúc của Satan, tên sát nhân. May mắn là các con chiên chân thật không nghe và đi theo các mục tử giả này, vì chúng không nhận ra lời họ nói chính là Lời Nói của vị Mục Tử tối cao.

Ta xin Chúa để Chúa ban thêm cho có những mục tử xứng đáng thay mặt Đức Giêsu, Vị Mục Tử chân thật. Các ngài rao giảng về Chúa Kitô và ơn cứu độ, các ngài nói về và bảo vệ nhân quyền. Để có thể là một mục tử xứng đáng, một vị lãnh đạo trong Họi Thánh cũng phải sống tư cách con chiên của Đức Giêsu, cũng ra vào qua cửa ấy và nhận được lương thực nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của mình.

4. Chuồng chiên

Chuồng chiên là một hình ảnh rất quen thuộc đối với dân Do Thái. Đó là một dãy hàng rào chắc chắn theo hình chữ nhật với một cửa ra vào duy nhất. Chiều đến, các mục tử lùa chiên vào chuồng qua khung cửa duy nhất này, rồi trao phó việc canh giữ cho một vài người nào đó. Và khi ngày mới trở về, họ đưa chiên ra khỏi chuồng để đi ăn nơi những đồng cỏ.

Chuồng chiên là nơi bảo đảm an toàn cho đoàn chiên. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh quen thuộc này khi so sánh mình với cửa chuồng chiên và với người mục tử tốt lành để mạc khải tình yêu thương chăm sóc của Thiên Chúa đối với con người nói chung và nhất là sự bảo vệ của Ngài đối với những ai tin nhận Ngài nói riêng.

Phản ứng đầu tiên của dân chúng khi nghe qua hai hình ảnh này là không hiểu được ý Chúa Giêsu muốn nói gì, mặc dầu Người đã dùng những hình ảnh rất quen thuộc đối với họ. Phải chăng chúng ta ngày hôm nay đôi khi cũng phản ứng như thế, đó là chúng ta không hiểu không hoặc muốn hiểu những gì Chúa muốn nói với mình qua những dấu chỉ đơn sơ của cuộc sống thường ngày. Phải chăng chúng ta sợ hiểu được ý định của Thiên Chúa để rồi phải canh tân đời sống cho hợp với ý định cảo cả ấy? Thế nhưng Chúa Giêsu vẫn kiên nhẫn giải thích cho họ: Ta là cửa chuồng chiên. Ai qua Ta mà vào thì sẽ được giải thoát. Ta là mục tử tốt lành, hiến mạng sống vì chiên. Ta biết các chiên Ta và các chiên ta biết ta.

Khi so sánh mình với hình ảnh cửa chuồng chiên và hình ảnh người mục tử tốt lành, Chúa Giêsu muốn mạc khải một sự thật tuyệt vời làm cho chúng ta thêm can đảm và hy vọng, đó là sự thật về mối tương quan thân tình không thể nào tách rời được giữa Ngài và những kẻ tin vào Ngài. Trước hết so sánh mình với cửa chuồng chiên, Chúa Giêsu cho mọi người chúng ta hiểu rằng: Người chính là tiêu chuẩn, chính là mẫu mực cho tất cả những ai muốn bước theo Người và cộng tác với Người để đem ơn cứu độ đến cho muôn dân.

Còn khi so sánh mình với người mục tử tốt lành, Người muốn mạc khải cho chúng ta biết: Người là mẫu mực duy nhất cho những chủ chăn được tuyển chọn. Chúa Giêsu vẫn luôn luôn là mục tử duy nhất chăm sóc đến từng con chiên, đến từng người trong đoàn chiên cũng nhưđến những ai chưa thuộc vào đoàn chiên, để một ngày nào đó cũng sẽ được bước vào trong cùng một đoàn chiên và cùng một chủ chiên.

Còn chúng ta thì sao, liệu chúng ta có chấp nhận để cho Chúa hướng dẫn và chăm sóc cuộc đời của chúng ta hay không, để bản thân chúng ta trở nên một con chiên trong đoàn chiên của Người hay không?

---------------------------------

 

 
CẢM NGHIỆM SỐNG LC -CN4PS-A PDF Print E-mail

qua1955 .
Chia sẻ Lời Chúa - Chúa Nhật 3-5-2020

Phúc Âm thánh Gioan. (10: 1-10): CHÚA LÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi, ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác, thì người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ". Chúa Giêsu phán dụ ngôn này, nhưng họ không hiểu Người muốn nói gì. Bấy giờ Chúa Giêsu nói thêm: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đã đến trước đều là trộm cướp, và chiên đã không nghe chúng. Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Còn Ta, Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào."

SỐNG VÀ CHIA SẺ

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian. Ngài đã cống bố mục đích của ngài đến trong thế giới này để mang đến cho con người sự sống đời đời. "Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào"Tôi đến để họ có thể có sự sống và có được nó nhiều hơn."(Ga. 10, 10) Ngược lại, quỷ dữ và những kẻ bất lương là những tên trộm đến để tiêu diệt con người.

Những ai thuộc về Thiên Chúa sẽ lắng nghe Chúa Giêsu chứ không phải là lời của thế gian. Họ yêu thương và phục vụ lẫn nhau. Họ giữ tất cả các điều răn của Thiên Chúa một cách trung thành. Họ sẽ chỉ bước theo Chúa Giêsu chứ không phải là những tiên tri giả trên thế gian.

Chúa Giêsu đã phán: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy."(Ga. 14, 6) Nếu tôi chối bỏ Chúa Giêsu, tôi sẽ mất ơn cứu rỗi của Thiên Chúa là sự sống đời đời ban cho bất cứ ai chấp nhận Ngài là mục tử tốt lành của họ.

Thánh Phêrô đã nói: "Anh em hãy tự cứu mình khỏi dòng dõi gian tà này."(TĐCV. 2, 40) Làm thế nào mỗi người có thể có được sự sống đời đời? Họ phải tin vào Chúa Giêsu, sám hối tội lỗi và chịu phép Rửa vì Chúa Giêsu là cổng vào Nước trời, người duy nhất đã chết vì tội lỗi của nhân loại. "Chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá."(Pt. 2, 24)

Lời của thế gian chỉ là những lừa dối để đánh cắp và giết chóc. Thật không may, nhiều người vẫn lắng nghe và đi theo họ ngày hôm nay. Con cái Thiên Chúa thì chỉ nghe theo lời của Chúa Giêsu và Giáo hội của Ngài. Đó là một cách chắc chắn để gìn giữ bất cứ ai không đi lạc khỏi Chúa Giêsu chính là vị mục tử tốt lành của mình.

Sự bình an của Chúa Kitô.

Đa Minh Quang Hoàng, người Kitô hữu.

--

Bible sharing - Sunday 5-3-20

Gospel JN 10: 1-10

Jesus said: "Amen, amen, I say to you, whoever does not enter a sheepfold through the gate but climbs over elsewhere is a thief and a robber. But whoever enters through the gate is the shepherd of the sheep. The gatekeeper opens it for him, and the sheep hear his voice, as the shepherd calls his own sheep by name and leads them out. When he has driven out all his own, he walks ahead of them, and the sheep follow him, because they recognize his voice. But they will not follow a stranger; they will run away from him, because they do not recognize the voice of strangers." Although Jesus used this figure of speech, the Pharisees did not realize what he was trying to tell them. So Jesus said again, "Amen, amen, I say to you, I am the gate for the sheep. All who came before me are thieves and robbers, but the sheep did not listen to them. I am the gate. Whoever enters through me will be saved, and will come in and go out and find pasture. A thief comes only to steal and slaughter and destroy; I came so that they might have life and have it more abundantly."

Reflection:

Jesus is the Son of God, a Savior of the world. Jesus is the Son of God, the Savior of the world. He declared his purpose to come to this world to give people eternal life. "I came so that they might have life and have it more abundantly."(Jn. 10, 10) On the contrary, the devils and the evildoers are the thieves coming to destroy the human.

Those who belong to God will listen to Jesus, not the world. They love and serve each other. They faithfully keep all the commandments of God. They will only follow Jesus, not false prophets on earth.

Jesus said, "I am the way and the truth and the life. No one comes to the Father except through me."(Jn. 14, 6) If I deny Jesus, I will lose God's salvation is eternal life to anyone who accepts Him as their good shepherd.

Peter said, "Save yourselves from this corrupt generation."(Acts 2, 40) How can each person have everlasting life? They must believe in Jesus, repent of their sins, and are baptized because Jesus is the gate of the Kingdom, the only one who has died for the sins of humankind. "He himself bore our sins in his body upon the cross, so that, free from sin, we might live for righteousness."(Pt. 2, 24)

The word of the world is only a lie to steal and kill. Unfortunately, many people still listen to them today. God's children only hear the words of Jesus and His Church. It is a sure way to keep anyone from straying from Jesus, the good shepherd, Jesus. However, the choice belongs to each individual.

Peace of Christ.

Dominic Quang Hoang, a Christian.

--------------------------

 
CẢM NGHIỆM SỐNG LC - THỨ BẢY CN3PS-A PDF Print E-mail

qua1955 .
Chia sẻ Lời Chúa - Thứ Bảy 2-5-20

TIN MỪNG GIOAN: 6: 60-69:  LỜI CHÚA LÀ THẦN KHÍ VÀ LÀ SỰ SỐNG

Khi ấy, có nhiều môn đệ của Đức Giêsu nói rằng: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?" Nhưng Ðức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: "Ðiều đó, anh em lấy làm chướng , không chấp nhận được ư? Thế thì anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. Nhưng trong anh em có những kẻ không tin". Quả thật, ngay từ đầu, Ðức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Người nói tiếp: "Vì thế, Thầy bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho". Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa. Vậy Ðức Giêsu hỏi Nhóm Mười Hai: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?" Ông Simon Phêrô liền đáp: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa."

TÔI ĂN-NHAI VÀ NUỐT LỜI CHÚA

Khi Chúa Giêsu nói: "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống." Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?"(Ga. 6, 51-52) Có nhiều môn đệ của Chúa Giêsu nói rằng: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?" Nhưng Ðức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: "Ðiều đó, anh em lấy làm chướng , không chấp nhận được ư?"(Ga. 6, 60-61)

Nếu Chúa Giêsu hỏi tôi lúc đó thì tôi cũng có thể trả lời là: "Vâng! Thưa có." Trước nhất là người Do Thái hiểu rằng Chúa Giêsu tự xưng là Con Thiên Chúa nhưng họ chỉ biết Chúa Giêsu là Con của ông Giuse thợ mộc và bà Maria. Họ không tin nhận lời tuyên bố của Chúa Giêsu. Thứ hai là họ bị sốc vì chưa từng có ai nói theo nghĩa đen là lương thực ban cho họ là máu thịt của ngài.

Chúa Giêsu có ý gì khi nói về máu thịt của ngài chính là lương thực thực sự từ trời ban xuống cho nhân loại? Những gì Chúa Giêsu nói thực sự có nghĩa là đúng như ngài nói. Những lời Chúa Giêsu đã công bố thì ngài đã không rút lại hoặc thay đổi vì sợ mọi người rời bỏ ngài. Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su thậm chí đã hỏi nhóm Mười Hai: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay không?"(Ga. 6, 67)

Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc ly. Ngày nay, có rất nhiều người Công giáo trên khắp thế giới vẫn đang ăn Chúa Giêsu ban cho họ từ nơi bàn thờ trong Nhà thờ dưới dạng tấm bánh. Chúa Giêsu là sự sống, là sự thật và là con đường đến với Chúa Cha trên trời. Làm theo những gì Chúa Giêsu đã nói, tôi sẽ không ngạc nhiên khi tôi sẽ được gặp Ngài đối mặt với mặt trong Nước Thiên Chúa vì tôi tin vào Ngài.

* SUY TƯ VÀ HÀNH ĐỘNG: Học hỏi từ mẹ Maria, tôi CẦN giữ LỜI Chúa Giêsu trong lòng và cầu nguyện NHƯ HƠI THỞ khi tôi gặp khó khăn để hiểu Lời của Ngài. Với ân sủng của Chúa Thánh Thần, tôi sẽ củng cố niềm tin VÀO LỜI Chúa Giêsu.

Giống như Thánh Peter, tôi cũng thưa với Chúa Giêsu: "Chúa là Ðấng Thánh của Thiên Chúa."(Ga. 6, 69) Con tin tưởng vào Chúa!

Bình an của Chúa Kitô!

Đa Minh Quang Hoàng, người Kitô hữu.

--

Bible sharing - Saturday 5-2-20

Gospel JN 6: 60-69

Many of the disciples of Jesus who were listening said, "This saying is hard; who can accept it?" Since Jesus knew that his disciples were murmuring about this, he said to them, "Does this shock you? What if you were to see the Son of Man ascending to where he was before? It is the Spirit that gives life, while the flesh is of no avail. The words I have spoken to you are Spirit and life. But there are some of you who do not believe." Jesus knew from the beginning the ones who would not believe and the one who would betray him. And he said, "For this reason, I have told you that no one can come to me unless it is granted him by my Father." As a result of this, many of his disciples returned to their former way of life and no longer walked with him. Jesus then said to the Twelve, "Do you also want to leave?" Simon Peter answered him, "Master, to whom shall we go? You have the words of eternal life. We have come to believe and are convinced that you are the Holy One of God."

Reflection:

When Jesus said, "I am the living bread that came down from heaven; whoever eats this bread will live forever, and the bread that I will give is my flesh for the life of the world."The Jews quarreled among themselves, saying, "How can this man give us [his] flesh to eat?"(Jn. 6, 51-52) Many of the disciples of Jesus who were listening said, "This saying is hard; who can accept it?" Since Jesus knew that his disciples were murmuring about this, he said to them, "Does this shock you?"(Jn. 6, 60-61)

If Jesus asked me at that time, I might say to him, "Yes! I do." First, the Jews understood that Jesus claimed to be the Son of God but that they only knew Jesus was the Son of Joseph the carpenter, and Mary. They did not accept the word of Jesus. Second, they were shocked because no one had ever literally said that the food given to them was his flesh and blood.

What did Jesus mean when he spoke of his flesh and blood as the true food that came from heaven to mankind? What Jesus said really means exactly as he said. The words Jesus proclaimed, he did not retract or change them for fear that people would leave him. That is why Jesus even asked the Twelve, "Do you also want to leave?"(Jn. 6, 67)

Jesus instituted the Eucharist at the Last Supper. Today, many Catholics around the world are still eating Jesus bestowed upon them from the altar in the Church in the form of bread. Jesus is the life, the truth, and the way to the heavenly Father. Doing what Jesus said, I will not be surprised when I will see Him face to face in the Kingdom of God because I believe in Jesus.

Learning from Mary, I should keep Jesus' words in my heart and pray instead of rejecting Him when I have difficulty understanding His words. With the grace of the Holy Spirit, I will strengthen my faith in Jesus.

Like Peter, I also say to Jesus: "You are the Son of the living God."(Jn. 6, 69) I trust in You!

Peace of Christ!

Dominic Quang Hoang, a Christian.

-----------------------------------

 
SỐNG VÀ CHIA SẺ LC - THÁNH CA TIN MỪNG PDF Print E-mail

ly hoang

THÁNH CA TIN MỪNG - CN4PS-A

Sat, May 2 at 11:19 AM
Kinh chuc Quy Cha, Quy Thay, Quy Soeurs, Quy AnhChi va GiaDinh cuoi tuan VuiVe - BinhAn. HXLy.

"Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng và thông truyền Ơn Cứu Độ", đó là tựa đề Sứ Điệp của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gởi đến cộng đoàn chúng ta trong ngày Lễ Chúa Nhật Chúa Chiên Lành cũng là Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ.


"Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng và thông truyền Ơn Cứu Độ". Vậy là chúng ta đều có một ơn gọi chung. Dù sống đời sống vợ chồng hay chịu chức thánh, linh mục hay tu sĩ, tất cả đều được Thiên Chúa chọn để công bố Tin Mừng và chuyển thông ơn Cứu Độ. Đây không phải là một trách vụ đơn độc, riêng lẻ mà là trách vụ chung của Giáo Hội (x. LBTM. 60). Đó là ơn gọi chung của Giáo Hội. Cùng với ơn gọi chung ấy, còn có ơn gọi đặc biệt với những trách nhiệm riêng biệt trong Giáo Hội. Đó là những ơn gọi tiến đến tác vụ linh mục, ơn gọi đời sống thánh hiến của các tu sĩ nam nữ hoạt động thừa sai và đời sống chiêm niệm.
Trong sứ điệp này, Đức Thánh Cha đặt trọng tâm của ơn gọi linh mục, tu sĩ, vào đời sống của cộng đoàn Kitô hữu. Vì "cũng như hạt giống trổ sinh dồi dào hoa trái nơi mảnh đất tốt thế nào thì ơn gọi cũng tăng triển và trưởng thành trong cộng đoàn Kitô hữu như vậy". Chúng ta phải khởi đi từ các cộng đoàn để chuẩn bị cho một mảnh đất phì nhiêu, cho hạt giống ơn gọi nẩy mầm, trổ sinh hoa trái. Vì chỉ có các cộng đoàn Kitô hữu sống động mới có thể làm nẩy sinh các ơn gọi, vun trồng, chăm sóc các ơn gọi và làm cho các ơn gọi phát triển, như một người mẹ hằng lưu tâm đến hạnh phúc, đến sự tăng trưởng của các con cái mình. Vì thế, tác nhân chủ động và tiên phong trong việc cổ võ ơn gọi chính là cộng đoàn Giáo Hội: từ Giáo Hội toàn cầu cho tới Giáo Hội địa phương, cũng như từ Giáo Hội địa phương cho tới từng giáo xứ và từng thành phần Dân Chúa (x. Tông huấn Các Mục Tử, số 41).

Trước những thách đố của thế giới hiện đại, cần phải có nhiều lòng dũng cảm sống Tin Mừng hơn nữa, để dám dấn thân cổ võ ơn gọi; như Đức Kitô đã kêu mời hãy cầu xin không ngừng để có những thợ làm vườn nho, cho Nước Chúa được lan rộng khắp nơi (x. Mt 9,37-38). Hơn lúc nào hết, ngày nay cần phải làm cho mọi thành phần Dân Chúa nhận biết và xác tín rằng: tất cả mọi thành phần trong Giáo Hội, không trừ một ai, đều có ân sủng và trách nhiệm chăm sóc các ơn gọi (x. Tông huấn Các Mục Tử, số 41). Đức Thánh Cha kêu gọi các cộng đoàn giáo phận và giáo xứ phải dấn thân chăm sóc cho ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến, đặc biệt bằng việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện và phục vụ người nghèo.
Cộng đoàn phải biết lắng nghe Lời Chúa để nhận ra ánh sáng hướng dẫn tâm hồn con người. Khi Kinh Thánh trở thành sách của cộng đoàn, chúng ta sẽ dễ dàng nghe và hiểu được tiếng nói của Chúa. Đấng kêu gọi chúng ta. Hơn nữa, cộng đoàn phải biết khẩn khoản cầu nguyện để có thể thực hiện được ý định của Thiên Chúa. việc cầu nguyện mang lại sức mạnh giúp ta đón nhận cách tích cực lời mời gọi của Chúa, để dấn thân phục vụ đời sống tinh thần và vật chất của anh em. Cộng đoàn cũng phải nhạy cảm trước sứ mạng truyền giáo để đem ơn Cứu Độ đến cho những người chưa nhận biết Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại.

Nếu cộng đoàn hết lòng sống mệnh lệnh của Đức Kitô: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28,19) chắc chắn cộng đoàn đó sẽ không thiếu những người trẻ quảng đại muốn dâng hiến đời mình để đảm nhận trách vụ loan báo Tin Mừng cho con người thời đại. Cuối cùng, cộng đoàn phải biết mở ra cho việc phục vụ người nghèo. Một mẫu sống khiêm tốn và từ bỏ, thẳng thắn chọn lựa đứng về phía những người nghèo, dấn thân trợ giúp những anh chị em túng thiếu và đau khổ. Những điều đó góp phần tạo nên một môi trường thuận lợi cho ơn gọi nảy sinh, vì phục vụ Tình Yêu là ý nghĩa nền tảng của mọi ơn gọi.

Trong phần cuối sứ điệp, một lần nữa, Đức Thánh Cha lại kêu gọi các giám mục, các linh mục Dòng cũng như Triều, các giáo lý viên và các bạn trẻ phải ý thức trách nhiệm chăm sóc mục vụ ơn gọi trong cộng đoàn Giáo Hội: Khi làm cho cộng đoàn Giáo Hội sinh động, các linh mục có thể khơi dậy các ơn gọi, cổ võ các thiếu niên nam cũng như nữ được Thiên Chúa kêu gọi, hướng dẫn các em qua những hướng dẫn tinh thần và cuộc sống vui tươi phục vụ anh em.
"Cha muốn nói với các con, các con thân mến, cha trìu mến lập lại những lời này với các con: Hãy quảng đại hiến cuộc đời mình cho Đức Kitô. Đừng sợ hãi! Các con không có gì phải sợ, vì Thiên Chúa là Chúa của lịch sử và của vũ trụ. Hãy để những khát vọng về những kế hoạch vĩ đại và cao thượng lớn lên trong các con. Hãy nuôi dưỡng cảm thức về tình liên đới: đó là dấu chỉ Thiên Chúa hành động nơi tâm hồn của các con. Hãy sẵn sàng sử dụng các tài năng mà Đấng Quan Phòng đã trao ban cho các con, vì cộng đoàn của các con. Các con càng sẵn sàng dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa và tha nhân, các con sẽ càng khám phá ra ý nghĩa đích thực của đời sống. Thiên Chúa mong đợi nhiều nơi các con!".

Kết thúc nội dung tóm lược sứ điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi bằng một lời nguyện của Đức Thánh Cha: "Lạy Chúa, xin gởi cho chúng con những người hướng dẫn tinh thần mà cộng đoàn chúng con đang cần: những linh mục thực sự của một Thiên Chúa sống động, những người được ánh sáng Lời Ngài soi chiếu, để có thể nói về Ngài và dạy người khác nói với Ngài. Xin hãy làm cho Giáo Hội của Ngài lớn mạnh nhờ sự phát triển của những con người thánh hiến, những người dâng hiến tất cả cho Ngài để Ngài cứu độ tất cả mọi người". Amen.

" Hail, star of the sea,
Nurturing Mother of God,
And ever Virgin
Happy gate of Heaven."

----------------------------------------------

 
ĐÀ0 TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH GIUSE - 01-5-2020 PDF Print E-mail

Hong Nguyen

Suy niệm Lời Chúa ngày 1.5.2020
Lễ Thánh Giuse Lao Công

TIN MỪNG : Ga 6, 60-69

THÁNH GIUSE MẪU GƯƠNG LAO ĐỘNG

Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta tôn trọng giá trị của lao động, đặc biệt là lao động tay chân. Lao động cũng là để diễn tả niềm tin vào Chúa khi cộng tác trong công trình của Thiên Chúa để làm ra những của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống con người.

Chính trong lao động, con người cũng xây dựng nên gia đình, xã hội ấm êm hạnh phúc bằng những hy sinh vất vả, mồ hôi nước mắt, công sức của mình. Và lao động cũng góp phần làm cho mọi người đến gần với Thiên Chúa, đến gần nhau hơn qua việc yêu thương, chia sẻ bác ái với người khác.

Thánh Giuse là gương mẫu của người lao động. Ngài còn là vị Giám hộ của những người làm việc chân tay. Và Ngài là vị Giám hộ đắc lực nhất, như lời Đức Thánh Cha Pi-ô XII nói: "Không có vị Giám hộ nào có đủ khả năng linh nghiệm truyền thông Tin Mừng cho đời sống thợ thuyền bằng thánh Giuse thợ."

Trong bài giảng vào lễ Thánh Giuse năm 1969, Đức Thánh Cha Phaolô VI nói rằng: khi suy niệm về Thánh Giuse, ta tưởng chừng như thiếu chất liệu khai thác. Tin Mừng Phúc Âm không ghi lại lời nào của Ngài, ngoại trừ vài ghi nhận: Ngài hoàn toàn yên lặng và lắng nghe tiếng Chúa qua những giấc mơ. Ngài mau mắn thi hành ý Chúa. Ngài chuyên chăm làm việc tay chân cách cần mẫn, khiến người đời chỉ biết về Chúa Kitô là con bác phó mộc. Tất cả chỉ vỏn vẹn có thế, và có thể nói: cuộc đời Thánh Giuse là một cuộc đời ẩn dật, lao công lam lũ, một đời bình thường không chút danh giá.

Và ta thấy Đức Thánh Cha Phaolô VI nhấn mạnh, nếu chúng ta tìm hiểu sâu xa hơn cuộc đời ẩn dật của Thánh Giuse, chúng ta sẽ thấy một cuộc đời đầy nhân đức và công nghiệp, đầy hạnh phúc và đau khổ, đầy hy sinh và ơn thánh. Thánh Giuse đã dấn thân và đón nhận mọi gánh nặng gia đình. Ngài chỉ nghĩ đến phục vụ, chỉ biết làm việc và hy sinh trong khung cảnh thầm kín mà Phúc Âm đã diễn tả: mái ấm Nazareth với trẻ Giêsu và Đức Maria. Ngài thực đáng được ca ngợi là người diễm phúc và cực tốt lành.

Như chúng ta biết, thánh Giuse được Chúa chọn làm cha nuôi Chúa Giêsu, khi Người sinh ra làm người để cứu độ nhân loại. Thánh nhân là người công chính, luôn tuân hành thánh ý Chúa, sẵn sàng vâng nghe và làm theo lời Chúa dạy. Ngài tận tâm bảo vệ Đức Mẹ, nhiệt thành cộng tác với Mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc Chúa Giêsu. Để chu toàn sứ mệnh đó, Ngài làm nghề thợ mộc vất vả hằng ngày, Ngài lấy sức lao động của mình bảo đảm cuộc sống hằng ngày của Thánh gia.

Ngài là gương mẫu cho mọi người sống nghề lao động chân tay và cách riêng cho các Kitô hữu: lương thiện, cần mẫn, siêng năng làm việc lo cho gia đình. Chẳng những lo cho gia đình mà còn phát triển xã hội và tôn vinh Chúa, vì theo thánh công đồng Vaticanô II: "Đối với các tín hữu, chỉ có một điều chắc chắn là: hoạt động cá nhân cũng như tập thể của nhân loại, các nỗ lực vĩ đại của con người vất vả qua các thế kỷ là nhằm cải thiện hoàn cảnh sinh sống. Việc này tự nó phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

Hôm nay Chúa Giêsu trở về quê hương Nazareth và vào giảng dạy trong hội đường. "Sự khôn ngoan và quyền làm phép lạ" của Ngài đã khiến cho những người đồng hương phải ngạc nhiên. Nhưng sự ngạc nhiên này không dẫn họ đến đức tin, bởi còn một chướng ngại ngăn cản, đó là xuất thân của Người: "Ông không phải là con bác thợ sao?..." cho nên người ta không tin Ngài là Đấng Mêsia. Tuy vậy, chính trong môi trường gia đình lao động nơi làng quê nghèo là nơi mà Thiên Chúa đã chọn để tỏ mình ra và thực hiện việc cứu độ.

Tưởng chừng như biết quá rõ xuất thân của Chúa Giêsu và cho rằng Ngài chỉ là một ông thợ thủ công con bác thợ mộc Giuse quê mùa nên dân làng Nadarét đã không tin vào Chúa. Đến như các môn đệ là những người đã theo sát Chúa Giêsu, sống với Người, nghe Người giảng dạy và chứng kiến những phép lạ Chúa làm nhưng vẫn không tin vào Chúa bởi vì họ thấy Chúa Giêsu chịu treo trên cây thập tự. Ngày hôm nay, giữa bao khó khăn, nghi ngại của cuộc sống, có nhiều người cũng dần xa rời đức tin vào Chúa, thậm chí là mất đức tin. Vậy chúng ta phải suy nghĩ sao đây về niềm tin của mỗi người vào Chúa?

Thái độ của những người đồng hương với Chúa cho con nhận ra được con người khiêm nhu, cần cù lao động của Chúa khi còn ở quê nhà. Thánh Giuse, một bác thợ mộc chẳng lấy gì là khấm khá, chắc chỉ là đủ ăn. Ngài đã cùng với Chúa Giêsu lao động bằng chính đôi bàn tay và sức lực của mình để sinh sống và giúp đỡ người khác. Chúa Giêsu hẳn cũng đã thường xuyên góp sức với người cha nuôi của mình để chia sẻ cõi người trong cuộc sống. Chúa hẳn đã nhận ra Thánh ý của Thiên Chúa Cha, Đấng tạo thành vũ trụ khi tạo dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa và chúc phúc cho con người tiếp tục công trình sáng tạo, là "Hãy làm chủ trái đất này cùng với mọi lòai chim muông, cầm thú và mọi sinh vật".

Thánh Giuse đã được soi lòng mở trí, đã được sự khôn ngoan, để biết cách bảo vệ Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria đúng cách mà Chúa muốn. Cuộc đời thánh Giuse, cho thấy ơn gọi của Ngài là một hành trình dài. Ơn gọi đó đã phát xuất từ chính Thiên Chúa. Thánh Giuse không bao giờ đã vận động cho mình ơn gọi đó. Ngài cũng chẳng bao giờ ham muốn được ơn gọi đó. Chúa gọi, và Ngài đã xin vâng.

Hôm nay thánh Giuse vẫn sống động trong Hội Thánh. Đối với Giáo Hội Việt Nam, không những Ngài là Quan thầy phù trợ, mà còn là vị hiền phụ thân thương gần gũi đang chia sẻ cuộc đời chúng ta. Một cuộc đời với nhiều lo toan, với nhiều trắc trở, với nhiều ước mơ và phấn đấu. Chúng con đây, những người chọn lựa con đường của Thánh Giuse đã đi, là muốn sống âm thầm, góp phần mình vào việc xây dựng một Giáo hội tại gia, trong đó mỗi thành phần vợ, chồng, con cái noi gương Thánh gia Thất mong muốn sống chan hòa trong khu xóm, xứ đạo; mong muốn giúp đỡ lẫn nhau, nhận ra nhau trong cuộc sống. Không ngại mình là dòng dõi của bác thợ mộc Giuse, là anh chị em với con một người thợ là Giêsu, chỉ với một niềm tin Chúa sẽ thực hiện nơi chúng con điều Người muốn.

Thánh Giuse chính là tiêu chuẩn Phúc Âm, mà Chúa Giêsu - sau khi rời bỏ xưởng thợ Nazareth - đã rao giảng. Thánh Giuse là gương mẫu của lớp người khiêm hạ mà Kitô giáo đã phát hiện ra như những sự cả thể lớn lao.

Chính nơi Thánh Giuse, ta nhìn thấy những giá trị đích thực của đời sống con người, khác hẳn cách người đời thường thẩm định. Ở đây, cái nhỏ bé trở nên lớn lao. Ở đây, cái hèn hạ lại có địa vị xứng đáng trong xã hội. Ở đây, những kết quả lao công tầm thường và khó nhọc, lại trở nên hữu dụng cho công việc giảng dạy của Đấng Tạo Thành. Ở đây, những gì bị mất vì yêu Chúa thì lại tìm thấy, những gì hy sinh cho Chúa thì lại được nên dồi dào.

Và rồi ngày mỗi ngày ta cố gắng và siêng năng làm việc, để giúp ích cho gia đình, xã hội, theo gương thánh Giuse, và chuyên cần kêu xin thánh nhân cầu thay nguyện giúp cho những người lao động nghèo khổ, bất hạnh.

Lm. Huệ Minh
Kính chuyển:
Hồng

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 2016